Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Vội Vàng của Xuân Diệu chi tiết nhất

115
Top 10 mẫu soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu chi tiết nhất
4.7/5 - (16 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Vội Vàng của Xuân Diệu chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 1: Soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu

Trả lời câu hỏi

Câu 1 trang 23 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

Trả lời:

Bài thơ có thể được chia thành ba đoạn:

– Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

– Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

Câu 2 trang 23 – SGK Ngữ văn 11 tập 2:

Xuân Diệu cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian?

Trả lời:

* Cảm nhận về thời gian:

– Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới, một cảm nhận mới về thời gian: thời gian vận động tuyến tính, một đi không trở lại.

* Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian vì:

– Nhà thơ yêu say đắm cuộc sống, những gì tươi trẻ nhất của cuộc sống.

– Xuân Diệu cảm nhận mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia lìa. Nên cần cuống quýt tận hưởng không những điều tươi đẹp sẽ biến mất

– Do ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời.

Câu 3 trang 23 – SGK Ngữ văn 11 tập 2:  Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

Trả lời:

  1. Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc

* 4 câu thơ đầu:

– Điệp ngữ: “Tôi muốn” kết hợp với “tắt nắng” và “buộc gió” -> Ước muốn đoạt quyền của tạo hóa, níu kéo thời gian. -> Ước muốn kì lạ, vô lý.

– Mục đích: Cho màu đừng nhạt mất, cho hương đừng bay đi. Nhà thơ muốn níu giữ những vẻ đẹp của trần thế, những hương sắc của đời.

* 9 câu thơ tiếp: Nhà thơ tìm được một thiên đường ngay trên mặt đất.

– “Tuần tháng mật, hoa đồng nội, lá cành tơ,…” -> Cõi trần tràn đầy nhựa sống mùa xuân. Hình ảnh gần gũi, đầy tình tứ mang màu sắc tình tứ, mang màu sắc rực rỡ.

– Điệp ngữ: “Này đây…này đây” -> Tạo nhịp thơ tuôn chảy ào ạt, ngôn ngữ thơ phong phú, mới lạ.

– “Yến anh…khúc tình si” ->Âm thanh réo rắt, vẻ đẹp kỳ diệu của tự nhiên, tình yêu đắm say ngây ngất.

– So sánh cuộc sống thiên nhiên như người đang yêu, như tình yêu đôi lứa đắm say, tràn trề hạnh phúc.

Quan niệm mới về cuộc sống về tuổi trẻ và hạnh phúc: Đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất và đáng để ông ở lại là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ.

Câu 4 trang 23 – SGK Ngữ văn 11 tập 2:  Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu của đoạn thơ cuối bài. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

Trả lời:

– Hình ảnh trong đoạn thơ cuối gần gũi, quen thuộc mà tươi mới, giàu sức sống, đầy quyến rũ và tình tứ. Đó là những hình ảnh rất táo bạo, đầy cảm giác và có tính sắc dục.

– Ngôn từ của bài thơ tự nhiên, gần với lời nói thường, nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật.

– Nhịp điệu của đoạn thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

Luyện tập

Câu 1 – Luyện tập trang 23 – SGK Ngữ văn 11 tập 2:  Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

Qua phân tích bài thơ Vội vàng, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Trả lời:

– Giới thiệu quan điểm của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan.

– Nội dung nhận định: nói về lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu. Đó là “giọng yêu đời thấm thía”. Lòng yêu đời ấy, theo Vũ Ngọc Phan, xuất phát từ hai nguồn cảm hứng có quan hệ mật thiết với nhau: Tình yêu và tuổi trẻ. Dù ở tâm trạng nào, thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời ấy.

– Chứng minh qua bài thơ Vội vàng: làm rõ tình yêu và tuổi trẻ; khát vọng sống và yêu của nhà thơ trong bài thơ.

Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 2: Vội vàng Xuân Diệu soạn bài

Đọc hiểu văn bản

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn

– Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (câu 14 – 29): băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời.

– Đoạn 3 (đoạn còn lại): hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu thơ (câu 14 – 24) mang ý vị triết lí nhân sinh sâu sắc. Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm, nên mang nét riêng của Xuân Diệu rất rõ.

a) Thời gian và mùa xuân

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân đã già,

Xuân Diệu viết bài thơ này khi mới ngoài hai mươi tuổi, nghĩa là còn rất trẻ. Người trai trẻ ấy nghĩ về mùa xuân như vậy, mới biết sức tàn phá của thời gian như thế nào, và thi nhân “sợ” thời gian trôi nhanh ra sao! Ở cái tuổi ấy, có lẽ ít người nghĩ thế, và nhất là viết như thế để giãi bày lòng mình trong thơ. Hai câu trên là đối lập (đương tới / đương qua, còn non / sẽ già) để đi đến một kết luận khẳng định về sự đồng nhất giữa mùa xuân và tác giả (con người):

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Mùa xuân trôi đi thì cuộc đời con người cũng chấm hết. Cảm thức về sự tàn phá của thời gian thật mạnh và sâu, được nâng lên như một triết lí nhân sinh của Xuân Diệu. Một con người bình thường không thể nghĩ về thời gian, không gian “sợ” thời gian trôi nhanh đến mức như thế. Hẳn là trong ông có chứa chất bi kịch của nhà thơ lãng mạn trong thân phận một thi nhân mất nước lúc bấy giờ, hay chính vì ông quá yêu cuộc sống nồng nhiệt và say đắm mà “sợ” thời gian cướp mất mùa xuân của mình.

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu ở đây, thực ra, suy cho cùng, cũng chính là hệ quả tất yếu phải có của lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông.

b) Thời gian và tuổi trẻ

Thời gian cướp đi mùa xuân cũng có nghĩa là cướp mất tuổi trẻ của nhà thơ. Đây chính là nỗi xót đau và lo lắng nhất của Xuân Diệu. Bởi chính ông là con người trân trọng tuổi trẻ nhất và lo sợ thời gian trôi nhanh thì tuồi trẻ sẽ không còn nữa. Điều đó được ông bộc lộ thật chân thành, tha thiết:

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Làm sao cuộc đời con người lại có hai lần “tuổi trẻ”? Và khi thời gian đã trôi nhanh thì liệu tuổi trẻ có còn? Như vậy, “xuân vẫn tuần hoàn” thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì khi tuổi trẻ đã hết? Với Xuân Diệu, cái quý nhất cua đời người là tuổi trẻ, tuổi trẻ là đẹp nhất, cuộc sống thời tuổi trẻ là hạnh phúc nhất, đáng sống nhất. Và điều ông lo sợ nhât là mất đi cái thời quý giá ấy của cuộc sống con người. Nếu không còn tuổi trẻ thì cuộc sống con người cùng chẳng còn ý nghĩa:

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt …

Qua cảm nhận về thời gian – cũng là qua nỗi băn khoăn của Xuân Diệu trước cuộc đời, ta thấy hiện lên cái đẹp nhất, hấp dẫn nhất trên cõi đời mà nhà thơ khao khát. Đó là tình yêu mùa xuân, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc đời tha thiết như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộc đời.

Câu 3: Chính vì yêu tha thiết cuộc sống đời thường quanh mình, Xuân Diệu đã phát hiện ra trong cuộc sống đó những nét đẹp thật tinh tế,đáng yêu, giàu chất thơ như đã phân tích trên đây.

– Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, có nhiều hạnh phúc nhất của cuộc đời một con người (xem phân tích câu 2).

– Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa (hoặc ở một cõi khác) mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta, là sự sống quen thuộc của trần thế. Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc; được sống trong một “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”… Vì vậy, phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng những ý tưởng thật táo bạo:

Tôi muốn tắt nắng di

Cho màu đừng nhạt, mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương dừng bay đi.

Và chính vì thế, nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, của mùa xuân như nhan đề bài thơ mà ông đã bày tỏ nỗi lòng.

Câu 4: Đoạn cuối bài thơ:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Hởi Xuân Hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

– Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn.

– Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: điệp cú pháp; điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết … Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê …).

=> Nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

Luyện tập

– Câu nói của Vũ Ngọc Phan là một nhận định chung, mang tính khái quát về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu. Nhận định đó có hai ý:

Thơ Xuân Diệu có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

– Cần vận dụng câu nói đó vào trường hợp bài thơ Vội vàng của ông, có nghĩa là phân tích bài thơ đế làm sáng tỏ nhận định của Vũ Ngọc Phan. Cách vận dụng như sau:

  • Trong bài Vội vàng, ý “yêu đương” chưa rõ, cần khai thác cảm hứng “tuổi xuân” (tức tuổi trẻ) để làm bài.
  • Chứng minh rằng, với cảm hứng “tuổi xuân” lúc nào Xuân Diệu cũng là thanh niên với giọng yêu đời thắm thiết. Cụ thể là:
  • Lúc vui: đoạn 1 và đoạn 3 đều ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết (chứng minh qua bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống con người; qua sự cuồng nhiệt, hối hả, vội vàng của nhà thơ đến với cuộc sống để “ôm” cuộc sống ấy vào lòng mà tận hưởng).
  • Lúc buồn: đoạn 2: Ngay cả khi lo sợ thời gian trôi nhanh cướp mất tuổi xuân của mình, nhà thơ băn khoăn lo lắng, nhưng trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình bằng những câu thơ tha thiết với tuổi trẻ và mùa xuân như muốn níu kéo tuổi xuân ở mãi với mình.
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 3: Soạn văn bài Vội Vàng

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

  •   Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.
  •   Đoạn 2 (câu 14 – 29): tâm trạng băn khoăn của tác giả trước giới hạn của cuộc đời.
  •   Đoạn 3 (đoạn còn lại): lời giục giã hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2: Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian:

  • Thời gian gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
  • Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự thay đổi nhanh chóng của thời gian vì:
  •   Thời gian tuyến tính, thời gian trôi qua rất nhanh và như một dòng chảy xuyên suốt không bao giờ trở lại
  •   Tác giả thể hiện tình yêu với mùa xuân, tuổi trẻ, cuộc đời
  •   Tác giả yêu tha thiết cuộc sống này nên thời gian trôi qua nhanh làm tác giả vô cùng luyến tiếc.

Câu 3: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được cảm nhận:

  •   Quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta.
  •   Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc.
  •   Phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng những ý tưởng thật táo bạo.
  • Nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc:
  •   Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ, xem đó là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất
  •   Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của đời ng nếu đã trôi qua đi thì mất đi vĩnh viễn
  •   Hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

Câu 4: Trong đoạn thơ cuối này, hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn, Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng, Nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

Luyện tập

Câu 1: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

Câu nói của Vũ Ngọc Phan là một nhận định chung, mang tính khái quát về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu. Nhận định đó có hai ý

  •   Thơ Xuân Diệu có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.
  •   Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía

=> Lúc vui bằng giọng yêu đời thắm thiết, Lúc buồn trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình.

Câu 2: Giá trị nội dung:

  •   Lời giục giã thế hệ trẻ sống vội vàng, sống cuống quít để hưởng thụ hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời
  •   Thế hiện lòng ham sống mãnh liệt của cái tôi Xuân Diệu rất hiện đại cùng với một quan niệm sống mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc
  •   Khao khát sống mãnh liệt và một tâm thế chủ động, sẵn sàng hưởng thụ, sẵn sàn đến với hạnh phúc của mình

Giá trị nghệ thuật:

Cách liên tưởng, so sánh mới lạ với những hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi cảm, gợi hình

  Thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Một loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quít, hối hả, rộn rã

Số 4: Soạn văn 11 Vội Vàng ngắn nhất

Trả lời câu hỏi

Câu 1: Bố cục

– Chia làm 3 đoạn:

+ Đoạn 1: Từ đầu… mới hoài xuân (13 câu đầu) -> Tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.

+ Đoạn 2: Xuân đương tới…Chẳng bao giờ nữa…(16 câu tiếp theo) -> Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.

+ Đoạn 3: Còn lại -> Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả.

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu thơ (câu 14 – 24), được thể hiện như sau: Tác giả nhận thức về thời gian trôi chảy, lấy tuổi trẻ, khoảng ngắn ngủi nhất của cuộc đời, để đo thời gian. Điều ấy dẫn đến cách cảm nhận về thời gian tinh tế trong đoạn thơ.

– “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”

+ Thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Tác giả có một sự cảm nhận đầy tính mất mát.

+ Nghệ thuật tương phản: (đương tới >< đương qua, non >< già, rộng >< chật).

Một hệ thống tương phản để khẳng định một chân lý: tuổi xuân không bao giờ trở lại, phải biết quý trọng tuổi xuân. Cái đẹp của thiên nhiên là mùa xuân, cái đẹp của con người là tuổi trẻ. Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của đời ng nếu đã trôi qua đi thì mất đi vĩnh viễn, chẳng bao giờ thắm lại. Sức tàn phá của thời gian làm con người ta luôn thấy hụt hẫng, tiếc nuối và lo sợ. Thời gian kiểu gì cũng sẽ trôi và theo vòng tuần hoàn còn con người phải chứng kiến cảnh tượng đấy, thật là đau lòng.

– “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Mùa xuân qua đi cũng là lúc mà thời gian đã chạy cách rất xa so với chúng ta. Cảm thức về thời gian của tác giả như ngày càng dồn dập hơn, càng có sức tàn phá tâm hồn của con người hơn. Tuổi xuân qua đi có lẽ là điều xót xa lớn nhất trong lòng tác giả. Mùa xuân cũng như tuổi trẻ. Nhưng mùa xuân còn có vòng tuần hoàn, còn tuổi trẻ của con người thì một khi đã trôi qua rồi thì không bao giờ lấy lại được. Tất cả lúc này chỉ còn trong hư vô, trong ảo tưởng và hoài niệm. Từ đó cho thấy ý thức về thời gian trong lòng tác giả ra sao. Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu ở đây, thực ra, suy cho cùng, cũng chính là hệ quả tất yếu phải có của lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông.

-> Nghich lí nhưng cũng là quy luật tất yếu.

– “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”

Thời gian qua đi, tuổi trẻ cũng qua rồi, điều đó để lại nỗi đau sâu sắc trong lòng tác giả. Bởi với Xuân Diệu, với một tâm hồn người thi sĩ luôn bay bổng, luôn muôn cống hiến thì những gì mà tác giả khát khao sống ở đời là vô tận. Với ông, thời gian có nhiều bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng chưa chắc đủ để ông thực hiện những mong ước, ước nguyện cống hiến của mình cho cuộc sống.

+Nhà thơ yêu say đắm cuộc sống.

+Từ láy “bâng khuâng” -> Sự nuối tiếc vì những tháng năm tuổi trẻ trôi qua nhanh chóng

– “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi…tiễn biệt”

Nhân hóa, cảm nhận bằng mọi giác quan, mỗi khắc trôi qua là một sự mất mát.

=>Mỗi sự vật đang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó cùng với sự ra đi của thời gian là sự phôi pha, phai tàn của từng cá thể. Trong tác giả luôn hiện hữu một tình yêu da diết với mùa xuân, với tuổi trẻ và với cuộc đời. Nó kiến tác giả như như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộc đời.

Câu 3: Tác giả đã có những cảm nhận hết sức sâu sắc với thiên nhiên, với sự sống.

Bốn câu thơ đầu tiên đã diễn tả tình yêu tha thiết đối với cuộc sống qua việc ông miêu tả những hình ảnh thiên nhiên.

*4 câu thơ đầu:

– Điệp ngữ: “Tôi muốn” kết hợp với “tắt nắng” và “buộc gió” -> Ước muốn đoạt quyền của tạo hóa, níu kéo thời gian.

– “Nắng”, “gió”: yếu tố tự nhiên, con người không điều chỉnh được -> Ước muốn kì lạ, vô lý.

– Mục đích: Cho màu đừng nhạt mất, cho hương đừng bay đi.

=> Ước muốn không tưởng xuất phát từ tình yêu tha thiết với cuộc sống. Đó là ý tưởng vô cùng táo bạo của nhà thơ để giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống.

*9 câu thơ tiếp: Nhà thơ tìm được một thiên đường ngay trên mặt đất. Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó ở ngaybên canh, tồn tại ở xung quanh ta, là sự sống quen thuộc của trần thế. Hạnh phúc khi được tận hưởng để cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc…

– “Tuần tháng mật, hoa đồng nội, lá cành tơ,…” -> Cõi trần tràn đầy nhựa sống mùa xuân.

– Điệp ngữ: “Này đây…này đây” -> Tạo nhịp thơ tuôn chảy ào ạt, ngôn ngữ thơ phong phú, mới lạ.

– “Ong bướm…tuần tháng mật, hoa đồng nội xanh rì, lá cành tơ phơ phất” -> Hình ảnh gần gũi, đầy tình tứ mang màu sắc tình tứ, mang màu sắc rực rỡ.

– “Yến anh…khúc tình si” ->Âm thanh réo rắt, vẻ đẹp kỳ diệu của tự nhiên, tình yêu đắm say ngây ngất.

-> Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần tiên.

– Nhịp thơ nhanh, gấp biểu hiện hơi thở sống, nhịp điệu sống, nhịp tim, nhịp thở phật phồng.

– So sánh cuộc sống thiên nhiên như người đang yêu, như tình yêu đôi lứa đắm say, tràn trề hạnh phúc.

=> Tác giả cảm nhận thiên nhiên qua lăng kính tình yêu, cảnh vật đều nhuốm màu tình tứ. Mọi thứ của thiên nhiên đều mang trong mình những nét đẹp riêng, đều quyến rũ vô cùng. Chúng như đang “bỏ bùa” vào tiềm thức của tác giả.

– Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

->  So sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạo. Gợi cảm giác liên tưởng, tưởng tượng rất mạnh về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc tuổi trẻ. Tác giả diễn đạt hình ảnh hết sức độc đáo. Nó vừa gợi hình, vừa gợi tính chất (thơm ngon và ngọt ngào). Cái đẹp của con người đã trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của tự nhiên.

=> Từ đó cho thấy quan niệm mới về cuộc sống về tuổi trẻ và hạnh phúc.

– Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, có nhiều hạnh phúc nhất của cuộc đời một con người. Với Xuân Diệu không gì bằng tuổi trẻ. Có tuổi trẻ, có tuổi xuân, tác giả như có tất cả. Từ đó cho thấy một khát kháo cống hiến cho đời vô cùng mãnh liệt từ chính tâm hồn của tác giả. Ông sợ thời gian đi mất sẽ cuốn theo hết những dự định, mơ ước của mình.Và chính vì thế, nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, của mùa xuân như nhan đề bài thơ mà ông đã bày tỏ nỗi lòng.

Câu 4: Đoạn cuối của bài thơ:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Hỡi Xuân Hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Đó là lời giúc giã sống vội vàng, cuống quýt của thi sĩ.

– Điệp ngữ “Ta muốn”: khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được yêu thương: “Ta muốn say cánh bướm với tình yêu”; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết … Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê …).

– Liệt kê: hình ảnh “mây, gió, cánh bướm, non nước, cây, cỏ,…” cảm nhận về không gian của cuộc sống mới mơn mởn, đầy ánh sáng rất đáng yêu. Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

– Cảm nhận về mùi vị “thơm” hương cuộc sống. Thính giác cảm nhận “thanh sắc của thời tươi”, “Cái hôn”,“cắn” ->Cảm giác mãnh hệt, vồ vập, yêu thương

– “Ta muốn ôm ->riết -> say -> thâu -> cắn”: các động từ, tăng tiến thể hiện sự vồ vập, đắm say -> tình yêu mãnh liệt táo bạo của một cái “tôi” thi sĩ yêu cuộc sống cuồng nhiệt, tha thiết với mềm vui trần thế, tâm thế sống tích cực.

=> Không thể níu giữ thời gian, không thể sống hai lần tuổi trẻ nên thi nhân vội vàng cuống quýt nỗi khát khao. Nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả. Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

Luyện tập

Câu nói của nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã tổng kết chung nhất là quan niệm sáng tác cũng như nghệ thuật của Xuân Diệu.

+ Thơ Xuân Diệu mang đến hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

+ Trong mọi hoàn cảnh tâm lí, tâm trạng thì Xuân Diệu cũng đều thể niệm một nỗi niềm yêu đời tha thiết: “Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

=> Bài thơ “Vội Vàng” cũng là một phần minh chứng cho nhận định trên.

– Triết lí sống vội vàng mà Xuân Diệu thể hiện trong Tác phẩm:

+ Phải vội vàng tận hưởng hạnh phúc và niềm vui mà cuộc đời ban tặng cho con người. Thời gian cứ vô tình trôi đi mà không đợi chờ ai bao giờ cả.

+ Phải vội vàng thâu nhận những vẻ đẹp của sự sống vì cái đẹp cũng giống như tuổi trẻ sẽ qua đi rất nhanh, không bao giờ trở lại.

+ Phải vội vàng lên, phát huy mọi giác quan để cảm nhận cuộc đời, để nhận gấp nhiều lần sự sống. Vội vàng là để làm cho cuộc sống thật phong phú, chất lượng chứ không phải là sống gấp.

Nó được thể hiện rõ nhất trong đoạn 2, trong những cảm thức cảm thức về thời gian vô cùng nhạy bén của tác giả.

* Quan niệm sống của Xuân Diệu

– Xuân Diệu đã thể hiện 1 quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn về cuộc đời, về tuổi trẻ, về hạnh phúc.

+ Đối với Xuân Diệu: thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người. Họ được sống giữa tuổi trẻ và tình yêu.

+ Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là Tình yêu.

+ Biết hưởng thụ chính đáng những gì mà cuộc sống dành cho mình, hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ.

– Với cảm hứng về “tuổi xuân” lúc nào Xuân Diệu cũng là thanh niên với giọng yêu đời thắm thiết.

+ Đoạn1 và đoạn 3 đều ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết: qua bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống con người; qua sự cuồng nhiệt, hối hả, vội vàng của nhà thơ đến với cuộc sống để “ôm” cuộc sống ấy vào lòng mà tận hưởng. Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên qua lăng kính của Tình yêu, qua cặp mắt của tuổi trẻ -> cảnh vật đều nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình.

+ Đoạn 2 chính là những nỗi buồn của tác giản khi mà phải đứng nhìn thời gian qua đi, tuổi xuân cũng vi thế mà trôi đi mất. Chính vì vậy mà tác giả băn khăn, lo lắng và hụt hẫng vô cùng. Tuy nhiên trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình bằng những câu thơ thê hiện sự tha thiết với tuổi trẻ và mùa xuân như muốn níu kéo tuổi xuân ở mãi với mình. Đó là sự khát khao được cống hiến cho đời, cho cuộc sống nơi tác giả.

Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 5: Soạn bài Vội Vàng ngắn nhất

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

Bài thơ chia thành 3 phần :

– Đoạn 1 ( 13 câu thơ đầu ) : Bộc lộ tình yêu đời sống trần gian tha thiết .

– Đoạn 2 ( câu 14 tới câu 29 ) : Thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người và thời hạn .

– Đoạn 3 ( còn lại ) : Giục giã nôn nả, vội vàng để tận thưởng tuổi trẻ và cuộc sống .

Câu 2 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

– Tác giả cảm nhận thời hạn tự nhiên, thời hạn khách quan muôn đời vẫn như vậy. Nhưng ý niệm về thời hạn, cảm nhận về thời hạn thì mỗi thời đại, mỗi con người lại khác nhau. Cảm nhận thời hạn trải qua lăng kính của Xuân Diệu mang nhiều triết lý nhân sinh thâm thúy .

– Thời gian của thi nhân gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một tình nhân đời sống tha thiết, đắm say, nên mang nét riêng không liên quan gì đến nhau của Xuân Diệu : Thời gian và mùa xuân .

+ Người xưa ý niệm thời hạn : tuần hoàn vĩnh cửu, con người gắn chặt với hội đồng nên chết vẫn chưa là hết hẳn, vẫn cùng sống sót với trời đất .

+ Xuân Diệu có quan điểm ngược lại, thời hạn tuyến tính, một đi không trở lại .

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

– Nhà thơ lo ngại khi ngoài hành tinh còn mãi, thời hạn vô tận mà đời người lại hữu hạn, tuổi trẻ “ chẳng hai lần thắm lại ”

– Thời gian trong cảm nhận của nhà thơ đầy nuối tiếc, mất mát, chia lìa .

→ Cách cảm nhận thời hạn là sự thức tỉnh thâm thúy “ cái tôi ” cá thể, sự sống sót có ý nghĩa mỗi cá thể trên đời nên nâng niu, trân trọng, từng khoảng thời gian ngắn của cuộc sống .

Câu 3 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

– Thiên nhiên sự sống gợi lên thân thiện, tình tứ. Nhà thơ phát hiện vẻ đẹp kì diệu của tự nhiên, và thổi vào đó tình yêu rạo rực, say đắm .

+ Này đây tuần tháng mật

+ Đồng nội xanh rì

+ Cành tơ phơ phất

+ Khúc tình si…

– Thiên nhiên nhuốm màu chia li, mất mát mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi → hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống qua lăng kính thời gian trôi nhanh chóng, không bao giờ trở lại.

– Tác giả nhìn vạn vật thiên nhiên qua lăng kính tuổi trẻ, tình yêu, cảnh vật nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình .

– Lấy con người làm thước đo cho vẻ đẹp của vạn vật thiên nhiên : đây là cách nhìn mới mẻ và lạ mắt, đậm chất Xuân Diệu .

– Qua đó nhà thơ bộc lộ ý niệm mới về đời sống, tuổi trẻ, niềm hạnh phúc : Thế giới đẹp nhất khi con người ở tuổi trẻ và tình yêu : niềm hạnh phúc lớn nhất của con người là tình yêu, thời hạn quý giá nhất của mỗi người là tuổi trẻ .

→ Biết tận hưởng những điều chính đáng cho đời sống dành cho mình, sống mãnh liệt, hết mình những năm tháng tuổi trẻ .

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ :

+ Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba thân thiện, quen thuộc, tươi mới, giàu sức sống, đầy tính điệu đàng, tình tứ nhưng cũng mới mẻ và lạ mắt, nâng tầm .

+ Ngôn ngữ gần với ngôn từ đời thường, được nâng lên tầng cao mới của thẩm mỹ và nghệ thuật .

+ Cảm xúc chân thành, dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến .

+ Sử dụng nhiều động từ mạnh, tăng tiến, chỉ sự đắm say mãnh liệt, nồng cháy, cộng với những danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc .

+ Nhịp điệu thơ sôi sục, quay quồng, cuồng nhiệt .

Luyện tập

Nhận định của Vũ Ngọc Phan hầu hết nói về lòng yêu đời, yêu đời sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu :

– Đó là giọng điệu thấm thía. Lòng yêu đời đó xuất phát từ hai nguồn cảm hứng mới, đó là đề tài xuyên suốt trong thơ của Xuân Diệu .

– Tác giả chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tuổi trẻ với tình yêu, giữa thời hạn với cuộc sống con người .

– Dù ở tâm trạng nào, thơ Xuân Diệu cũng thể hiện lòng yêu đời, yêu người trong thơ của mình .

– Sự quay quồng, sự khao khát sống, khao khát yêu đương đã thôi thúc nhà thơ .

Số 6: Soạn văn 11 bài Vội Vàng

Bố cục

– 3 phần

+ Đoạn 1 (Câu 1- 13): Bức tranh thiên đường nơi mặt đất

+ Đoạn 2 (Câu 14 – 29): Ý thức sâu sắc sự chảy trôi của thời gian và tiếc nuối tuổi trẻ, tình yêu

+ Đoạn 3 (Còn lại): Lời thúc giục sống vội vàng, mãnh liệt, hết mình

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (SGK /23)

– Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

+ Đoạn 1 (Câu 1- 13): Bức tranh thiên đường nơi mặt đất

+ Đoạn 2 (Câu 14 – 29): Ý thức sâu sắc sự chảy trôi của thời gian và tiếc nuối tuổi trẻ, tình yêu

+ Đoạn 3 (Còn lại): Lời thúc giục sống vội vàng, mãnh liệt, hết mình

Câu 2 (SGK/23)

– Nhà thơ quan niệm về thời gian trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại chứ không như một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại, tức nhà thơ đã lấy cá nhân con người làm thước đo chứ không dùng vũ trụ làm thước đo

– Vì thời gian của nhà thơ quan niệm gắn liền với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, mà tuổi trẻ, tình yêu thì hữu hạn trước thời gian cuộc đời vô chung vô thủy. Một khi tuổi trẻ, tình yêu của con người qua đi, tức cũng không còn ý nghĩa. Bởi vậy, nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian

Câu 3 (SGK /23)

– Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc qua lăng kính độc đáo của tác giả:

+ Cảm nhận vào những thời điểm đẹp đẽ nhất, thời điểm khởi đầu: “buổi sớm”, “tuần tháng mật”, “tháng giêng”

+ Những hình ảnh, màu sắc, âm thanh được cảm nhận luôn đẹp, tươi mới và đầy sức sống: “ong bướm”, “hoa của đồng nội xanh rì”, “lá của cành tơ”, “khúc tình si”, “ánh sáng chớp hàng mi” ⇒ những sự vật gắn với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu

– Nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ, hạnh phúc: khoảng thời gian đẹp đẽ nhất trong đời người là khoảng thời gian của tuổi trẻ và tình yêu

⇒ niềm hạnh phúc trong cuộc đời chính là được sống thật trọn vẹn với tình yêu, tuổi trẻ

Câu 4 (SGK/23)

– Hình ảnh: mây đưa, gió lượn, cánh bướm, non nước, cây, cỏ rạng, tình yêu, nụ hôn, xuân hồng… ⇒ hình ảnh quyến rũ,tươi trẻ, lãng mạn, tràn đầy sức sống

– Ngôn ngữ: động từ mạnh xuất hiện với mức độ tăng dần: ôm – riết – say – thâu – cắn …, tính từ chỉ mức độ: Chếnh choáng…đã đầy…no nê…, điệp từ : tôi muốn, và

– Nhịp thơ cuồng nhiệt và gấp gáp, nhanh, hối hả

– Hình ảnh độc đáo nhất: “Xuân hồng” – hình ảnh cảm giác như khó định hình nhưng đã bao gồm tất cả những gì tươi ngon nhất của cuộc đời, của tuổi trẻ, tình yêu

Luyện tập

– Giải thích nhận định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan:

+ Đề cập tới nguồn cảm hứng về yêu đương và tuổi trẻ của Xuân Diệu, lúc nào trong thơ ông, dù vui hay buồn, ta cũng thấy niềm khát khao mãnh liệt vào tình yêu và tuổi trẻ

+ Xuân Diệu đã nói về niềm khát khao này trong thơ chân thật và thấm thía

– Chứng minh qua Vội vàng

+ Tình yêu cuộc sống trần thế thiết tha, niềm sướng trước vẻ đẹp của sống tươi trẻ

+ Xuân Diệu nhìn nhận mối quan hệ giữa tuổi trẻ và tình yêu và bày tỏ niềm khát khao sống vội, sống gấp để tận hưởng trọn vẹn tình yêu và tuổi trẻ

+ Ngay cả khi Xuân Diệu vui sướng trước tình yêu nơi trần thế hay khi ông ngậm ngùi nhận ra tình yêu tuổi trẻ hữu hạn trước cuộc đời, vẫn không hề mất đi trong ông niềm tin yêu và khát khao mãnh liệt

+ Tâm trạng ấy phù hợp với tâm trạng của bất cứ một “người trẻ”, một “thanh niên” nào

Giá trị nội dung, nghệ thuật

Nội dung

Bài thơ là nơi bày tỏ nỗi lòng của Xuân Diệu , niềm vui sướng khi nhận ra vẻ đẹp của tình yêu và tuổi trẻ nhưng cũng đồng thời thấy được sự hữu hạn trước thời gian cuộc đời. Qua đó, ông đưa ra lời giục giã sống vội vàng, gấp gáp, hết mình với tình yêu tuổi trẻ

Nghệ thuật

+ Thơ sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, nghệ thuật nhân hóa, động từ mạnh,…

+ Kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luân lí

+ Giọng điệu sôi nổi, say mê

+ Sáng tạo ngôn từ và hình ảnh độc đáo

Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 7: Soạn bài Vội Vàng lớp 11

Trả lời câu hỏi

Câu 1. Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

– Bài thơ có thể chia làm ba đoạn.

– Nội dung chính của từng đoạn:

  • Phần 1. Từ đầu đến “ Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân ”: Tình yêu tha thiết với cuộc sống nơi trần thế.
  • Phần 2: Tiếp theo cho đến “ Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa… ”: Quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian.
  • Phần 3. Còn lại: Khát vọng sống vội vàng, tận hưởng của nhà thơ.

Câu 2. Xuân Diệu cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian?

– Xuân Diệu cảm nhận về thời gian:

  • Thời gian của tự nhiên thì luôn tuân thủ theo quy luật vận động bất biến, một đi không trở lại: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.
  • Thời gian luôn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ không thể quay lại: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn/Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.
  • Sự chảy trôi của thời gian đem đến nhiều mất mát: Vị thời gian rớm màu chia phôi, núi sông than thầm lời tiễn biệt, những cơn gió xuân vốn dạt dào đến thế cũng thều thào trong tiếng nghẹn. Tiếng vàng anh ru khúc nhạc tình cũng đành dừng lại.

– Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian vì cuộc sống quá tươi đẹp, trong khi cuộc đời lại ngắn ngủi.

Câu 3. Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

– Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả:

  • Điệp ngữ “này đây” kết hợp với các hình ảnh “ong bướm, hoa đồng nội, lá cành tơ…”: Bức tranh thiên nhiên hiện lên đầy mộng mơ và lãng mạn, vườn xuân cũng là vườn tình yêu, vườn ái ân hạnh phúc.
  • Các tính từ được sử dụng như “xanh rì”, “phơ phất” giàu sức gợi tả vẽ nên cảnh thiên nhiên mùa xuân non tơ, tràn đầy sức sống.
  • Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn ràng, mê mải trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngất ngây tận hưởng, để thi nhân tạo hóa thành tình nhân.

– Quan niệm mới của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc: Thế giới này đẹp nhất là vì có con người. Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

Câu 4. Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu của đoạn thơ cuối bài. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

– Nhận xét: Hình ảnh tràn đầy sức sống, ngôn từ trong sáng, nhịp điệu vui tươi, dồn dập.

– Hình ảnh độc đáo: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”, mùa xuân là một khái niệm trừu tượng, vốn là cái vô hình không thể cầm nắm. Nhưng “ta” lại muốn “cắn” – hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác nhằm thể hiện khát vọng tận hưởng mãnh liệt của thi nhân.

Luyện tập

Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”. Qua phân tích bài thơ “Vội vàng’’, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Số 8: Soạn văn bài Vội Vàng lớp 11

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2): Bố cục

Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

– Đoạn 1 (13 câu đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

– Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, vũ trụ.

Câu 2 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu là thời gian tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Nếu các nhà thơ trung đại, quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì với Xuân Diệu mỗi phút giây trôi qua là mất đi vĩnh viễn:

       Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

       Xuân còn non sẽ là xuân sẽ già

   Xuân Diệu lấy tuổi trẻ của mỗi người làm thước đo của thời gian. Theo nhà thơ, thời gian vũ trụ tuần hoàn nhưng tuổi trẻ thì trôi qua rất nhanh, không bao giờ trở lại:

       Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

       Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

       Không cho dài thời trẻ của nhân gian

       Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

       Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

       Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi

       Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

   Nhìn thấy sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, Xuân Diệu còn nhận thấy mỗi phút giây trôi qua là sự mất mát, chia lìa:

       Con gió xinh thì thào trong lá biếc

       Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

       Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

       Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

   Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi chảy của thời gian do ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu, trân trọng từng giây, từng phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

→ Tư tưởng nhân văn sâu sắc.

Câu 3 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình ảnh, thiên nhiên và sự sống trong bài thơ được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say:

       Của ong bướm này đây tuần tháng mật

       Này đây hoa của đồng nội xanh rì

       Này đây lá của cành tờ phơ phất

       Của yến anh này đây khúc tình si

       Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

       Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa

       Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

   Thiên nhiên qua con mắt của Xuân Diệu đều nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình. Thi sĩ đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của người thiếu nữ: “ Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”; “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

→ Đây là một cách nhìn mới của Xuân Diệu, đồng thời cũng thể hiện quan niệm mới của nhà thơ về cuộc sống, về tuổi trẻ, về hạnh phúc: Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hanh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

* Đặc điểm hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối:

– Hình ảnh quen thuộc mà tươi mới, giàu sức sống, quyến rũ.

– Cảm xúc ào ạt, tràn trề khiến Xuân Diệu sử dụng ngôn từ đặc biệt:

+ Nghệ thuật điệp cấu trúc theo lối tăng tiến: Ta muốn: ôm, riết, say, thâu, cắn.

+ Kết hợp sử dụng các động từ mạnh, danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tính từ chỉ xuân sắc.

– Nhịp điệu của bài thơ dồn dập, hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt.

* Xuân Diệu đã sử dụng các hình ảnh độc đáo, mới lạ: Mây đưa gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn nhiều, cây, cỏ rạng, mùi thơm ánh sáng, thanh sắc, thời tươi, xuân hồng… kết hợp với các động từ mạnh và tính từ chỉ xuân sắc → thể hiện lòng yêu đời, ham sống bùng lên hối hả để tận hưởng những hương vị ngọt ngào, say đắm của cuộc sống.

Luyện tập

(trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2): Trong Nhà văn hiện đại ….

– Trong đoạn 1 và đoạn 3 là tình yêu đời, ham sống vội vàng, cuống quýt bùng lên hối hả để tận hưởng những hương vị ngọt ngào, say đắm của cuộc sống.

– Đoạn 2 tập trung thể hiện quan niệm hết sức mới mẻ của nhà thơ: Với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thời gian quý giá nhất của mỗi con người là tuổi trẻ, hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Số 9: Soạn ngữ văn lớp 11 bài Vội Vàng

Câu 1: Bài thơ được viết như một dòng cảm xúc hối hả tuôn trào, nhưng vẫn tuân theo một bố cục khá rõ ràng, thể hiện mạch triết luận sâu sắc và chặt chẽ. Hãy tìm bố cục ấy?

– Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế.

– Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

– Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

Câu 2: Đọc toàn bài, anh (chị) có cảm nhận thế nào về nhạc điệu của bài thơ? Nhạc điệu ấy được tạo ra bằng những thủ pháp gì?

– Sự tổng hợp của những cảm xúc nồng nàn, hối hả; nhịp thơ sôi nổi, gấp gáp; hơi thở dạt dào…

– Thủ pháp nghệ thuật tạo ra nhạc điệu cho bài thơ: điệp cú, đảo ngữ, cách ngắt nhịp linh hoạt và có sự chuyển tiếp các thể thơ khác nhau.

Câu 3: Tác giả đã cảm nhận về thời gian như thế nào? Phân tích đoạn từ câu 14 đến câu 24 để làm nổi bật cảm nhận ấy.

– Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm, nên mang nét riêng của Xuân Diệu rất rõ.

Xuân đường tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

– Xuân Diệu ý thức rất rõ về sự tàn phá của thời gian và thi nhân sợ sự trôi nhanh của nó. Sự đối lập giữa “đương tới” và “đương qua” ⇒ để từ đó khẳng định về sự đồng nhất giữa mùa xuân và tác giả: “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”

– Thời gian cướp đi mùa xuân cũng có nghã là cướp mất tuổi trẻ của nhà thơ. Đây chính là nỗi xót đau và lo lắng của Xuân Diệu:

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thười trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

– Qua cảm nhận về thời gian – cũng là qua nỗi băn khoăn của Xuân Diệu trước cuộc đời, ta thấy hiện lên cái đẹp nhất, hấp dẫn nhất trên cõi đời mà nhà thơ khao khát. Đó là tình yêu mùa xuân, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc đời tha thiết như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộc đời.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả dất trời,

Mùa tháng năm đều rướm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Câu 4: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc quanh ta được tác giả cảm nhận và diễn tả một cách hấp dẫn như thế nào? Điều ấy thể hiện quan niệm gì của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc?

– Chính vì yêu tha thiết cuộc sống đời thường xung quanh mình, Xuân Diệu đã phát hiện ra trong cuộc sống đó những nét đẹp thật tinh tế, đáng yêu, giàu chất thơ.

– Những hình ảnh quen thuộc trong trần thế: hương đồng cỏ nội, của ong bướm, chim chóc…

Câu 5: Phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ (điệp từ, tính từ,…) trong đoạn thơ từ câu 31 đến câu 39, qua đó làm nổi bật tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu.

– Điệp từ: tác giả muốn diễn tả cảm xúc mãnh liệt của một thi sĩ. Cái tôi đã hòa vào cái ta khiến âm điệu của tâm hồn say sưa, chuếch choáng.

– Tính từ chỉ sắc xuân, trạng thái được dùng khéo léo, chuyển tải được tình yêu mãnh liệt và táo bạo của cái tôi thi sĩ.

Câu 6: Qua bài thơ có thể hình dung cái tôi của Xuân Diệu như thế nào?

– Có ý thức về giá trị sống cả thể, ý thức nhân bản, nhân văn rất cao.

– Một niềm tha thiết với cuộc sống trần thế, với niềm vui trần thế

– Một khát khao sống mãnh liệt và một tâm thế sống cuồng nhiệt.

Số 10: Soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu

Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

Bài thơ chia thành 3 phần:

– Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 ( câu 14 tới câu 29): Thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người và thời gian.

– Đoạn 3 (còn lại): Giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng tuổi trẻ và cuộc đời.

Câu 2 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

– Tác giả cảm nhận thời gian tự nhiên, thời gian khách quan muôn đời vẫn như thế. Nhưng quan niệm về thời gian, cảm nhận về thời gian thì mỗi thời đại, mỗi con người lại khác nhau. Cảm nhận thời gian thông qua lăng kính của Xuân Diệu mang nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc.

– Thời gian của thi nhân gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một người yêu cuộc sống tha thiết, đắm say, nên mang nét riêng biệt của Xuân Diệu: Thời gian và mùa xuân.

+ Người xưa quan niệm thời gian: tuần hoàn vĩnh cửu, con người gắn chặt với cộng đồng nên chết vẫn chưa là hết hẳn, vẫn cùng tồn tại với trời đất.

+ Xuân Diệu có quan điểm ngược lại, thời gian tuyến tính, một đi không trở lại.

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

– Nhà thơ lo sợ khi vũ trụ còn mãi, thời gian vô tận mà đời người lại hữu hạn, tuổi trẻ “chẳng hai lần thắm lại”

– Thời gian trong cảm nhận của nhà thơ đầy nuối tiếc, mất mát, chia lìa.

→ Cách cảm nhận thời gian là sự thức tỉnh sâu sắc “cái tôi” cá nhân, sự tồn tại có ý nghĩa mỗi cá nhân trên đời nên nâng niu, trân trọng, từng giây phút của cuộc đời.

Câu 3 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc qua lăng kính độc đáo của tác giả:

– Thiên nhiên sự sống gợi lên gần gũi, tình tứ. Nhà thơ phát hiện vẻ đẹp kì diệu của tự nhiên, và thổi vào đó tình yêu rạo rực, say đắm.

+ Này đây tuần tháng mật

+ Đồng nội xanh rì

+ Cành tơ phơ phất

+ Khúc tình si…

– Thiên nhiên nhuốm màu chia li, mất mát mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi → hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống qua lăng kính thời gian trôi nhanh chóng, không bao giờ trở lại.

– Tác giả nhìn thiên nhiên qua lăng kính tuổi trẻ, tình yêu, cảnh vật nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình.

– Lấy con người làm thước đo cho vẻ đẹp của thiên nhiên: đây là cách nhìn mới mẻ, đậm chất Xuân Diệu.

– Qua đó nhà thơ thể hiện quan niệm mới về cuộc sống, tuổi trẻ, hạnh phúc: Thế giới đẹp nhất khi con người ở tuổi trẻ và tình yêu: hạnh phúc lớn nhất của con người là tình yêu, thời gian quý giá nhất của mỗi người là tuổi trẻ.

→ Biết hưởng thụ những điều chính đáng cho cuộc sống dành cho mình, sống mãnh liệt, hết mình những năm tháng tuổi trẻ.

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 tập 2):

Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ:

+ Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba gần gũi, quen thuộc, tươi mới, giàu sức sống, đầy tính quyến rũ, tình tứ nhưng cũng mới mẻ, đột phá.

+ Ngôn ngữ gần với ngôn từ đời thường, được nâng lên tầng cao mới của nghệ thuật.

+ Cảm xúc chân thành, dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến.

+ Sử dụng nhiều động từ mạnh, tăng tiến, chỉ sự đắm say mãnh liệt, nồng cháy, cộng với những danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc.

+ Nhịp điệu thơ sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

Luyện tập

Nhận định của Vũ Ngọc Phan chủ yếu nói về lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu:

– Đó là giọng điệu thấm thía. Lòng yêu đời đó xuất phát từ hai nguồn cảm hứng mới, đó là đề tài xuyên suốt trong thơ của Xuân Diệu.

– Tác giả chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tuổi trẻ với tình yêu, giữa thời gian với cuộc đời con người.

– Dù ở tâm trạng nào, thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời, yêu người trong thơ của mình.

– Sự hối hả, sự khao khát sống, khao khát yêu đương đã thôi thúc nhà thơ.

Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.