Top 10 mẫu soạn văn lớp 12 bài Vợ nhặt chi tiết nhất

306
Top 10 mẫu soạn bài Vợ nhặt chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Vợ nhặt chi tiết nhất
4.8/5 - (20 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Vợ nhặt của tác giả Kim Lân một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn bài Vợ nhặt chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Top 10 mẫu soạn bài Vợ nhặt chi tiết nhất

Số 1: Vợ nhặt soạn bài

I. Tìm hiểu chung

  1. Tác giả

– Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Bắc Ninh.

– Hoàn cảnh gia đình ông vất vả.

– Năm 1944 ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng

– Năm 2001 ông được nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

  1. Tác phẩm

– Tác phẩm được viết ngay sau cách mạng tháng 8 thành công với tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” nhưng bị dang dở và thất lạc. “Vợ nhặt” in trong tập “con chó xấu xí” xuất bản năm 1962.

II. Phân tích tác phẩm

Câu 1: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

– Dựa vào mạch truyện có thể chia tác phẩm thành

+ từ đầu… “chậc kệ”: Trước khi Tràng có vợ và cảnh nhặt được vợ

+ tiếp… “nước mắt chảy ròng ròng”: cảnh thị về làm dâu và tình thương của người mẹ.

+ còn lại: niềm tin vào một tương lai tươi sáng

– Mạch truyện được dẫn dắt tài tình, hợp lí. Từ việc Tràng nói câu nửa đùa nửa thật đến khi thị theo về đều thể hiện sự hấp dẫn trong cách đặt tình huống của tác giả. Và sau đó là cách bà cụ Tứ tiếp nhận người con dâu xa lạ với tấm lòng yêu thương và rồi kết thúc tác phẩm là thể hiện niềm tin vào một tương lai tốt đẹp.

Câu 2: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

– Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng người đàn bà xa lạ về nhà vì:

+ Tràng là một người xấu xí, thô kệch nay lại lấy được vợ

+ Giữa cái đói của năm 1945, nuôi thân còn chẳng đủ thì huống chi là nuôi thêm vợ

– Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ và của chính Tràng đã cho thấy tình huống truyện được nhà văn xây dựng một cách rất độc đáo:một tình huống “dở khóc, dở cười”. Người ta không biết nên vui vì Tràng lấy được vợ hay nên buồn vì cuộc sống vốn đã nghèo của gia đình Tràng nay nuôi thêm người lại càng đói khổ hơn. Tuy nhiên cũng chính nhờ tình huống này mà nội dung và ý nghĩa của tác phẩm càng được tô đậm nét. Bởi nó thúc đẩy cốt truyện phát triển và dẫn đến diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật phát triển theo.

Câu 3: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

– Nhan đề “Vợ nhặt”

+ “vợ”: để chỉ người con gái khi mình lấy về, có mối quan hệ gần gũi, thiêng liêng và đáng trân trọng

+ “nhặt”: chỉ thứ tầm thường, có thể nhặt được ở bất kì đâu, không có giá trị

=> người ta hỏi vợ, cưới vợ còn tác giả để cho nhân vật của mình nhặt được vợ.

– Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng giúp người ta nhận ra sự yêu thương, cảm thông và đùm bọc lẫn nhau giữa cái đói cái nghèo trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Đồng thời hướng con người có niềm tin vào một tương lai đẹp hơn.

Câu 4: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

– Kim Lân có những phát hiện tinh tế và sâu sắc khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm của nhân vật Tràng :

+ Lúc quyết định lấy vợ: có chút phân vân nhưng rồi chàng cũng “Chậc kệ” và quyết định lấy thị. Quyết định của Tràng thể hiện niềm khao khát hạnh phúc gia đình, nhưng cũng vì cái đói cái nghèo mà khiến cho quyết định ấy có phần do dự, nhưng cuối cùng Tràng vẫn luôn có niềm tin vào tương lai và giư vững quyết định xây dựng gia đình.

+ khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư: không cúi xuống như mọi khi mà “vênh vênh ra điều” thể hiện sự vui sướng, hạnh phúc khi đã có vợ

+ buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ: Tràng thấy Tràng trưởng thành hơn và thấy có trách nhiệm với tổ ấm của mình

Câu 5: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

– Khi thấy người con dâu mới, ban đầu bà cụ Tứ ngạc nhiên sau đến lo lắng, day dứt, băn khoăn rồi xót thương và cuối cùng vui vẻ chấp nhận. Từ đó cho thấy một tấm lòng bao la tình thương của người mẹ nông dân trong cái đói năm 1945. Bà ngạc nhiên vì con trai có vợ, rồi lo lắng, day dứt sợ những đứa con mình đói khổ nhưng vì tình thương mà bà đã vui vẻ chấp nhận. Đây là một người mẹ rất mực thương con và giàu tình nhân ái, cảm thông.

Câu 6: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân:

+ cách kể truyện: hấp dẫn, lôi cuốn, tự nhiên, đan xen gữa hiện thực và nhân đạo.

+ phân tích tâm lí nhân vật: tinh tế, tài tình, ấn tượng

+ ngôn ngữ kể chuyện; gần gũi, giản dị, mộc mạc

+ kết cấu truyện: đặc sắc, độc đáo

III. Luyện tập

Câu 1: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Chi tiết “ thị cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” là chi tiết để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Bởi lẽ giữa cái đói năm ấy đã khiến cho con người ta quên đi hết cả hình tượng một cô gái dịu dàng, e thẹn mà thay vào đó là sự chân thực đến xót xa. Hình ảnh một người con gái vì đói quá lâu nên khi được ăn đã ăn liền bốn chập bánh, đây là hình ảnh thể hiện rõ nhất cái sự khổ cực trong nạn đói năm ấy. Chi tiết này khiến người ta và bật cười lại vừa xót xa, bật cười trước sự hồn nhiên của cô nhưng cũng xót xa vì cái xã hội năm ấy đã đẩy hình ảnh người con gái vào hoàn cảnh trớ trêu.

Câu 2: (trang 33 SGK ngữ văn 12 tập 2)

Đoạn kết của tác phẩm đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và ý nghĩa. Nó không chỉ gợi ra hình ảnh nạm đói năm 1945 của cách mạng Việt Nam mà còn thể hiện niềm tin, hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp và tương lai tươi sáng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 2: Soạn bài Vợ nhặt

Đọc hiểu bài Vợ nhặt

1 – Trang 33 SGK

Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

Trả lời:

* Dựa vào mạch truyện, tác phẩm có thể chia thành bốn đoạn:

– Phần 1 (từ đầu đến… tự đắc với mình): Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Phần 2 (tiếp đến… đẩy xe bò về): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

– Phần 3 (tiếp đến… nước mắt chảy ròng ròng): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

– Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

* Mạch truyện

Mạch truyện đã được dẫn dắt một cách tự nhiên, hợp logic, chủ yếu theo thời gian tuyến tính và gắn với truyện truyền thống. Tuy nhiên, sự hấp dẫn lại nằm trong nghịch lí mang tính hài hước của truyện kể: giữa ngày đói kém, một anh cu Tràng “quá lứa”, “dở hơi” đưa một người đàn bà “rẻ rúng” về làm vợ.

Mạch truyện bắt đầu từ đó: sự kiện khôi hài này tất yếu gây ra những lời bàn tán hài hước và xót xa; rồi màn bi – hài kịch diễn ra trong nhà cụ Tứ. Cuối cùng, tác giả đã tìm được lối thoát cho truyện: giữa những âm thanh của tiếng trống thúc thuế, dồn người ta đến bước đường cùng, hình ảnh lá cờ Việt Minh và đoàn người phá kho thóc của Nhật trong câu chuyện mơ hồ và xa xôi (Nghe đâu tận Thái Nguyên, Bắc Giang) xuất hiện và ám ảnh trong đầu óc của Tràng.

2 – Trang 33 SGK

Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

Trả lời:

* Người dân xóm ngụ cư và các nhân vật khác trong truyện như bà cụ Tứ, và cả bản thân Tràng đều đã ngạc nhiên vì Tràng có vợ giữa cảnh nạn đói đang đe dọa.

– Tràng là một người có ngoại hình xấu, lời ăn tiếng nói cũng cộc cằn, thô kệch. Gia cảnh của Tràng nghèo khổ, lại là dân xóm ngụ cư (không có ruộng đất). Nguy cơ ế vợ đã rõ, lại gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết đang đeo bám, mọi người đều nghĩ đến lấy gì mà ăn để sống qua ngày, vậy mà đột nhiên Tràng lại lấy vợ. Trong cảnh đói, Tràng “nhặt” được vợ là “nhặt” thêm một miệng ăn, cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa cho mình. Vì vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt.

– Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, cùng bàn tán, phán đoán rồi cũng nghĩ: “biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?” và họ cũng im lặng.

–  Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng hiểu gì, rồi “cúi đầu im lặng” với nỗi lo riêng mà rất chung: “Biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.

–  Bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn đang ngờ ngợ”. Thậm chí, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.

* Sự ngạc nhiên cho thấy tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ, vừa nghịch lí nhưng cũng vừa có lí.

– Người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người thật rẻ rúng, người ta có thể “nhặt” được vợ một cách dễ dàng.

– Thế nhưng họ vẫn khát khao có được tổ ấm gia đình, vẫn hi vọng vào tương lai, ngay cả lúc đói khát, cận kề cái chết.

* Qua tình huống đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.

– Giá trị hiện thực: tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.

– “Nhặt vợ” là “nhặt” được hạnh phúc, nhưng khi nó không còn là hạnh phúc nữa mà trở thành cái khốn cùng của cuộc sống.

Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức người đàn bà chủ động gợi ý đòi ăn. Chỉ vì đói quá mà người đàn bà tội nghiệp này ăn luôn và “ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Chỉ cần vài lời nửa đùa nửa thật chị đã chấp nhận theo không Tràng. Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường, đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả thẹn. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.

– Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc…

Điều mà Kim Lân muốn nói là trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn cứ vươn lên để tiếp tục sống, để sinh con đẻ cái, để hướng tới tương lai. Người đàn bà đi theo Tràng đã chạy trốn cái đói, cái chết để hướng đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão luôn nói đến chuyện tương lai, chuyện sung sướng về sau, nhen lên niềm hi vọng cho con. Đặc biệt là nhân vật Tràng, giữa cảnh chết đói, anh ta vẫn lấy vợ, vẫn nghĩ đến tương lai và hạnh phúc. Đúng như tác giả đã nói, đại ý: những người nghèo khổ, ngay bên cạnh cái chết, họ vẫn không ngừng tìm đến hạnh phúc.

– Về nghệ thuật: tình huống độc đáo khiến truyện phát triển dễ dàng và làm nổi bật được những cảnh đời, những thân phận con người bất hạnh, làm nổi bật chủ đề tư tưởng tác phẩm.

3 – Trang 33 SGK

Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, anh/chị hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

Trả lời:

–  Nhan đề Vợ nhặt có nghĩa là “nhặt được vợ” (không phải cưới hỏi theo phong tục).

+ Vợ gợi lên thiên chức cao cả của người phụ nữ

+ Động từ “nhặt” -> sự rẻ rúng, có thể nhặt một cách dễ dàng

-> “Vợ nhặt” được ghép lại với nhau thành một danh từ nó gợi lên thân phận rẻ rúng như cọng rơm cọng rác của người phụ nữ mà rộng ra là thân phận của con người Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.

=> Nhan đề truyện đã thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm, phản ánh thân phận con người bị rẻ rúng như rơm rác, có thể nhặt ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” được vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.

Nhan đề vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945, vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng hướng tới cuộc sống tốt hơn và niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.

4 – Trang 33 SGK

Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật (lúc quyết định để người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ,…).

Trả lời:

Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vật Tràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên. Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.

– Khi quyết định cho người đàn bà theo về, Tràng cũng liều lĩnh tặc lưỡi: “Chậc, kệ”, cái tặc lưỡi của Tràng vừa là sự ngộ nghĩnh đơn sơ vừa mang được một nội dung tư tưởng: đó là thái độ mạnh mẽ và dứt khoát, dẫu rất bản năng và hài hước của một người lao động khốn khổ trước hai sự lựa chọn: hạnh phúc và nạn đói.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn “Hắn thấy bây giờ hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm gia đình.

=> Sự sâu sắc của Kim Lân khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khốn khổ là ở chỗ, ông đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của thiên truyện.

5 – Trang 33 SGK

Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

Trả lời:

Tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ:

– Khi thấy người đàn bà lạ ngồi ở đầu giường con trai hai lần chào mình bằng u bà thấy mắt nhoèn đi, bà im lặng vì quá ngạc nhiên, hoàn toàn không hiểu đầu đuôi câu chuyện.

–  Khi đã hiểu chuyện, tâm trạng bà cụ vừa: mừng, vui, xót, tủi.

+ “Vừa ai oán, xừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”, thương con phải lấy vợ nhặt, nhờ cơn đói khát mới lấy được vợ.

+ Thấy tủi vì bản thân chưa làm tròn bổn phận của người mẹ lấy vợ cho con.

+ Thương và tủi cho vong linh chồng không biết mặt con dâu, không được chứng kiến ngày con trai lấy vợ

+ Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương”. Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.

–  Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.

=> Bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khổ cuộc sống. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng xót xa. Từ ngạc nhiên đến xót thương, nhưng trên hết vẫn là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai rất cụ thể thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn… Một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không quá xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ cập kề miệng lỗ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai.

6 – Trang 33 SGK

Anh chị hãy nhận xét về nghệ thuật viết truyện của Kim Lân (cách kể chuyện, cách dựng cảnh, đối thoại, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ…).

Trả lời:

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo

– Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.

– Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói…

– Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, tự nhiên, chân thật.

– Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với tính cách và thực tế đời sống.

– Nghệ thuật trần thuật linh hoạt và sử dụng ngôn ngữ có tính tạo hình đặc sắc

Luyện tập

1 – Trang 33 SGK

Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh chị? Vì sao?

Gợi ý:

Học sinh suy nghĩ và tự trả lời câu hỏi này. Khi trả lời lí do yêu thích, cần bám sát và tôn trọng những cảm xúc của riêng mình; cũng có thể vận dụng những hiểu biết về giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Ví dụ:

Chi tiết gây xúc động với em là: Bà cụ Tứ đãi con dâu “chè khoán” nhưng thực chất là cám với sự xót xa “Xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn đấy”.

– Điều này gợi lên cảnh khốn cùng, nghèo đói của giai đoạn đau thương của đất nước (nạn đói 1945)

– Ngày đón dâu đáng ra phải đủ đầy, nhưng cách đón dâu trong cảnh nghèo đói lại càng cho ta thêm thấm thía tình người đùm bọc lẫn nhau trong lúc khó khăn.

2 – Trang 33 SGK

Phân tích ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện.

Trả lời:

Ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện:

– Đoạn kết là diễn biến tất yếu của mâu thuẫn nội tại của câu chuyện: người dân đang bị lâm vào cảnh chết đói còn nghe tiếng trống thúc thu thuế của chính quyền. Vì vậy, nhân vật như Tràng đã nghĩ đến lá cờ Việt Minh.

+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng đã gieo một hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng và gia đình anh, gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt rằng những con người khốn khổ sẽ có lá cờ đỏ kia dẫn đường.

+ Góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.

– Đoạn kết còn thể hiện tư tưởng nhân đạo mới – nhân đạo cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng này không chỉ có thương xót, cảm thông với nạn nhân của chế độ xã hội, mà còn hướng tới việc để cho nạn nhân đấu tranh tự giải phóng mình. Đó cũng là quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa (truyện được hoàn thành từ năm 1955, phân biệt với các tác phẩm hiện thực phê phán), theo đó các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh… đều trong xu thế vận động đi lên, một sự vận động hướng tới tương lai tươi sáng hơn.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 3: Soạn văn Vợ nhặt

Câu 1

Dựa vào mạch truyện có thế chia tác phẩm thành 4 đoạn:

– Đoạn 1: Từ đầu đến “hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng”.

Chàng trai đưa “vợ nhặt” về nhà gặp mẹ.

– Đoạn 2: Từ “It lâu nay, hắn xe thóc” đến “đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về”.

Nói rõ về hoàn cảnh đôi lứa đã gặp nhau và thành vợ thành chồng.

– Đoạn 3: Từ “Tràng chợt đứng lại, lắng tai nghe” đến “ có tiếng hờ khóc vẳng đến từ phía những nhà có người chết đói”. Tình cảm của bà cụ Tứ (người mẹ) già nghèo khố đối với đôi vợ chồng mới.

– Đoạn 4: Phần còn lại.

  • Những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực thẳm của cái chết tuy có tủi hờn thân phận nhưng vẫn nhen nhóm lòng tin về sự đối đời trong những ngày sẽ tới.
  • Mạch truyện sẽ được dẫn dắt hợp lí. Có thể nói tất cà các tình huống được thế hiện trong truyện đều khởi đầu từ việc anh Tràng nhặt được vợ giữa những ngày đói khùng khiếp ấy.
  • Thế nhưng tác phẩm lại dược mở ra từ cảnh Tràng đưa “vợ nhặt” về nhà gặp mẹ. Nêu tác giả dưa đoạn thứ hai lên trước theo trình tự thời gian thì truyện sẽ kém phần hấp dần hơn.

Câu 2

Mở đầu truyện Vợ nhặt, tác giả giới thiệu nhãn vật Tràng đưa vợ về nhà trong con mắt dấy ngạc nhiên của cá xóm ngụ cư. Người ta ngạc nhiên vì, thứ nhất, một người nông dân nghèo, xấu xí lại là dân ngụ cư như Tràng mà cũng lấy được vợ, mà lại là vợ theo. Thứ hai là thời buổi đói khát ấy, người như anh ta, nuôi thân, nuôi mẹ chẳng xong mà còn dám đèo bòng vợ con. Tuy nhiên, sự việc này diễn ra lại rất hợp lí. Bởi lẽ, nếu bình thường không phải là năm đói kém, thì có ai mà thèm lấy Tràng. Cũng may, ở đây là “vợ nhặt” không phải lề nghi cheo cưới chi cả cho nên Tràng mới có được vợ.

Mọi người trong xóm đều hết sức ngạc nhiên khi thấy Tràng lấy được vợ. Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bên, người trong xóm lạ lắm. Người ta xì xào bàn tán với nhau: Biểt có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không? Ngay cả mẹ cúa Tràng cũng ngạc nhiên: Đến giữa sân bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn. Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhi? Người dàn bà nào lại. đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Một hồi lâu, bà lão vẫn “băn khoăn” không hiểu nổi. Chuyện Tràng lấy vợ cũng còn là chuyện bất ngờ đối với chính anh ta. Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bâygiờ hắn vẫn còn ngờ ngợ – như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cùng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng…

Câu 3

Tên truyện là Vợ nhặt, nghĩa là một thứ vợ do nhặt nhạnh vu vơ mà có được chứ không phải là vợ do cheo cưới đàng hoàng mà có.

Điều này cho thấy canh ngộ của người đàn bà là “vợ nhặt” của Tràng thật tội nghiệp. Ngay cả cái tên mà chị cũng không có được. Ngồi vêu ra ở cửa nhà kho cùng với mấy người con gái, chị chờ nhặt nhạnh những hạt rơi hạt vãi hay ai có công việc gì gọi đến thì làm. Gặp Tràng, lần dầu cười cợt hồn nhiên, nhưng lần sau chị biến đổi nhanh và rõ: thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chí còn thấy hai con mắt. Chỉ vì đói quá chị đã gợi ý để được ăn: Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. Và chỉ cần một lời dồng ý của Tràng là chị ăn luôn. Chị ăn bánh đúc một chặp bốn bát.

Sau đó, Tràng nói đùa mà chị cứ cho là thật. Chị đã theo anh, chấp nhận theo không anh khi hầu như chưa hiểu chút nào về Tràng và hoàn cảnh của anh. Suy cho cùng, lấy chồng, làm “vợ nhặt” của Tràng chẳng qua với chị là một cách chạy trốn cái đói mà thôi.

Câu 4

Khi thế hiện niềm khao khát tồ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ, Kim Lân dã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc:

– Lúc quyết định lấy vợ: Thoạt đầu Tràng có chút phân vân, do dự: Mới đầu anh chàng cũng chợn: nghĩ thóc gạo này đến cái thân mình củng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Nhưng rồi sau đó anh chàng đã tặc lưỡi: “Chặc, kệ!”. Điều này đúng như ý đồ của tác giả: Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết, mà chí nghĩ dến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu. dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống vù vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người (nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt).

Khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cu: Phút này, Tràng như đã thành một con người khác, phớn phở lạ thường, môi cười tủm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc “cứ lúng ta lúng túng” đi bên vợ. Nhưng chủ yếu vẫn xúc động với cảm giác mới mè khác lạ “mơn man” như một bàn tay vuốt nhẹ.

– Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng cảm thấy “êm ái, lửng lơ, như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”, xung quanh mình có cái gì vừa thay đối mới mẻ khác lạ. Từ cảm giác sung sướng hạnh phúc Tràng ý thức trách nhiệm, bốn phận của mình “bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”, “một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thây hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này…”.

Câu 5

Lúc đầu, bà cụ Tứ không ngờ con mình lấy được vợ. Nên thấy người đàn bà trong nhà, bà không hiểu là ai. Hàng loạt câu hỏi đã hiện lên trong đầu óc bà: Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay ở đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? Ô hay, thế là thế nào nhỉ?… Vì sao… Vì bà cụ nghĩ là tình cảnh nghèo khó, xấu xí, bị khinh bỉ của con mình thì làm sao có thể lấy được vợ, nhất là giữa nạn đói khủng khiếp khi ấy.

Đến lúc biết con mình đã “nhặt” được vợ về, bà cụ Tứ vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo. Bà cụ mừng vì dầu sao con trai mình cũng đã có được vợ, dù chỉ là “vợ nhặt” như thể nhặt của rơi ngoài đường. Bà cụ là người từng trải, hiểu biết nên đã cảm thấy biết bao nhiêu cơ cực, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình. Tiếp đó bà lại thương cảm cảnh ngộ đứa con dâu: Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Và bà đã nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

– Ừ thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng.

Người mẹ già giàu lòng vị tha đó còn xa xôi nghĩ đến bổn phận làm mẹ chưa tròn của mình và tương lai không biết sẽ ra sao của con trai và con dâu. Chỉ một câu nói: Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá cũng chan chứa biết bao sự thông cảm yêu thương.

Hiểu được trách nhiệm của mình đối với con, bà cụ Tứ đã cố nén bao nỗi buồn lo, động viên con tin tưởng ở sự sống và tương lai. Bà cụ đã dọn dẹp, sửa sang nhà cửa: “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có ca khẩm khá hơn… Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này”.

Câu 6

Đặc sắc nghệ thuật của Vợ nhặt thể hiện ở:

– Tạo được một tình huống độc đáo và cảm động;

– Cách trần thuật dựng đỗì thoại tự nhiên hấp dẫn;

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí sắc sảo.

a) Tình huống truyện độc đáo và cảm động

Chỉ riêng tên truyện cũng đủ cho thấy một tình huống éo le độc đáo: vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa buồn và càng ngẫm nghĩ càng thấy “ai oán xót thương”. Đó cũng là một tình huống thâm đẫm tình người, có sức lôi cuốn chú ý của người đọc: Vợ nhặt, “nhặt” được vợ.

b) Cách trần thuật chuyện, dựng đối thoại tự nhiên, hấp dẫn

– Tác giả đảo lộn trật tự thời gian một cách hợp lí để trần thuật tự nhiên và hấp dẫn: bắt đầu bằng sự việc Tràng đưa vợ về nhà trong lúc cả xóm ngụ cư nhìn theo kinh ngạc. Đến nhà rồi chính Tràng cũng kinh ngạc khi nhìn thị ngồi ngay giữa nhà. Chính lúc ấy nhà văn mới theo dòng hồi tưởng của Tràng mà trần thuật lại đầu đuôi câu chuyện anh này nhặt được vợ. Sau đó ông mới để mạch chuyện chảy xuôi cho đến hết.

– Tác giả dùng lối trần thuật qua đối thoại giữa các nhân vật. Nhiều đoạn đối thoại thật tự nhiên, hóm hỉnh và hấp dẫn như đoạn đối thoại giữa đôi vợ chồng Tràng hay đoạn giữa mấy người đàn bà trong xóm về người vợ mới của Tràng. Từ ngữ trong đốỉ thoại cũng rất hợp với lời nói cửa miệng hằng ngày của người dân nghèo trước đây. Như đoạn Tràng và vợ trên đường về, hai người hầu hết đều nói câu cụt ngủn, thiếu chủ ngữ. Cách nói của Tràng theo lốii bông phèng bình dân: Vợ mới vợ miếc, lên giường lên giếc. Bà cụ Tứ đôi chỗ dùng thành ngữ tục ngữ “phải duyên phải kiếp”, “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Nói chung các trường hợp trên đều rất tự nhiên và hấp dẫn.

c) Nghệ thuật miêu tả tâm lí sắc sảo

Truyện có ba nhân vật chính:

– Vợ Tràng: Tuy vì đói khát cùng đường đến mức bốp chát, chua ngoa, liều lĩnh và trơ trẽn, không còn chút e thẹn cố hữu của người phụ nữ nhưng cũng đã trở nên hiền hậu, chịu thương chịu khó khi trở thành nàng dâu mới.

– Tràng: Chợt vui khi đưa vợ về nhà qua lối xóm mặt phớn phở, hai mắt sáng lấp lánh. Chợt buồn khi cùng với vợ về đến nhà thấy cảnh nhà xơ xác, quạnh hiu, bừa bộn.

Anh vui vì bỗng dưng mà được vợ nhưng buồn vì lo không biết mẹ mình có chấp nhận không và cảnh nhà có vượt qua được cái đói nghèo không.

Sau đó, anh thấy lòng đầy yêu thương, vui sướng vì mình đã nên người. Sự gắn bó tình cảm trong cảnh khổ, tình yêu thương với vợ, hạnh phúc gia đình khiến anh hướng tới tương lai, thấy mình phải đứng đắn hơn và có trách nhiệm hơn với vợ, với mẹ, không thể sống ơ thờ, tùy tiện như trước nữa. Trong đầu óc anh hai lần hiện ra lá cờ đỏ thật to và đám người cùng nhau đi phá kho thóc.

– Bà cụ, mẹ Tràng: là một người mẹ rất mực thương yêu con nhưng vì hoàn cảnh nghèo khổ, không thể lo toan được hạnh phúc cho con. Bà cụ biết mình không làm tròn bổn phận người mẹ là phải lo lấng sao cho con cái nên vợ nên chồng, ăn nên làm nổi, sinh con đẻ cái nở mặt với đời. Bởi vậy, nay con bỗng dưng lấy được vợ bà vừa vui vừa mừng vừa nghĩ lại mà tủi cho con mình. Không những thế, bà còn lo âu: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”. “Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…”

Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.

Nói chung, Kim Lân đã thê hiện tâm lí của cả ba nhân vật chính trên một cách chân thực và sinh động qua bộ điệu, ngôn ngữ hoặc trực tiếp diễn tả tâm trạng ý nghĩ của họ một cách điêu luyện tài tinh.

Số 4: Soạn văn 12 Vợ nhặt

Câu 1. Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

Dựa vào mạch truyện có thể chia tác phẩm thành 4 đoạn:

  • Đoạn 1: từ đầu đến “…thành vợ thành chồng”.: Tràng đưa vợ về nhà.
  • Đoạn 2: tiếp đến “đẩy xe bò về”: kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.
  • Đoạn 3: tiếp đến “nước mắt chảy ròng ròng”: cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.
  • Đoạn 4: còn lại: buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt hết sức khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói.

Câu 2. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi Tràng lấy vợ bởi:

  • Một người như Tràng (xấu, nghèo, ngờ nghệch, dân ngụ cư) lại lấy được vợ
  • Trong nạn đói, không biết có nuôi nổi nhau không mà Tràng còn “đèo bòng”
  • Sự ngạc nhiên của dân làng, cụ Tứ và chính Tràng cho thấy Kim Lân đã sáng tạo được một tình huống độc đáo, kì lạ, éo le: tình huống Tràng nhặt được vợ giữa ngày đói.

Tình huống truyện làm nổi bật nội dung và ý nghĩa của tác phẩm:

  • Giữa nạn đói, thân phận con người trở nên rẻ rúng, bé nhỏ đến đáng thương.
  • Cái đói, cái chết không dập tắt được khát khao hạnh phúc gia đình và lòng tốt của người lao động nghèo khổ.

Câu 3. Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

Giải thích nhan đề:

  • Vợ là người quan trọng san sẻ cả cuộc đời với người đàn ông. Để có vợ, theo phong tục người ta phải tìm hiểu và cưới xin đường hoàng, trang trọng.
  • “Nhặt”: người ra chỉ nhặt được những thứ nhỏ bé, đánh rơi.

=> “Nhặt vợ”: Nhan đề truyện hé mở tình huống anh Tràng có vợ một cách dễ dàng như nhặt được cái rơm, cái rác ở ngoài đường, cụ thể là Tràng “nhặt được vợ” chỉ bằng vài câu hò đùa và bốn bát bánh đúc.

Chỉ qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả đã làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Phơi bày tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo, khi mà vấn đề cái đói, miếng ăn trở thành vấn đề sinh tử.

Câu 4. Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật Tràng (lúc quyết định đến người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ…)?

Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc về niềm khát khao hạnh phúc gia đình của Tràng:

  • Lúc quyết định lấy vợ: Thoạt đầu Tràng có chút phân vân, do dự. Nhưng rồi sau đó anh chàng đã tặc lưỡi “Chậc, kệ”.
  • Khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư: Phút này, Tràng như đã thành một con người khác, phớn phở lạ thường, môi cười tùm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc cứ “lúng ta lúng túng” đi bên vợ. Nhưng chủ yếu vẫn là cảm giác mới mẻ khác lạ mơn man như một bàn tay vuốt nhẹ.
  • Buổi sáng đầu tiên khi có vợ: Tràng cảm thấy êm ả, lửng lơ, như người vừa trong giấc mơ đi ra, xung quanh mình có cái gì thay đổi mới mẻ khác lạ. Từ cảm giác sung sướng hạnh phúc Tràng ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với căn nhà của hắn lạ lùng”.

=> Tràng từ con người ngờ nghệch, vụng về trở nên trưởng thành hơn, nhận ra mình phải có trách nhiệm với những yêu thương, ước mong gắn bó, xây đắp hạnh phúc gia đình.

Câu 5. Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

Phân tích tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ:

  • Ngạc nhiên khi thấy người đàn bà lạ trong nhà, lại chào bà là “u”. Khi hiểu ra đó là vợ Tràng, bà “cúi đầu nín lặng”, “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”.
  • Tủi hờn cho thân mình, tủi hờn cho đứa con tội nghiệp lấy vợ giữa nạn đói kinh hoàng. Bà lo lắng “chúng nó có nuôi nổi nhau…đói khát này không”.
  • Thấu hiểu và thương xót cho hoàn cảnh éo le của con dâu, trân trọng hạnh phúc của con trai, ước ao các con vượt qua được nạn đói.
  • Tươi tỉnh, vui vẻ, phấn chấn, lạc quan trong buổi sáng hôm sau: xăm xăm dọn dẹp nhà cửa cùng con dâu, nói toàn chuyện vui chuyện làm ăn. Chuẩn bị nồi “chè khoán” nhưng vị đắng chát của “chè” và tiếng trống thúc thuế khiến bà cụ tủi hổ, lo âu rơi nước mắt.

=> Cụ Tứ là bà mẹ nông dân nghèo khổ nhưng chan chứa tình yêu thương con, giàu lòng nhân hậu, giàu niềm lạc quan tin tưởng và là chỗ dựa cho các con. Bà cụ Tứ là hình ảnh đại diện cho những người mẹ Việt Nam nghèo trong xã hội cũ.

Tấm lòng của bà cụ Tứ: Bà là hiện thân của những người mẹ nghèo khổ mà từng trải, hiểu biết: hết lòng thương yêu con, yêu thương những cảnh đời tội nghịêp, oái oăm. Bà nung nấu một khái vọng về cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Câu 6. Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện của Kim Lân

  • Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.
  • Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.
  • Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.
  • Cách kể chuyện tự nhiên, giọng điệu chậm rãi. Cách kể nhiều khi hóm hỉnh, sắc sảo nhưng vẫn đôn hậu.
  • Kết cấu truyện khá đặc sắc, kết thúc mở.
Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 5: Soạn văn bài Vợ nhặt

Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu … tự đắc với mình): Tràng đưa được người vợ nhặt về nhà

– Phần 2 (tiếp … đẩy xe bò): chuyện hai vợ chồng gặp nhau, thành vợ thành chồng

– Phần 3 (tiếp … nước mắt chảy ròng ròng): tình thương của người mẹ nghèo khó

– Phần 4 (còn lại): niềm tin vào tương lai

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Phân chia tác phẩm theo mạch truyện (như trên)

– Mạch truyện được dẫn dắt hết sức khéo léo: các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói

Câu 2 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà, bởi:

+ Một người nghèo túng, xấu xí, ngờ nghệch, dân ngụ cư lại bỗng dưng nhặt được vợ.

+ Giữa lúc đói kém, người như Tràng đến thân mình còn không lo nổi lại đèo bòng.

– Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ và của chính Tràng nữa đã cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện vô cùng độc đáo:

+ vừa vô cùng lạ lùng khiến mọi người ngạc niên ngỡ ngàng

+ vừa éo le oái oăm kiến buồn vui lẫn lộn

– Tác dụng của tình huống truyện

+ phản ánh cụ thể tỉ mỉ chân thực đến ám ảnh bức tranh thê thảm của nạn đói năm 1945 bộc lộ niềm thương cảm xót xa của tác giả

+ phê phán lên án, tố cáo bè lũ thực dân phát xít, địa chủ phong kiến

+ tình huống truyện là thứ nước rửa ảnh bộc lộ và khẳng định tâm hồn cao quý của những người dân khốn khổ

Câu 3 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Giải thích nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm: “nhặt” đi liền với những thứ không ra gì, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, hoàn cảnh nào, “vợ” lại là sự trân trọng, người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình, người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn Tràng do nhặt nhạnh mà thành

– Qua hiện tượng nhặt được vợ của Tràng, ta thấy tác giả đã

+ làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

+ phơi bày tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo, khi mà vấn đề cái đói, miếng ăn trở thành vấn đề sinh tử

Câu 4 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng:

+ niềm khao khát hạnh phúc bùng lên khiến Tràng chiến thắng nỗi sợ hãi về cái đói cái chết để đưa thị về cùng

+ khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư, Tràng quên hết cảnh đói rét quên cả cái tối tăm trước mắt, Tràng phớn phở lạ thường, môi cười tùm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc cứ “lúng ta lúng túng” đi bên vợ.

+ buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng cảm thấy êm ả, lửng lơ, như người vừa trong giấc mơ đi ra, xung quanh mình có cái gì thay đổi mới mẻ khác lạ, Tràng đã có gia đình, Tràng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm, bổn phận của mình

Câu 5 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ:

+ Sự ngạc nhiên đến sững sờ khi thấy thị trong căn nhà mình và khi nghe Tràng giới thiệu

+Vừa mừng vừa tủi: mừng vì con đã có vợ, tủi vì không thể dựng vợ cho con trong hoàn cảnh đàng hoàng

+ Nỗi lo không biết chúng nó có vượt qua cảnh đói rét này không

+ Niềm tin về tương lai tương sáng phía trước: không ai khó ba họ, thu dọn nhà cửa cùng con, tính chuyện nuôi gà

– Qua đó ta thấy được tấm lòng giàu yêu thương cùng niềm tin bất diệt vào tương lai tương sáng của bà mẹ nông dân từng trải đời khốn khổ này

Câu 6 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân

+ Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

+ Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

+ Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

+ Cách kể chuyện tự nhiên, giọng điệu chậm rãi, nhiều khi hóm hỉnh, sắc sảo nhưng vẫn đôn hậu.

+ Kết cấu truyện khá đặc sắc, kết thúc mở

Luyện tập

Bài tập 1 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Chi tiết gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất là chi tiết nồi cháo cám vì:

+ nó đã phơi bày tất cả tình cảm thê thảm khốn khổ nhất của những người nông dân lúc bấy giờ, thê thảm đến mức khối nhà còn không có cám mà ăn

+ qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ :

* Bà cụ Tứ: người mẹ đảm đang, yêu thương con hết mực.

* Tràng: là người chồng có trách nhiệm với nỗi thẹn không thể dành cho người vợ mới cưới của mình một bữa ăn đủ đầy, một tiệc cưới sang trọng

* Vợ Tràng: qua chi tiết này ta càng khẳng định được sự thay đổi về tính cách của vợ Tràng, hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ

+ Nồi cháo cám trong buổi sớm đầu tiên đón cô dâu mới thật sự nồi cháo của tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng.

+ Chi tiết thể hiện tài năng của nhà văn Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn.

Bài tập 2 (trang 33 sgk Văn 12 Tập 2):

– Ý nghĩa đoạn kết tác phẩm

+ Ý nghĩa nội dung

* Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra cảnh ngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.

* Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo cùng niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.

+ Ý nghĩa nghệ thuật

* Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là tương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng lạc quan chung của câu chuyện.

* Đây là kiểu kết thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc sống được mô tả trong toàn bộ câu chuyện; dành khoảng trống cho người đọc suy tưởng, phán đoán

Số 6: Soạn văn 12 bài Vợ nhặt

Câu 1 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

– Phần 1 (từ đầu … “tự đắc với mình”): Tràng đưa được người vợ nhặt về nhà

– Phần 2 (tiếp … “đẩy xe bò”): chuyện hai vợ chồng gặp nhau, thành vợ thành chồng

– Phần 3 (tiếp … “nước mắt chảy ròng ròng”): tình thương của người mẹ nghèo khó

– Phần 4 (còn lại): niềm tin vào tương lai

Mạch truyện được dẫn dắt hợp lí, tất cả cảnh huống được thể hiện đều bắt nguồn từ việc Tràng thông qua lời nói đùa rồi nhặt được vợ giữa những ngày đói khủng khiếp

Cảnh được mở ra khi Tràng dẫn vợ về gặp mẹ. Nếu tác giả đưa đoạn hai lên trước theo trình tự thời gian thì truyện kém hấp dẫn, li kì

Câu 2 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tình huống: gọi gọn trong nhan đề tác phẩm vợ nhặt. Tràng- thanh niên nông dân nghèo, xấu, ế vợ bỗng nhặt được vợ dễ dàng

+ Trong thời gian đói kém 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người rẻ rúng, người ta có thể nhặt được vợ dễ dàng

+ Khao khát hạnh phúc, tổ ấm, hi vọng vào ngày mai

Bà cụ Tứ ngạc nhiên, lo lắng “biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này không?”

+ Xóm ngụ cư ngạc nhiên, bàn tán

+ Tràng bất ngờ với hạnh phúc của mình, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng

→ Tình huống truyện cho thấy thân phận buồn tủi của người lao động nghèo, bộc lộ tấm lòng người nông dân trong cảnh đời cơ hàn, đói khổ: giàu tình cảm, luôn khao khát hạnh phúc.

Câu 3 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm

+ Nhặt: thường đi với những thứ thừa, không ra gì

+ Thân phận con người rẻ rúng như rơm, rác, có thể nhặt được ở bất cứ đâu

+ Người ta hỏi cưới vợ, còn Tràng thì “nhặt vợ”

→ Hoàn cảnh sống khốn cùng, cực khổ

Câu 4 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Thể hiện khao khát về tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc anh chàng quyết định lấy vợ

+ Ban đầu, Tràng còn phân vân, do dự, về sau cũng chậc lưỡi cho qua (đúng với ý đồ tác giả)

+Lúc dẫn vợ về xóm ngụ cư, Tràng trở nên khác, phởn phơ lạ thường, môi cười tỉm tỉm, mắt sáng, mặt vênh tự đắc, cũng có lúc lúng ta lúng túng đi bên vợ

– Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng thấy êm ả, lửng lơ như người vừa từ trong giấc mơ đi ra, xung quanh có sự thay đổi khác lạ.

+ Niềm hạnh phúc khiến Tràng ý thức hơn về bổn phận, trách nhiệm bản thân (hắn thấy có bổn phận lo cho vợ con)

Câu 5 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Tâm trạng bà cụ Tứ:

+ mừng, vui, xót, tủi “ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”

+ Đối với con dâu: “lòng bà đầy xót thương” nén vào trong tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình

+ Mang hi vọng, lạc quan trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới “tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi”

→ Bà cụ Tứ hiện thân của con người nghèo khổ: bà nhìn thấu đau khổ của cuộc đời bà, bà lo cho thực tại bế tắc nhưng bà cũng vui trước hạnh phúc của con

Từ ngạc nhiên tới xót xa, trên hết là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, để các con có thêm động lực sống

Câu 6 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Đặc sắc nghệ thuật của truyện

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo

– Sử dụng ngôn ngữ bình dân, tinh tế, có duyên

– Nghệ thuật tả tâm lí tinh tế, đặc sắc

Luyện tập

Bài 1 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Chi tiết gây xúc động: Bà cụ Tứ đãi con dâu “chè khoán” nhưng thực chất là cám với sự xót xa “ Xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn đấy”

– Điều này gợi lên cảnh khốn cùng, nghèo đói của giai đoạn đau thương của đất nước ( nạn đói 1945)

+ Ngày đón dâu đáng ra phải đủ đầy, nhưng cách đón dâu trong cảnh nghèo đói lại càng cho ta thêm thấm thía tình người đùm bọc lẫn nhau trong lúc khó khăn

Bài 2 (trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2)

Ý nghĩa đoạn kết truyện

+ Là diễn biến tất yếu xuất phát từ mâu thuẫn nội tại của chuyện: người dân lâm vào cảnh chết đói, đã đứng lên đấu tranh phá kho thóc Nhật

+ Nhân vật Tràng nghĩ tới lá cờ Việt Minh

– Đoạn kết mang tư tưởng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, tư tưởng này không chỉ có cảm thông, thương xót mà còn hướng tới việc đấu tranh giải phóng bản thân

+ Xuất phát từ quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, nhân vật, hoàn cảnh, tính cách theo hướng vận động đi lên tươi sáng hơn

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 7: Soạn bài Vợ nhặt văn 12

Trả lời câu hỏi

Câu 1. Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

– Dựa vào mạch truyện có thể chia thành 4 đoạn.

– Bao gồm:

  • Phần 1. Từ đầu đến “hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”. Tràng dẫn người nhợ nhặt về nhà.
  • Phần 2. Tiếp theo đến “đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về”. Tràng nhớ lại việc mình có được vợ.
  • Phần 3. Tiếp theo đến “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”. Cuộc gặp gỡ của bà cụ Tứ và nàng dâu mới.
  • Phần 4. Còn lại. Cuộc sống của nàng dâu mới ở nhà Tràng trong buổi sáng hôm sau”.

– Mạch truyện: được dẫn dắt một cách tự nhiên, tất cả các chi tiết đều xoay quanh tình huống Tràng lấy được vợ trong hoàn cảnh nạn đói khủng khiếp.

Câu 2. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

– Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà vì Tràng lại lấy vợ trong hoàn cảnh nạn đói đang đe dọa, bản thân còn chưa nuôi nổi nữa là còn thêm một miệng ăn:

  • Tràng là một chàng trai có ngoại hình xấu xí, lời ăn tiếng nói cộc cằn, thô lỗ.
  • Nhà nghèo, lại là người dân của xóm ngụ cư, gặp nạn đói khủng khiếp.

=> Khi mà cái chết có thể đến lúc nào vậy mà lại “nhặt” được vợ, có nghĩa là thêm một miệng ăn, thêm một gánh nặng. Tình huống éo le, vui buồn lẫn lộn.

– Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện vừa bất ngờ nhưng cũng vừa hợp lý:

  • Trong hoàn cảnh nạn đói hoành hành, giá trị của một con người thật rẻ rúng, vậy nên việc một người như Tràng nhặt được vợ cũng chẳng có gì bất ngờ.
  • Đồng thời, nhà văn cũng muốn qua đó ca ngợi khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của người nông dân.

– Qua tình huống truyện đã thể hiện giá trị của tác phẩm:

  • Giá trị hiện thực: tố cáo bọn thực dân xâm lược đã đẩy nhân dân ta vào hoàn cảnh nghèo khổ.
  • Giá trị nhân đạo: khát vọng sống, tình yêu thương giữa con người…

Câu 3. Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

– Trước hết, từ “vợ” là một danh từ thiêng liêng, dùng để chỉ người phụ nữ trong mối quan hệ được pháp luật công nhận với “chồng”. Theo phong tục, vợ chồng chỉ được công nhận khi có sự chứng kiến của họ hàng, làng xóm. Còn “nhặt” là hành động cầm vật bị đánh rơi lên.

– Kim Lân đã sáng tạo ra một nhan đề độc đáo. Vì người ta chỉ nói “nhặt” được một món đồ nào đó. chứ không ai nhặt được một con người về làm vợ bao giờ cả. Nhưng qua đó, nhà văn đã thể hiện được cảnh ngộ thê thảm của con người lúc bấy giờ.

– Nhan đề “Vợ nhặt” trước hết khái quát được tình huống của truyện. Đồng thời đó cũng lời kết án đanh thép của Kim Lân đối với chế độ thực dân đã đẩy người nông dân vào tình cảnh nghèo đói, người “chết như ngả rạ”.

– Nhan đề “Vợ nhặt” có tính khái quát cao, hoàn cảnh của Tràng chỉ là một trong số đó. Đồng thời, qua nhan đề nhà văn cũng thể hiện sự đồng cảm xót xa cho cảnh ngộ của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

Câu 4. Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật Tràng (lúc quyết định đến người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ…)?

– Trên đường về:

  • Vẻ mặt “có cái gì hớn hở khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”… Tâm trạng hạnh phúc, hãnh diện.
  • Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa. Khát vọng về một tương lai tươi sáng.

– Khi về đến nhà:

  • Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.
  • Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.
  • Sốt ruột mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Đây là biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.
  • Khi mẹ về: liền thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lý do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

– Sáng hôm sau khi tỉnh dậy:

  • Tràng nhận thấy sự thay đổi kỳ lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo…).
  • Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.
  • Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.

Câu 5. Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

– Ban đầu, khi con trai đưa người vợ nhặt về: ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

– Đến khi hiểu ra chuyện:

  • “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi… số kiếp đứa con mình”. Vừa ai oán, lại vừa xót thương cho số phận con trai.
  • “Bà lão khẽ thở dài… Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Tấm lòng nhân hậu của người mẹ khiến bà sẵn sàng đón nhận đứa con dâu.

– Trong bữa cơm đón nàng dâu mới: “Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà… mà xem”. Bà là người nhen nhóm niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng cho các con.

=> Như vậy, bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khố. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân của các con bằng cái nhìn thấu hiểu của một người từng trải, để rồi cảm thông cho nàng dâu mới và cũng chính bà là người thắp sáng niềm tin cho các con.

Câu 6. Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện của Kim Lân: cách kể chuyện, cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên.

– Tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn.

– Khắc họa khung cảnh chân thực: cảnh người chết đối, cảnh bữa cơm ngày đói…

– Nhiều chi tiết đắt giá: giọt nước mắt của bà cụ Tứ, nồi cháo cám…

– Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ phù hợp…

Luyện tập

Câu 1. Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh chị? Vì sao?

Gợi ý: Chi tiết ấn tượng nhất (Học sinh tự lựa chọn như giọt nước mắt của bà cụ Tứ, nồi cháo cảm…)

– Chi tiết: nồi cháo cám

– Ý nghĩa:

  • Vị đắng chát, nghẹn bứ của cháo cám là minh chứng cho hiện thực khốn cùng, đói khát của dân ta trong nạn đói 1945.
  • Tình yêu thương giản dị của bà mẹ lao động nghèo muốn chăm chút cho bữa ăn của gia đình.
  • Sự lạc quan của người phụ nữ đã trải qua nhiều cay cực ở đời: “khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”.

Câu 2. Phân tích ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện.

Gợi ý:

– Vợ nhặt kết thúc với câu chuyện về tiếng trống thúc thuế, và hình ảnh trong óc Tràng thấy đám người đói và lá cờ đỏ.

– Ý nghĩa: thể hiện sự cảm thông với cuộc sống của người dân trong hoàn cảnh xã hội cũ, niềm tin vào tương lai tươi sáng của họ với việc tìm đến ánh sáng của cách mạng.

Số 8: Soạn bài Vợ nhặt lớp 12

Tác giả & tác phẩm

  1. Tác giả

Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.

Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

Kim Lân là cây bút chuyên viết về truyện ngắn.Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ – những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng.

  1. Tác phẩm

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

Hướng dẫn soạn bài Vợ nhặt

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Có thể chia tác phẩm thành bốn đoạn:

– Đoạn 1: (từ đầu đến “Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”): cảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2: (tiếp theo đến “cùng đẩy xe bò về”): lí giải về việc Tràng nhặt được vợ.

– Đoạn 3: (tiếp theo đến “nước mắt cứ chảy xuống dòng dòng”): cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt tự nhiên, khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà, bởi:

– Một người nghèo túng, xấu xí, dân ngụ cư lại bỗng dưng lấy được vợ.

– Giữa lúc đói kém, người như Tràng đến thân mình còn không lo nổi lại đèo bòng vợ với con.

Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính Tràng, tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo: Đây là một tình huống oái oăm không biết nên vui hay nên buồn, không biết nên mừng hay nên lo. Mọi người đều có chung tâm trạng ấy, nhất là bà cụ Tứ: “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự. Bà mừng vì dù sao con mình cũng đã có vợ, một mặt lại tủi vì gặp phải đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”.

Tình huống éo le trên đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật trong tác phẩm.

Câu 3 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm: “Nhặt” đi liền với những thứ không ra gì, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, hoàn cảnh nào. Nhưng “vợ” lại là sự trân trọng, người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn Tràng do nhặt nhạnh mà thành.

→ Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời qua đó, cũng bộc lộ sự yêu thương, đùm bọc, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

Câu 4 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Niềm khát khao hạnh phúc gia đình được thể hiện hết sức chân thực và sâu sắc qua nhân vật Tràng.

– Lúc đầu khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà, Tràng có chút phân vân, do dự: “Mới đầu chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng sau đó, chàng đã “tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!” rồi quyết định đưa người đàn bà về nhà.

→ Quyết định của Tràng thể hiện niềm khao khát hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ đồng thời thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm: “Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên đi tất cả tăm tối, “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy”.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giờ hắn nên người”. Tràng thấy có trách nhiệm và gắn bó với tổ ấm của mình: “Bỗng nhiên hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”.

→ Con người trở nên trưởng thành hơn với những yêu thương, ước mong gắn bó, xây đắp hạnh phúc gia đình.

Câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ được sau khi Tràng có vợ được miêu tả hết sức sinh động, tinh tế. Từ chỗ ngạc nhiên đến lo lắng, day dứt, băn khoăn rồi xót thương và cuối cùng vui vẻ chấp nhận… tất cả thể hiện tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “tao tính khi nào có tiền thì mua lấy con gà về nuôi, chả mấy có đàn gà cho xem”. Bà là hiện thân của nỗi khổ con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của người con thông qua toàn bộ nỗi khổ của cuộc đời bà.

→ Hình ảnh, tâm trạng của bà cụ Tứ thể hiện chiều sâu tư tưởng của Kim Lân, là nhân vật điển hình của bà mẹ Việt Nam khốn khó, bất hạnh nhưng giàu tình yêu thương, nhân ái.

Câu 6 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân:

– Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

Luyện tập

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Tác phẩm có nhiều chi tiết rất thật, hiện lên dưới nhiều góc độ phong phú, nhiều sắc độ tình cảm. Chọn chi tiết gây xúc động và để lại ấn tượng nhất để phân tích.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Đoạn kết của tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.

– Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới bay trong đầu óc của Tràng đã khép lại câu chuyện.

– Tác phẩm không chỉ gợi ra hình ảnh nạn đói năm 1945 mà còn mở ra hình ảnh của cách mạng Việt Nam trong năm ấy.

→ Đó là con đường tất yếu của người nông dân đi theo cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ đã gây một ám ảnh lớn trong đầu Tràng, thôi thúc, giục giã, gieo niềm tin cho con người để sống, chiến đấu nỗi vất vả, khốn khó của mình.

→ Vợ nhặt không chỉ vẽ nên bức tranh cụ thể, sinh động về thảm cảnh của con người trong nạn đói năm 1945 mà còn là bài ca về niềm tin yêu vào cuộc sống. Tác phẩm không chỉ có giá trị tố cáo mạnh mẽ mà còn là tiếng lòng sẻ chia chân thành, cảm thông của nhà văn với số phận con người.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 9: Vợ nhặt soạn bài

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Có thể chia tác phẩm thành bốn đoạn:

– Đoạn 1: (từ đầu đến “Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”): ảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2: (tiếp theo đến “cùng đẩy xe bò về”): Lí giải về việc Tràng  đã nhặt   được vợ.

– Đoạn 3: (tiếp theo đến “nước mắt cứ chảy xuống dòng dòng”): Cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ với  Nàng Dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): Buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện đã được dẫn dắt tự nhiên rất khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều đã được xuất phát từ  những tình huống anh Tràng đã lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà, bởi:

  • Một người nghèo túng và xấu xí với  dân ngụ cư những lại bỗng dưng lại  lấy được vợ.
  • Giữa lúc đói kém thì một  người như Tràng đến thân mình còn không lo nổi  nhưng lại còn đèo bòng vợ với con.
  • Sự ngạc nhiên của dân làng và của bà cụ Tứ  và của chính người  Tràng, tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện  rất độc đáo: Đây là một tình huống  rất oái oăm không biết nên vui hay nên buồn nữa, không biết nên mừng hay là nên lo. Mọi người đều có chung một tâm trạng ấy, nhất là bà cụ Tứ: “Lòng ngưởi mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra được biết bao nhiêu cơ sự. Bà rất vui mừng vì dù sao con mình cũng đã có vợ, một mặt lại tủi vì gặp phải đói khổ này  nhưng người ta mới lấy đến con mình…”.
  • Tình huống  rất éo le trên đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng với hành động của các nhân vật trong tác phẩm.

Câu 3 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Nhan đề Vợ nhặt  đã thâu tóm được giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm: “Nhặt”  đã đi liền với những thứ không ra gì, có thể “nhặt” ở bất kì đâu và  hoàn cảnh nào. Nhưng “vợ” lại là sự trân trọng với người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình. Người ta hỏi vợ và cưới vợ còn Tràng  thì do nhặt nhạnh mà thành.

→ Qua hiện tượng  đã “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả đã  làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp  vào năm 1945. Đồng thời qua đó, cũng bộc lộ  được sự yêu thương và đùm bọc với sức mạnh  đã hướng tới cuộc sống và  tổ ấm với niềm tin của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

Câu 4 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Niềm khát khao hạnh phúc gia đình  đã được thể hiện hết sức chân thực và sâu sắc qua nhân vật Tràng.

– Lúc đầu khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà thì Tràng có chút phân vân và còn  do dự: “Mới đầu chàng cũng chợt  nghĩ rằng: Thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không mà lại còn đèo bòng”. Nhưng sau đó thì chàng đã “tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!” rồi đã đưa ra quyết định đưa người đàn bà ấy  về nhà.

→ Quyết định của Tràng đã  thể hiện được niềm khao khát hạnh phúc  gia đình của người nông dân nghèo khổ. Đồng thời đã thể hiện được giá trị nghệ thuật của tác phẩm: “Dù trong tình huống bi thảm đến đâu thì dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, và vẫn hướng về ánh sáng và vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng  đã không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc mà Tràng  đã quên đi tất cả tăm tối, “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì đó rất là mới mẻ mà còn lạ lắm còn chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy”.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng đã  biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giờ hắn nên người”. Tràng thấy  mình có trách nhiệm và gắn bó với tổ ấm của mình: “Bỗng nhiên hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn trông lạ lùng”.

→ Con người đã trở nên trưởng thành hơn với những yêu thương với ước mong gắn bó để xây đắp hạnh phúc gia đình.

Câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

– Tâm trạng rất tinh tế và còn  phức tạp của bà cụ Tứ ,  sau khi Tràng đã  có vợ được miêu tả hết sức sinh động và tinh tế. Từ chỗ ngạc nhiên đến lo lắng và day dứt với băn khoăn rồi xót thương và cuối cùng thì cũng  vui vẻ  và chấp nhận… Tất cả  đã thể hiện được  tấm lòng bao dung và  nhân hậu của người mẹ nghèo.

– Bữa cơm đầu tiên đã đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin và với  niềm hi vọng: “tao tính khi nào có tiền thì mua lấy con gà về  để  nuôi, chả mấy khi có đàn gà cho xem”. Bà là hiện thân của nỗi khổ của  con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của người con mà thông qua toàn bộ nỗi khổ của cuộc đời bà.

→ Hình ảnh và  tâm trạng của Bà cụ Tứ đã thể hiện   được chiều sâu tư tưởng của Kim Lân và  là  một nhân vật điển hình của bà mẹ Việt Nam khốn khó với bất hạnh nhưng lại rất  giàu tình yêu thương và nhân ái.

Câu 6 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân:

Cách tạo tình huống truyện độc đáo và tự nhiên đã kết hợp nhuần nhuyễn  với hai yếu tố  hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp đã phân tích tâm lí của nhân vật tinh tế và sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại và độc thoại nội tâm đã làm nổi rõ lên tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ đã kể chuyện phong phú với  cách kể chuyện tự nhiên với gần gũi.

– Kết cấu truyện rất đặc sắc.

Kiến thức bổ sung

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Đoạn kết của tác phẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.

– Hình ảnh của đoàn người đã đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh  của lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới bay trong đầu óc của Tràng đã khép lại câu chuyện.

– Tác phẩm không chỉ gợi  được hình ảnh nạn đói của năm 1945 mà còn mở ra  được với hình ảnh của cách mạng Việt Nam trong năm ấy.

→ Đó là con đường tất yếu của người nông dân đã đi theo cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ đã gây nên một ám ảnh rất lớn trong đầu Tràng, thôi thúc và  giục giã với gieo niềm tin cho con người để sống và chiến đấu nỗi vất vả với khốn khó của mình.

→ Vợ nhặt không chỉ  đã vẽ nên bức tranh cụ thể mà còn  sinh động về thảm cảnh của con người trong nạn đói vào năm 1945 mà còn là bài ca về niềm tin yêu vào cuộc sống. Tác phẩm không những có giá trị mà còn tố cáo mạnh mẽ mà còn là tiếng lòng sẻ chia chân thành hết sức cảm thông của nhà văn với số phận của  con người.

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Tác phẩm đã có nhiều chi tiết rất thật và đã hiện lên dưới nhiều góc độ rất phong phú và nhiều sắc độ tình cảm. Chọn chi tiết gây xúc động và đã để lại sự ấn tượng nhất để phân tích.

Số 10: Soạn bài Vợ nhặt

Câu 1. Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

Trả lời:

* Tác phẩm có thể được chia thành bốn đoạn:

– Phần 1 (từ đầu đến “tự đắc với mình”): Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Phần 2 (tiếp đến “đẩy xe bò về”): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

– Phần 3 (tiếp đến “nước mắt chảy ròng ròng”): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

– Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

* Mạch truyện

Mạch truyện đã được dẫn dắt một cách tự nhiên, hợp logic, các cảnh trong truyện đều xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ trong nạn đói khủng khiếp: giữa ngày đói kém, một anh cu Tràng “quá lứa”, “dở hơi” đưa một người đàn bà “rẻ rúng” về làm vợ. Mạch truyện bắt đầu từ đó: sự kiện khôi hài này tất yếu gây ra những lời bàn tán hài hước và xót xa; rồi màn bi – hài kịch diễn ra trong nhà cụ Tứ. Cuối cùng tác giả đã tìm được lối thoát cho truyện: giữa những âm thanh của tiếng trống thúc thuế, dồn người ta đến bước đường cùng, hình ảnh lá cờ Việt Minh và đoàn người phá kho thóc của Nhật trong câu chuyện mơ hồ và xa xôi (Nghe đâu tận Thái Nguyên, Bắc Giang) xuất hiện và ám ảnh trong đầu óc của Tràng.

Câu 2. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo đưực tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

Trả lời:

a) Người dân xóm ngụ cư và các nhân vật khác trong truyện như bà cụ Tứ, và cả bản thân Tràng đều đã ngạc nhiên vì Tràng có vợ giữa cảnh nạn đói đang đe dọa.

– Hoàn cảnh:

+ Tràng là một người có ngoại hình xấu, lời ăn tiếng nói cũng cộc cằn, thô kệch.

+ Gia cảnh của Tràng nghèo khổ, lại là dần xóm ngụ cư (không có ruộng đất). Nguy cơ ế vợ đã rõ. Gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết đang đeo bám, mọi người đều nghĩ đến lấy gì mà ăn để sống qua ngày, thì đột nhiên Tràng lại lấy vợ. Trong cảnh đói, Tràng “nhặt” được vợ là “nhặt” thêm một miệng ăn, cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa cho mình. Vì vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt.

– Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, cùng bàn tán, phán đoán rồi cũng nghĩ: “Biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?” và họ cũng im lặng.

– Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng hiểu gì, rồi “cúi đầu im lặng” với nỗi lo riêng mà rất chung: “Biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.

– Bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn đang ngờ ngợ”. Thậm chí sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.

b) Sự ngạc nhiên cho thấy tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ, vừa nghịch lý nhưng cũng vừa có lý.

– Người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người thật rẻ rúng, người ta có thể “nhặt” được vợ một cách dễ dàng.

– Thế nhưng họ vẫn khát khao có được tổ ấm gia đình, vẫn hi vọng vào tương lai, ngay cả lúc đói khát, cận kề cái chết.

c) Qua tình huống đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.

* Giá trị hiện thực: tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.

–  “Nhặt vợ” là “nhặt” được hạnh phúc, nhưng khi nó không còn là hạnh phúc nữa mà trở thành cái khốn cùng của cuộc sống.

– Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức người đàn bà chủ động gợi ý đòi ăn. Chỉ vì đói quá mà người đàn bà tội nghiệp này ăn luôn và “ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Chỉ cần vài lời nửa đùa nửa thật chị đã chấp nhận theo không Tràng. Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường, đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả thẹn. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.

* Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc…

– Điều mà Kim Lân muốn nói là trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn cứ vươn lên để tiếp tục sống, đế sinh con đẻ cái, để hướng tới tương lai. Người đàn bà đi theo Tràng đã chạy trốn cái đói, cái chết để hướng đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão luôn nói đến chuyện tương lai, chuyện sung sướng về sau, nhen lên niềm hi vọng cho con. Đặc biệt là nhân vật Tràng, giữa cảnh chết đói, anh ta vẫn lấy vợ, vẫn nghĩ đến tương lai và hạnh phúc. Đúng như tác giả đã nói, đại ý: những người nghèo khổ, ngay bên cạnh cái chết, họ vẫn không ngừng tìm đến hạnh phúc.

– Về nghệ thuật: tình huống độc đáo khiến truyện phát triển dễ dàng và làm nổi bật được những cảnh đời, những thân phận con người bất hạnh, làm nổi bật chủ đề tư tưởng tác phẩm.

Câu 3. Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

Trả lời:

+ Vợ là người quan trọng san sẻ cả cuộc đời với người đàn ông. Để có vợ, theo phong tục người ta phải tìm hiểu và cưới xin đường hoàng, trang trọng.

+ “Nhặt”: người ra chỉ nhặt được những thứ nhỏ bé, đánh rơi.

=> “Nhặt vợ”: Nhan đề truyện hé mở tình huống anh Tràng có vợ một cách dễ dàng như nhặt được cái rơm, cái rác ở ngoài đường, cụ thể là Tràng “nhặt được vợ” chỉ bằng vài câu hò đùa và bốn bát bánh đúc.

=> Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời qua đó, cũng bộc lộ sự yêu thương, đùm bọc, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

Câu 4. Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật (lúc quyết định đế người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ,…).

Trả lời:

Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vật Tràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên. Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.

– Khi quyết định cho người đàn bà theo về, Tràng cũng liều lĩnh tặc lưỡi: “Chậc, kệ”, cái tặc lưỡi của Tràng vừa là sự ngộ nghĩnh đơn sơ vừa mang được một nội dung tư tưởng: đó là thái độ mạnh mẽ và dứt khoát, dẫu rất bản năng và hài hước của một người lao động khốn khổ trước hai sự lựa chọn: hạnh phúc và nạn đói.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn “Hắn thấy bây giờ hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm gia đình.

Sự sâu sắc của Kim Lân khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khôn khổ là ở chỗ, ông đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của thiên truyện.

Câu 5. Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

Trả lời:

– Ban đầu, bà cụ Tứ ngạc nhiên vô cùng.

– Khi hiểu ra chuyện: mừng, vui, xót, tủi. “Vừa ai oán, xừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương”. Nén vào lòng tất cả, bà  dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.

=> Bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khổ cuộc sống. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng xót xa. Từ ngạc nhiên đến xót thương, nhưng trên hết vẫn là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai rất cụ thể thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn… Một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không quá xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ cập kề miệng lỗ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Vợ nhặt chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.