Top 10 mẫu soạn văn lớp 11 bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất

Top 10 mẫu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất
4.6/5 - (17 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh tác giả Lê Hữu Trác một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn lớp 11 bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất

Số 1: Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh

  1. Tìm trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh những từ ngữ nói lên thái độ của Lê Hữu Trác đối với danh lợi.

Trả lời:

Muốn hiểu đúng đoạn trích, cần hiểu con người tác giả. Xem chú thích từ danh lợi ở bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (trang 41, SGK). Khái niệm danh lợi xưa thường được nhà nho sử dụng để chỉ việc làm quan (làm quan có danh vị, lại có lợi – bổng lộc). Cần tìm trong đoạn trích những từ như quê mùa mà Lê Hữu Trác tự nói về mình.

Quê mùa có sắc thái đối lập vói thành thị. Đây là cách dùng từ của một nhà nho ẩn dật lánh đòi có thái độ xem thường danh lợi. Tìm những từ ngữ tác giả trực tiếp nói về danh lọi, ví dụ như nỗi bãn khoăn của ông khi đưa ra phương án chữa bệnh cho thế tử, lo rằng nếu ông chữa khỏi bệnh cho thế tử thì sẽ bị danh lọi ràng buộc, bởi lẽ người ta sẽ phong chức tước cho ông và ông không được sống cuộc sống tự do, không được “về núi” nữa.

Ông đưa ra phương thuốc điều trị cho thế tử sau khi nghĩ đến truyền thống gia đình : “Cha ông mình đòi chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình” chứ không hề nhằm được thăng thưởng.

  1. Cho biết ý nghĩa của việc quan sát, miêu tả người và cảnh trong phủ chúa Trịnh.

Trả lời:

Cần chú ý đến dụng ý của tác giả khi quan sát và chọn các sự việc, nhân vật để miêu tả. Có thể tách riêng việc tả người và tả cảnh để lần lượt phân tích. Các nhân vật chính của đoạn trích là các quan – thầy thuốc, quan Chánh đường (tức Huy Quận công Hoàng Đình Bảo), thế tử.

Họ sống trong cảnh giàu sang, phú quý (những yếu tố này anh (chị) có thể tìm thấy dễ dàng, chẳng hạn “mâm vàng, chén bạc”). Cảnh trí trong phủ chúa : cần chú ý đến các cảnh được tả như vườn hoa, cung điện, lầu gác,… Lí giải tại sao lại có sự chú ý như vậy. Tác giả nhấn mạnh quyền lực của nhà chúa, quyền lực của quan Chánh đường, sự sang trọng chốn cung phủ.

Có thể có ngầm ẩn một hàm ý phê phán nhất định đối với chúa Trịnh qua những miêu tả tưởng như vô tình về lầu gác, cung điện sơn son thếp vàng, ghế ngồi chạm rồng của chúa, các cung nữ,… Rồng là biểu tượng của vua, thế mà chúa Trịnh cũng sử dụng thì trật tự luân thường ở đây đã bị chính chúa Trịnh chà đạp. Cũng có một ý nghĩa nữa là tác giả kín đáo phê phán lối sống xa hoa, truỵ lạc của chúa Trịnh.

Nhưng cần biết một ý nghĩa ngầm ẩn rất quan trọng của việc tả cảnh giàu sang, phú quý này : Đoạn kết Thượng kinh kí sự có kể khi Lê Hữu Trác về đến Hương Sơn, Hà Tĩnh được vài ngày thì nghe tin cả nhà quan Chánh đường bị hại (đây muốn nói đến sự kiện kiêu binh nổi loạn, giết Quận Huy), ông viết : “Tôi nghe chuyện than rằng : – Giàu sang như mây nổi, những noi đàn sáo lâu đài trước đây bỗng phút chốc thành gò hoang cồn vắng. Lại mừng thầm rằng mình đã ẩn thân nơi núi rừng, chẳng đoái hoài gì tới chuyện công danh thành đạt.

Một sớm bị triệu, mang thân già tới kinh, thấm thoắt đã một năm trời. Trăm xin nghìn cầu mới được thoát khỏi. Ví như lúc đầu lòng dạ không bền vững, để vướng mắc vào một chức quan, thì đúng là bây giờ danh chưa thành mà thân đã nhục vậy”. Như vậy, việc miêu tả kĩ lưỡng cảnh giàu sang, phú quý ở đoạn trích này là chuẩn bị cho một triết lí sẽ nêu lên ở đoạn kết “giàu sang như mây nổi” và triết lí bảo thân (giữ mình) của một ẩn sĩ lánh đời, xa chốn quan trường, quay lưng với danh lợi.

  1. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả hiện thực phủ chúa Trịnh trong đoạn trích.

Trả lời:

– Anh (chị) cần chú ý đến hai điểm : thứ nhất là việc tác giả lựa chọn chi tiết và thứ hai là thái độ, cảm xúc mà tác giả bộc lộ trước đối tượng miêu tả.

– Chú ý sự quan sát tinh tế và chọn chi tiết điển hình, có sức diễn tả cao ; đồng thời lưu ý việc tác giả luôn bộc lộ ấn tượng, cảm tưởng, cảm nhận của bản thân trước các hiện tượng quan sát thấy trong phủ chúa.

+ Các chi tiết như “cáng chạy như ngựa lồng”, “người có việc quan qua lại như mắc cửi” mở đầu báo hiệu không khí khẩn trương cúa phủ chúa.

+ Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí qua hình khối, màu sắc. hương thơm, âm thanh để truyền đạt đến bạn đọc cảm nhận của bản thân.

+ Chỉ ra các chi tiết nói về quyền lực của quan Chánh đường, ví dụ như điếm “Hậu mã quân túc trực”, nơi ngồi nghỉ của vị quan này ; chi tiết khi quan đến, mọi người đều đứng dậy, rồi ông ngồi trên,… Hầu như tất cả mọi công việc được kể trong đoạn trích đều do quan Chánh đường quyết định.

+ Các chi tiết liên quan đến thế tử : người ngồi trên sập độ “năm, sáu tuổi”, Lê Hữu Trác lạy bốn lạy trước cậu bé này, được cậu cười khen : “Ông này lạy khéo!”. (Một ông già phải lạy một cậu bé năm, sáu tuổi. Tại sao tác giả lại ghi chép chi tiết này ? Có thể là chi tiết ấy đã gây cho ông ấn tượng về cái giá mà ngưòi muốn có danh lợi sẽ phải trả.). Nhận xét về nguyên nhân bệnh tật, ông nghĩ là “thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

Các chi tiết đều có nghĩa ngầm ẩn tinh tế, thường bao hàm sự đánh giá, thái độ của Lê Hữu Trác. Tác giả làm như miêu tả vô tình hay thoáng qua các hiện tượng, sự việc nhưng thực ra sau những dòng chữ ấy là những nỗi niềm, cảm xúc, thái độ đối với giàu sang, phú quý và quyết tâm giữ vững phẩm chất đạo đức, khí tiết của mình.

  1. Phân tích vài nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của tác giả trong đoạn trích.

Trả lời:

Có thể nêu ra những nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác trong đoạn trích :

– Miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, sinh động, nhiều màu sắc : vườn cây, lối đi, hành lang, địa danh cụ thể, tên người, tên quan có thật trong phủ chúa, cảnh nơi chúa ngự, thể trạng thái tử, cuộc đối thoại của tác giả với quan Chánh đường.

– Chọn lựa chi tiết tiêu biểu, ấn tượng : quang cảnh trong phủ chúa, hình ảnh thế tử, sự tăm tối đầy ám khí của phủ chúa, cách bài trí đồ đạc trong phủ chúa, cuộc đối đáp của tác giả với quan Chánh đường.

– Kết hợp miêu tả, tự sự và biểu cảm tạo sự cuốn hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh, việc và người nơi phủ chúa.

– Giọng điệu châm biếm, hài hước, phê phán nhẹ nhàng, kín đáo : thể hiện qua lời ngợi ca cảnh vật, lời nhận xét về phủ chúa, cách luận giải về bệnh tình của thế tử.

– Tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt : có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi ; có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả, giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát, ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”.

Ngòi bút kí sự đặc sắc của tác giả đã phản ánh sinh động bức tranh chân thực về cảnh sống xa hoa, quyền quý và chân dung một số nhân vật nơi phủ chúa Trịnh, đồng thời cho thấy tấm lòng thanh bạch, bản lĩnh vững vàng, không màng danh lợi, không coi trọng chức tước, bổng lộc của Lê Hữu Trác.

Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Số 2: Soạn văn 11 Vào phủ chúa Trịnh

Trả lời câu hỏi

Câu 1

Quang cảnh phủ chúa Trịnh được Lê Hữu Trác miêu tả khá chi tiết theo trình tự từ ngoài vào trong, từ bao quát đến cụ thể. Bước vào phủ chúa Trịnh phải đi qua mấy lần cửa, mỗi cửa đều có lính canh, canh giữ nghiêm ngặt. Ấn tượng đầu tiên đối với Lê Hữu Trác là cảnh trí khác lạ: “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua sắc, gió đưa thoang thoảng mùi hương.” Khung cảnh được miêu tả đầy xa hoa, lộng lẫy với những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng, chén bạc,…

Đặc biệt, nội cung của thế tử, tuy chỉ là của một đứa trẻ nhưng được bày trí không kém phần xa hoa, có sập vàng, ghế rồng, nệm gấm, màn là,… Nguyễn Hữu Trác đã thành công khắc họa khung cảnh phủ chúa cực kỳ xa hoa, lộng lẫy.

Bên cạnh đó, tác giả cũng miêu tả rõ nét cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách nơi phủ Chúa. Sự kiểu cách thể hiện trước nhất qua việc muốn vào phủ chúa phải có thánh chỉ, có lính chạy thét đường. Khi vào đến phủ Chúa, đi qua các cửa phải có thẻ bài, phải có người vào thông bảo.

Người làm đi đi lại lại tấp nập, kẻ phục vụ, người giữ cửa truyền báo rộn ràng. Trong Đông cung, mặc dù thế tử chì là một đứa trẻ, nhưng mọi người vẫn phải giữ thái độ tôn kính, lễ độ, đủ phép tắc. Nhà văn không được gặp trực tiếp Chúa, nhưng mọi việc đều phải hỏi ý kiến ngài. thông qua quan Chánh đường.Vì thế tử bị ốm mà phải có tới 7, 8 thầy thuốc túc trực, người hầu hạ hai bên.

Tình tiết đẩy lên cao trào khi tác giả mặc dù nhiều tuổi hơn rất nhiều nhưng vẫn phải giữ thái độ tôn trọng, từ lúc vào đến lúc ra đều phải quỳ lạy với thế tử chỉ là một đứa trẻ. Sự xa hoa đến tột cùng, sự lộng hành ngang ngược của phủ Chúa đã được khắc họa rõ nét qua lễ nghi khuôn phép, cứng rắn chỉ thấy ở trong cung ấy.

Trước cảnh sống của phủ chúa, tác giả vẫn giữ thái độ thờ ơ, dửng dưng. Điều ấy thể hiện qua sự quan sát tỉ mỉ, những lời nhận xét, thể hiện thái độ của nhà thơ, qua các ghi chép tỉ mỉ nhằm truyền tải rõ nét để người đọc cảm nhận được sự xa hoa, quyền thế, lộng hành nơi phủ chúa. Đồng thời nó cũng bộc lộ thái độ không đồng tình với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nhưng thiếu sinh khí nơi đây.

Câu 2

Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt” thể hiện nổi bật giá trị hiện thực đối lập của tác phẩm:

Chi tiết đối lập giữa thế tử chỉ là một đứa trẻ lại ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc- một cụ già quỳ lạy. Cái ngây thơ của thế tử khi khen “ông này lạy khéo” khiến ta có chút giật mình. Nó vạch trần một sự thật là thế tử đã quen với việc được quỳ lạy cho nên mới có thể đưa ra lời nhận xét như thế.

Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh Đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả.

Đi độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…” Tẩm cung của thế tử được miêu tả chi tiết với sự xa hoa lộng lẫy tột cùng với vàng bạc, gấm vóc, nhưng không gian ấy lại đầy sự ngột ngạt, tù túng, bức bối. Đây chính là nguyên nhân gây ra căn bệnh của Trịnh Cán, một cuộc sống kìm kẹp nơi cung cấm, thiếu sinh khí tự nhiên để sống.

Ngoài ra, truyện còn rất nhiều chi tiết khác độc đáo, sắc sảo miêu tả về cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa.

Câu 3

Thông qua các chẩn đoán bệnh và kê đơn thuốc cho thế tử, ta có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn.

Lúc đầu ông định chữa bệnh cầm chừng cho thế tử, nhưng bản thân ông lại thấy điều đó trái với ý đức, trái với mong muốn của cha ông, chính vì thế ông quyết định dốc lòng chữa cho thái tử. Trước ý kiến trái chiều của các thái ý, ông vẫn kiên định giữ gìn, bảo vệ ý kiến của mình.

Từ những hành động của ông, ta nhận ra ông là một người có kiến thức sâu rộng, giàu kinh nghiệm, đồng thời ông cũng là một người thầy thuốc y đức, coi thường danh lợi, đứng trước cuộc sống xa hoa, ông xem nó là phù phiếm và coi trọng nếp sống bình dị, tự do nơi quê nhà. Đây là những phẩm chất đáng chân trọng của người thầy thuốc.

Câu 4

  • Đặc sắc nghệ thuật viết ký sự của Lê Hữu Trác thể hiện trước hết qua sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo, kết hợp bút pháp tả cảnh sinh động ông đã vẽ lên bức tranh phủ chúa Trịnh có cả sự khái quát lẫn chi tiết, khung cảnh sinh động có cả màu sắc lẫn âm thanh.
  • Tác giả thực hiện thành công nguyên tắc cơ bản của việc viết hồi ký là nội dung ghi chép trung thực, vẽ lên chân thực khung cảnh thật nơi phủ chúa.
  • Bên cạnh đó, bằng cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ đã góp phần tạo nên cái thần của cảnh và việc.

LUYỆN TẬP

Câu 1

So sánh đoạn trích…

Điểm chung của “Vào phủ chúa Trịnh” và “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” đều khắc họa rõ nét cuộc sống ca hoa nơi phủ chúa, cả hai đều thể hiện rõ nét sự lộng hành của phủ chúa.

Tuy nhiên, nếu “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” có lỗi viết tản mạn, chủ quan, thì “Vào phủ chúa Trịnh” có sự ghi chép tỉ mỉ theo trình tự khái quát đến cụ thể, đi theo quá trình thăm bệnh của tác giả, từ đó đem đến cho người đọc cái nhìn vừa kỹ lưỡng, vừa khách quan. Đây chính là điểm nổi bật của tác phẩm “Vào phủ chúa Trịnh”.

Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Số 3: Soạn văn Vào phủ chúa Trịnh

Tóm tắt

“Vào phủ Chúa Trịnh” thuộc “Thượng Kinh kí sự”, là tác phẩm kí sự của Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông). Đoạn trích “Vào phủ Chúa Trịnh” kể lại chuyến vào phủ Chúa để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán của chính tác giả. Qua chuyến đi đó, tác giả đã vẽ lại một bức tranh chân thực và sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời bộc lộ thái độ coi thường danh lợi của bản thân.

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến “phiền một nỗi là không có dịp”): Khung cảnh xa hoa, quyền quý nơi phủ Chúa hiện lên qua hành trình của Lê Hữu Trác.

– Phần 2 (đoạn còn lại): Lê Hữu Trác bắt mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử.

Hướng dẫn học bài

Câu 1 (trang 9 SGK):

Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

– Quang cảnh trong phủ Chúa: xa hoa, tráng lệ.

+ Trong phủ có đủ những loại cây lạ lùng, những hòn đá kì lạ, cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm.

+ Trong phủ rộng, có nhiều dãy nhà lớn, đường đi phức tạp: điếm “Hậu mã quân túc trực”, nhà “Đại đường”, “Quyển bồng”, “Gác tía” hay “phòng trà”.

+ Đồ đạc, cách bài trí trong phủ Chúa đều sang trọng, xa hoa:

→ sơn son thếp vàng, làm bằng vàng, toàn những đồ bài trí nhân gian chưa từng thấy;

→ đồ dùng ăn uống: mâm vàng, chén bạc, những của ngon vật lạ;

→ nơi ở của thế tử cũng bày trí toàn trướng gấm, sập thếp vàng, giá đồng, ghế rồng sơn son thếp vàng, nệm gấm.

– Cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa: nhiều lễ nghi, uy nghiêm, ai nấy cũng cẩn trọng, Chúa và thế tử chính là trời, được trọng vọng, kính sợ.

+ Người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, ai muốn ra vào cung phải có thẻ.

+ Thị vệ nghiêm cẩn, thận trọng với những người ra vào phủ Chúa.

+ Nhiều phi tần, giai nhân chầu chực quanh thánh thượng.

+ Trước thế tử, ai cũng phải co ro, khúm núm, lạy rồi thưa.

– Những quan sát, ghi nhận này của Lê Hữu Trác thể hiện cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa: Đó là sự choáng ngợp, xa lạ của tác giả trước vẻ xa hoa, quyền quý không một nơi nào trên nhân gian có được.

Câu 2 (trang 9 SGK):

Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

+ Chi tiết về nơi ở của thế tử: Tối om, không có cửa ngõ, nằm bên trong năm, sáu lần trướng gấm, bày biện hoa nến, người hậu hạ đứng xúm xít.

⇒ Nơi ở của thế tử xa hoa, sang trọng nhưng thực chất như một chiếc bình được đậy kín. Đây là cuộc sống được phong bế, ủ bọc quá mức.

+ Chi tiết về căn bệnh của thế tử: ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm, tạng phủ yếu đi, tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, tay chân gầy gò.

⇒ Căn bệnh của thế tử chính là sản phẩm, là hệ quả của cuộc sống quá đủ đầy, dư thừa, xa hoa nơi phủ Chúa.

Câu 3 (trang 9 SGK):

Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cũng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

+ Cách chẩn đoán: Lê Hữu Trác nhận ra ngay nguyên do dẫn đến căn bệnh của thế tử, phương thuốc của ông đưa ra cũng cốt giữ lại thể chất bẩm sinh đã bị héo rũ đi.

+ Diễn biến tâm tư khi kê đơn: phân vân có nên dùng phương thuốc hòa hoãn hay không, cuối cùng Lê Hữu Trác đã chọn cách dốc hết cả lòng thành, lòng trung để chữa bệnh.

⇒ Lê Hữu Trác là con người không màng đến danh lợi, quyền quý, có lòng trung nghĩa.

⇒ Ông khiêm tốn dù rất có danh tiếng.

⇒ Ông còn là vị lương y chân chính, tài giỏi, chuyên chú chữa bệnh cứu người, sẵn sàng chịu trách nhiệm với đơn thuốc của mình kê.

Câu 4 (trang 9 SGK):

Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

+ Đậm đặc yếu tố miêu tả:

→ Tác giả miêu tả chi tiết, tường tận những điều trông thấy ở phủ Chúa: giúp khắc họa một bức tranh về cuộc sống nơi đây, gián tiếp thể hiện cách nhìn, thái độ choáng ngợp, “dị ứng” của ông.

+ Giọng văn mang sắc thái trung hòa, không bày tỏ cảm xúc trực tiếp:

→ Không áp đặt bằng những câu từ bình thán ⇒ Tạo nên sự khách quan trong việc miêu tả, đồng thời thể hiện thái độ dửng dưng trước quyền quý, vật chất.

Luyện tập

Câu 1:

So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Vào phủ chúa Trịnh Truyện Hồng Bàng Thị (trích Lĩnh Nam Chích Quái)
Tác giả kể lại chuyến hành trình vào phủ Chúa để chữa bệnh cho thế thử của chính mình, qua đó khắc họa cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa đồng thời bày tỏ thái độ xem thường danh lợi, quyền quý. Truyện lý giải nguồn gốc của người Bách Việt (nghĩa là người Việt ta ngày nay) thông qua câu chuyện của Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhưng với cách kể rất khác so với truyền thuyết dân gian.

Nét đặc sắc của truyện Hồng Bàng thị:

→ Tác giả đã biến một truyền thuyết hư cấu của dân gian thành một câu chuyện có căn cớ lịch sử. Nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ được gán cho xuất thân rõ ràng hơn.

→ Câu chuyện này đã khẳng định nguồn gốc cao quý của người Việt, ca ngợi ý thức, sự đoàn kết dân tộc.

Ý nghĩa bài học

Đoạn trích Vào phủ Chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời bộc lộ thái độ coi thường danh lợi của mình.

Số 4: Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh ngắn nhất

TÁC GIẢ TÁC PHẨM

  1. Tác giả

– Lê Hữu Trác (1724 – 1791) tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê cha ở Hưng Yên, quê mẹ ở Hà Tĩnh. Ông là một danh y đồng thời là nhà văn nhà thơ lớn.

  1. Tác phẩm

– Thể loại: Kí sự.

– Viết bằng chữ Hán miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa và quyền uy thế lực của nhà chúa qua những điều mắt thấy tai nghe , nhân dịp Lê Hữu Trác được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh đô chữa bệnh cho chúa và thế tử Trịnh Cán. Tác phẩm còn thể hiện thái độ kinh thường danh lợi của tác giả.

– Bố cục:

+ Phần 1:Quang cảnh bên ngoài phủ chúa.

+ Phần 2: Những điều mắt thấy tai nghe khi vào phủ chúa

+ Phần 3: Quang cảnh khi đi sâu vào nội cung và khám bệnh cho thế tử

+ Phần 4: Tác giả nhận định và đề ra phương án chữa bệnh

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

  1. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

Trả lời:

a) Quang cảnh trong phủ chúa:

– Âm thầm quan sát, người thầy thuốc phát hiện ra rằng: Vào phủ chúa phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

– Bên trong phủ bày biện toàn những đồ sang trọng như: kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng rồi những đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”. Trong nội cung thế tử cũng vậy: Phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”.

Có thể nói, chính những gì đang hiển hiện ra trước mắt người đọc đã tự nói lên tất cả cái quyền uy tối thượng đang nằm trong tay nhà chúa cũng như nếp hướng thụ cực kì xa xỉ của Trịnh Sâm và gia đình chúa.

b) Cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

– Đầu tiên, khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh của chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường”. “Cáng chạy như ngựa lồng” khiến người trong cáng “bị xốc một mẻ, khổ không nói hết”. Trong phủ chúa, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”.

– Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ (“Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc),…).

– Trong cuộc tiếp kiến ấy, tác giả cũng không được thấy mặt chúa. Tất cả những mệnh lệnh của chúa đểu được phán bảo qua quan Chánh đường hoặc người truyền mệnh. Thầy thuốc xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi vị thầy thuốc cũng phải “nín thở” khi đứng chờ ở xa và “khúm núm” khi đến trước sập để xem mạch cho thế tử.

– Thế tử ốm và lúc nào cũng có đến bảy, tám thầy thuốc phục dịch. Lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”. Thế tử tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc đểu phải cúi lạy cung kính, lễ phép. Trước khi cho thầy thuốc xem thân hình, một viên quan nội thần phải đến xin phép được cởi áo cho thế tử.

c) Cách nhìn của tác giả:

– Tác giả không bộc lộ trực tiếp thát độ nhưng qua việc chọn chi tiết để kể và tả, đôi lúc xen vào lời nhận xét khách quan, phần nào thấy được thái độ của ông:

+ Ông nhận xét cảnh xa hoa, lộng lẫy tấp nập ở phủ chúa “khác hẳn người thường” đến mức không tưởng tượng nổi, “khác nào ngư phủ đào nguyên thưa nào”.

+ Được mời ăn cơm: tác giả nhận xét “toàn của ngon vật lạ”

=> Tác giả nhận xét nơi phủ chúa cái gì cũng đẹp, cái gì cũng sang nhưng thái độ của tác giả lại tỏ rõ sự dưng dưng, không đồng tính với cuộc sống quá tiện nghi, quá sang trọng, khác thường như vậy. Đó là cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc xa xỉ nhưng lại chẳng có tự do sinh khí.

  1. Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

– Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng. Ví như chi tiết đối lập: thế tử – mội đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban một lời khen “rất trẻ con”: “Ông này lạy khéo !”. Hoặc ở một chi tiết khác khi tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…”.

– Truyện còn có nhiều chi tiết khác cũng sắc sảo như vậy: Chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (“có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”), rồi chi tiết miêu tả những dụng cụ dùng để ăn uống, những món ăn khi quan Chánh đường mời thầy thuốc dùng bữa sáng,..

=> Lời văn của tác giả rất tự nhiên, không hề có chút cường điệu nào. Cũng chính vì thế mà việc hưởng lạc xa hoa của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc.

  1. Cách chẩn đoán và chữ bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Trả lời:

Dõi theo từng bước đi của người thầy thuốc, người đọc có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ khá sâu sắc của nhà văn:

– Đứng trước cảnh xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ nơi phủ chúa, tác giả nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa khác hẳn người thường”. Trước cảnh ấy, tác giả đã vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả nơi phủ chúa. Trong bài thơ ấy, tác giả đã phải thốt lên: “Cả trời Nam sang nhất là đây!”.

+ Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả đã khéo léo bày tỏ nhận xét: “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

Tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất , đồng thời có những biểu hiện chứng tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống tuy quá no đủ và tiện nghi nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do.

– Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác khi chữa bệnh cho thế tử còn diễn biến phức tạp hơn. Thăm bệnh xong, người thầy thuốc đã hiểu được rõ nguyên nhân căn bệnh của thái tử. Ông đưa ra những luận giải rất hợp lí, có cách chữa trị riêng. Nhưng trong lúc ấy, ông lại lo nếu chữa bệnh hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, lúc đó lại bị trói buộc bởi vòng danh lợi.

Thoáng nghĩ đến việc kê một đom thuốc vô thướng, vô phạt nhưng rồi ông lại quên ý nghĩ đó ngay. Việc làm ấy trái với y đức, trái với lương tâm ông và thậm chí phụ lòng trung của tổ tiên. Hai suy nghĩ đó giằng co, xung đột với nhau. Cuối cùng ông đã chọn theo lương tâm, phẩm chất của người thầy thuốc. Ông thẳng thắn đưa ra bài thuốc của mình – một bài thuốc trái với ý của nhiều người khiến quan Chánh đường thậm chí có ý đắn đo.

Từ những chi tiết về việc chữa bệnh của thầy thuốc Lê Hữu Trác, có thể thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu và rộng.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một người thầy giàu y đức.

+ Trên cả những điều đó là một thái độ coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà. Quan điểm này tất nhiên cũng gián tiếp cho thấy, tác giả không đồng tình với lối sống xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia.

  1. Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

Trả lời:

Từ những điều đã phân tích trên đây, có thể thấy đặc sắc trong nghệ thuật viết kí sự của nhà văn được bộc lộ ở những điểm sau:

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Nội dung ghi chép trung thực.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

– Giọng điệu châm biếm, phê phán một cách nhẹ nhàng, kín đáo.

– Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo sức hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh và người nơi phủ chúa.

LUYỆN TẬP

So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Trả lời:

– Điểm chung của đa số các tuỳ bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

– Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

– Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tuy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí ĐặngThuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại)

Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Số 5: Soạn văn lớp 11 bài Vào phủ chúa Trịnh

I. Về tác giả, tác phẩm

  1. Tác giả

– Lê Hữu Trác (1724- 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên

– Ông vừa là một danh y, vừa là một nhà văn và nhà thơ lớn.

  1. Tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự lên kinh)

Là tập kí sự bằng chữ Hán, hoàn thành năm 1783, được xếp cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục. Tác phẩm được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyện, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

Thượng kinh kí sự ghi lại những chuyện mắt thấy tai nghe của Lê Hữu Trác trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm. Tập kí sự tả lại quang cảnh kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và thế lực, quyền uy của nhà chúa. Câu chuyện kết thúc với việc Lê Hữu Trác được về lại quê nhà, trở về với cuộc sống tự do trong tâm trạng hân hoan để tiếp tục cống hiến đời mình cho y thuật.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trinh Cán.

Bố cục

– Phần 1 (từ đầu đến để tôi xem mạch Đông cung cho thật kĩ): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

– Phần 2 (còn lại): Qúa trình bắt mạch kê đơn và suy nghĩ của tác giả.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

* Đoạn trích vào phủ chúa Trịnh ghi lại một cách khá tỉ mỉ quang cảnh trong phủ chúa (được miêu tả từ ngoài → trong, từ bao quát đến cụ thể):

– Rất nhiều lần cửa, năm sáu lần trướng gấm

– Canh giữ nghiêm ngặt

– Cảnh trí khác lạ: Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm…

– Trong phủ là những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng chén bạc.

– Nội cung thế tử có sập vàng, ghế rộng, nệm gấm, màn là…

=> Quang cảnh cực kỳ xa hoa, lộng lẫy.

* Cùng với sự xa hoa trong quang cảnh là cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

– Vào phủ phải có thánh chỉ, có lính chạy thét đường.

– Trong phủ có một guồng máy phục vụ đông đảo, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan đi lại như mắc cửi.

– Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ.

– Chúa luôn phải có phi tần chầu chực, tác giả cũng không được thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan Chánh đường.

– Thế tử ốm và lúc nào cũng có tới 7 – 8 thấy thuốc túc trực, có người hầu cận hai bên. Tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc phải cúi lạy cung kính.

=> Đó là những nghi lễ, khuôn phép cho thấy sự cao sang, quyền quý đến tột cùng. Đồng thời cũng thấy được một cuộc sống xa hoa, hưởng lạc, sự lộng hành nơi phủ chúa.

* Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

– Thể hiện gián tiếp qua cách miêu tả, ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ con đường vào phủ chúa từ khi truyền lệnh cho tới khi y lệnh về chờ thánh chỉ → Phơi bày sự xa hoa, quyền thế nơi phủ chúa.

– Thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, những lời nhận xét và những lời bình giá của tác giả.

=> Tác giả tỏ thờ ơ, dửng dưng với cảnh giàu sang nơi phủ chúa. Đồng thời cũng kín đáo bộc lộ thái độ không đồng tình với cuộc sống quá đầy đủ, tiện nghi mà thiếu sinh khí.

Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt” thể hiện nổi bật nội giá trị hiện thực của tác phẩm:

– Chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm trệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban cho một lời khen “rất trẻ con”: Ông này lạy khéo!

– Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…” → Gợi nên một khung cảnh ngột ngạt bởi son vàng → sự tù đọng và nhức nhối.

=> Đọc đến chi tiết này chúng ta có thể hiểu nguyên nhân căn bệnh của thái tử Cán. Một đứa trẻ còn quá nhỏ nhưng lại bị kìm kẹp nơi thâm cung thiếu sinh khí tự nhiên để sống.

Ngoài ra, truyện còn nhiều chi tiết khác rất độc đáo, sắc sảo để giúp người đọc thấy được cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa.

Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Khi chuẩn đoán bệnh và kê đơn thuốc cho thế tử, người đọc thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn.

– Ông muốn chữa bệnh cầm chừng cho thế tử nhưng lại thấy trái với y đức, phụ lòng của cha ông…

– Khi đã quyết định chữa bênh cho thế tử, mặc dù ý kiến của ông trái với ý của nhiều người nhưng ông vẫn bảo vệ, giữ nguyên ý kiến.

=> Phẩm chất của người thầy thuốc:

– Tác giả là một người có kinh nghiệm, kiến thức sâu rộng.

– Là một người thầy thuốc giàu y đức, coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà.

Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Đặc sắc trong nghệ thuật viết kí sự của nhà văn được thể hiện ở những điểm sau:

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Nội dung ghi chép trung thực.

– Cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

III. Luyện tập

(trang 9 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): So sánh đoạn trích …

Điểm chung của đa số các tùy bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy. Tuy nhiên mỗi tùy bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn truớc hiện thực; khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

Số 6: Soạn văn 11 bài Vào phủ chúa Trịnh

I. Tác giả

– Lê Hữu Trác (1720? – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.

– Ông là người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Mỹ Yên, tỉnh Hưng Yên).

– Ông là một danh y, không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách và mở trường dạy nghề thuốc để truyền bá y học.

– Tác phẩm: Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển, là công trình nghiên cứu y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam. Tác phẩm cũng ghi lại những cảm xúc chân thật của tác giả trong lúc lặn lội đi chữa bệnh ở các miền quê, bộc lộ tâm huyết và đức độ của người thầy thuốc.

II. Tác phẩm

  1. Xuất xứ

– Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) là tập kí sự bằng chữ Hán, hoàn thành năm 1783, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục.

– Tác phẩm t ả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa – những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Qua đó, người đọc thấy được thái độ coi thường danh lợi của tác giả.

– Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” trích trong “Thượng kinh kí sự” nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cán.

  1. Thể loại

Kí sự là một thể kí, ghi chép sự việc, câu chuyện có thật và tương đối hoàn chỉnh.

  1. Bố cục

Gồm 2 phần:

  • Phần 1. Từ đầu đến “nay người rút lui vào màn để tôi xem mạch Đông cung cho thật kỹ”: Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa.
  • Phần 2. Còn lại: Cảnh Lê Hữu Trác khám bệnh cho thái tử Trịnh Cán.
  1. Tóm tắt

Mùng 1 tháng 2, tôi được lệnh vào phủ chúa. Tôi bèn sửa sang áo chỉnh tề, lên cáng vào phủ. Người truyền mệnh dẫn tôi qua mấy lần cửa. Tôi ngẩng đầu lên thấy đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua hành lang phía Tây, đến một cái nhà lớn. Đồ đạc bên trong đều được sơn son thếp vàng. Thánh thượng đang ngự ở đấy, xung quanh có phi tần chầu trực nên không thể yết kiến.

Tôi được thiết đãi toàn của ngon vật lạ. Ăn xong tôi được đưa đến Đông cung để khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Trong lòng tôi rất mâu thuẫn, nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi vẫn dốc lòng kê đơn cho thế tử. Tôi từ giã, lên cán trở về Trung Kiến. Trong vòng mười ngày, bạn bè trong kinh đều đến thăm hỏi.

III. Đọc – hiểu văn bản

  1. Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa

a) Quang cảnh

– Đường vào phủ:

  • Đau đâu cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương.
  • Qua mấy lần cửa mới đến cái điếm, điếm làm bên cái hồ, có những cây kì lạ và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách xinh đẹp.
  • Hành lang nào cũng có thị vệ, quân sĩ canh gác.

– Trong phủ: Nhà Đại Đường, Quyển bổng, Gác tía với đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, bàn ghế, đồ đạc nhân gian chưa từng thấy. Mâm vàng chén bạc, toàn đồ ăn toàn của ngon vật lạ.

– Nội cung: 5 – 6 lần trướng gấm, trong phòng thắp nến, giữa phòng có một cái sập thếp vàng, ghế rồng, nệm gấm, đèn sáp, hương hoa ngào ngạt.

=> Phủ chúa vô cùng xa hoa tráng lệ. Nhưng không khí trong phủ chúa là một không khí ngột ngạt tù đọng.

b) Cách sinh hoạt

– Đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào. Để dẫn người vào phủ có một tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường, lính đem cáng đón người thì chạy như ngựa lồng khiến người ngồi trong cáng dù được đón khám bệnh mà như chịu cực hình bị xóc một mẻ khổ không nói hết.

– Người giữ cửa quyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ chuyên việc truyền mệnh… Các danh y của sáu cung, hai viện được tiến cử từ mọi nơi ngồi chờ đợi, túc trực ở phòng trà, các phi tần chầu chực xung quanh thánh thượng, người hầu đứng xung quanh thế tử, trong màn là che ngang sân là các cung nhân đứng xúm xít.

– Những lời xưng hô, bẩm tấu đều phải rất kính cẩn, lễ phép. Trong phủ còn có lệ kỵ húy rất đặc biệt, kiêng nhắc đến từ thuốc….

– Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt các phép tắc…

=> Phủ chúa là chốn uy quyền tối thượng với cung cách sống lễ nghi, khuôn phép tạo nên không khí trang nghiêm, kính cẩn đến ngột ngạt.

  1. Thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa Trịnh

a) Thái độ trước cuộc sống xa hoa trong phủ chúa:

  • Ngạc nhiên trước vẻ đẹp cao sang quyền quý.
  • Thờ ơ, dửng dưng với những quyến rũ vật chất.
  • Thể hiện sự không đồng tình với cuộc sống no đủ nhưng thiếu khí trời và tự do

b) Thái độ khi kê đơn cho thế tử

– Hiểu rõ nguyên nhân căn bệnh của thế tử.

– Đấu tranh nội tâm:

  • Hiểu rõ căn bệnh của thế tử, nhưng băn khoăn nếu chữa khỏi bệnh sẽ bị giữ lại trong phủ.
  • Suy nghĩ đến phương thuốc hòa hoãn, nhưng lương tâm y đức không cho phép.

=> Nhân cách cao cả của người thầy thuốc.

Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Số 7: Soạn văn Vào phủ chúa Trịnh lớp 11

Tác giả, tác phẩm

  1. Tác giả:

Lê Hữu Trác (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Vào phủ chúa Trịnh được trích trong tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) của tác giả Lê Hữu Trác. Đoạn trích nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cấn.

* Thể loại: Văn bản được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyện, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh được miêu tả khá tỉ mỉ từ ngoài vào trong, từ bao quát đến cụ thể.

  • Phải đi qua mấy lần cửa, năm sáu lần trướng gấm
  • Được canh giữ rất nghiêm ngặt
  • Cảnh trí ở đây cũng khác lạ: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, vườn hoa đầy sắc hương, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau.
  • Trong phủ là những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng chén bạc
  • Nội cung thế tử có sập vàng, ghế rộng, nệm gấm, màn là, hương hoa ngào ngạt,…

=> Quang cảnh cực kỳ xa hoa và lộng lẫy.

* Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa:

  • Trong phủ có nhiều loại quan và người phục địch, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan đi lại như mắc cửi.
  • Lời lẽ nhắc đến chúa và thế tử đều phải hết sức cung kính và lễ độ.
  • Chúa phải có phi tần chầu chực, tác giả cũng không được nhìn thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan chánh đường
  • Thế tử mặc dù chỉ mới là một đứa bé khoảng 5 – 6 tuổi, lúc nào cũng có tới 7 – 8 thầy thuốc túc trực bên cạnh và có người hầu cận 2 bên. Khi vào xem mạch lẫn khi lui ra, người thầy thuốc đều phải cúi lạy cung kính.

=> Cung cách sinh hoạt cho thấy sự cao sang, quyền quý đến tột cùng. Qua đó, cho người đọc thấy được một cuộc sống xa hoa, hưởng lạc cùng với sự lộng hành nơi phủ chúa.

* Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

  • Được thể hiện gián tiếp qua cách miêu tả, ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ con đường vào phủ chúa từ khi truyền lệnh cho tới khi y lệnh về chờ thánh chỉ. => Tác giả phơi bày cuộc sống xa hoa và quyền thế nơi phủ chúa.
  • Được thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, những lời nhận xét và những lời bình giá của tác giả

=> Thể hiện thái độ thờ ơ, dửng dưng của tác giả với cảnh xa hoa nơi phủ chúa Trịnh. Qua đó cũng kín đáo bộc lộ thái độ không đồng tình với cuộc sống quá đầy đủ, tiện nghi mà thiếu sinh khí trong phủ chúa.

Câu 2:

* Những chi tiết trong đoạn trích được cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm là:

  • Chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm trệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban cho một lời khen “rất trẻ con”: Ông này lạy khéo!
  • Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…” => Gợi lên một khung cảnh ngột ngạt bởi son vàng, sự tù đọng và nhức nhối
  • Khi đọc đến chi tiết này, chắc hẳn chúng ta đều đã biết được nguyên nhân gây ra căn bệnh của thế tử Cán. Một đứa trẻ có tuổi đời còn quá nhỏ nhưng lại bị kìm kẹp nơi thâm cung thiếu sinh khí tự nhiên để sống.
  • Ngoài ra, truyện cũng còn nhiều chi tiết khác rất độc đáo và sắc sảo để giúp người đọc thấy được cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa Trịnh.

Câu 3:

  • Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn:
  • Ông muốn chữa bệnh cầm chừng cho thế tử nhưng lại trái với y đức của một người thầy thuốc, phụ lòng của cha ông. => Ông là một người có lương tâm, đức độ.
  • Khi ông đã quyết định chữa bệnh cho thế tử, mặc dù ý kiến của ông trái với ý của nhiều người nhưng ông vẫn bảo vệ, giữ nguyên ý kiến. => Ông là một người thầy thuốc có nhiều kinh nghiệm, có bản lĩnh, có tài năng và chính kiến riêng.

Câu 4:

Bút pháp kí sự của tác giả có điểm đặc sắc:

  • Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo, kết hợp với bút pháp tả cảnh sinh động
  • Nội dung ghi chép trung thực
  • Cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn và hấp dẫn. Đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và sự việc.
  • Giọng điệu thấp thoảng ý mỉa mai, hài hước.

Số 8: Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh lớp 11

Tìm hiểu chung tác phẩm

Tác giả:

  • Lê Hữu Trác(1724- 1791), hiệu Hải Thượng Lãn Ông;
  • Quê: Liêu Xá, Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương;
  • Gia đình: có truyền thống khoa bảng;

Bản thân:

  • Thông minh, hiếu học;
  • Không màng danh lợi;
  • Vừa là một danh y, vừa là một nhà văn, nhà thơ.

Thời đại:

  • Vua Lê- chúa Trịnh;
  • Xã hội rối ren, lắm phe nhiều phái, nội chiến liên miên, nhân dân điêu linh, đất nước phân liệt.

Sự nghiệp: Bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”

  • Gồm 66 quyển, 28 tập;
  • Cảm xúc chân thực trong những lần lặn lội chữa bệnh ở các miền quê;
  • Thể hiện sự trăn trở của một người lấy việc Cứu người và coi y đức làm trọng.

=> Tác phẩm được coi là “Bách khoa toàn thư y học thế kỉ XVIII”

Tác phẩm “ thượng kinh kí sự”.

Hoàn thành năm 1783, là quyển cuối của bộ “Hải thương y tông lĩnh”.

  • Thể loại: Kí sự
  • Giá trị tác phẩm: Quang cảnh kinh thành, phủ chúa và thái độ của tác giả.

Đoạn trích vào phủ Chúa Trịnh:

  • Vị trí: Ghi lại cảnh tác giả vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho thế tử Trịnh Cán(1/2/1782)

Bố cục:

  • Bức tranh hiện thực sinh động trong phủ chúa;
  • Hình ảnh người thầy thuốc.

Đọc hiểu văn bản

Câu 1: Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào?…

Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

Trả lời:

Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả:

Cảnh bên ngoài:

  • Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương;
  • Những dãy hành lang quang co nối tiếp, người qua lại như mắc cửi.

=> Khung cảnh phủ chúa thơ mộng như chốn bồng lai tiên cảnh.

Cảnh nội cung (bên trong):

  • Là một nơi thâm nghiêm: Nhà lớn cao rộng, kiểu cách xinh đẹp;
  • Màu sắc chủ đạo: đỏ và vàng rực rỡ
  • Không khí: ngào ngạt mùi hương(nến, hoa) nhưng tù đọng, ngột ngạt

=> Quang cảnh phủ chúa cực kỳ xa hoa, tráng lệ, lung linh, huyền ảo, không đâu sánh bằng biểu hiện một cuộc sống vương giả nhưng tù hãm, thiếu sinh khí.

Thông qua đây, tác giả nhận xét nơi phủ chúa cái gì cũng đẹp, cái gì cũng sang nhưng thái độ của tác giả lại tỏ rõ sự dưng dưng, không đồng tính với cuộc sống quá tiện nghi, quá sang trọng, khác thường như vậy. Đó là cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc xa xỉ nhưng lại chẳng có tự do sinh khí. Điều đó giúp ta khẳng định Lê Hữu Trác không thiết tha gì với danh lợi, với quyền uy cao sang.

Câu 2: Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh/chị cho là “đắt”,…

Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh/chị cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

Trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh có nhiều chi tiết đắt giá, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng:

  • Lối vào chỗ ở của vị chúa nhỏ “Đi trong tối om, qua năm, sáu lần trướng gấm” – Nơi thế tử ngự; đạt sập vàng, cắm nến to trên giá đồng, bày ghế đồng sơn son thếp vàng, nệm gấm. Ngót nghét chục người đứng chầu chực sau tấm màn che ngang sân, cung nữ xúm xít. Đèn chiếu sáng làm nổi bật màu phấn và màu áo đỏ, hương hoa ngào ngạt.
  • Chỉ có một ấu chúa, thực chất chỉ là cậu bé lên 5 tuổi mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc. Tất cả, bao chặt lấy con người. Người thì đông nhưng tất cả đều im lặng khiến cho không khí trờ nên lạnh lẽo, băng giá. Một cậu bé bị quây tròn, bọc kín trong cái tổ kén vàng son.
  • Biết khen người giữ phép tắc: “Ông này lạy khéo”
  • Cời áo thì: “Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò… nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức… mạch lại tế,… âm dương đều bị tổn hại…”

=> Hình ảnh nhân vật Trịnh Cán được khắc họa bằng những nét riêng, nhưng đồng thời mang ý nghĩa khái quát. Phải chăng cuộc sống vật chất quá đầy đủ, quá mức giàu sang, phú quý nhưng tất cả nội lực bên trong là tinh thần, ý chí, nghị lực, phẩm chất thì trống rỗng. Nhà khoa học kiêm nghệ sĩ tài ba Lê Hữu Trác đã chỉ đúng cội nguồn căn bệnh của Trịnh Cán là cả tập đoàn phong kiến của xã hội Đàng ngoài ốm yếu không gì cứu vãn nổi.

Truyện còn có nhiều chi tiết khác cũng thể hiện sự miêu tả sắc sảo: chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi bật màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt), rồi chi tiết miêu tả dụng cụ để ăn uống, … Lời văn của tác giả rất tự nhiên, không hề có chút cường điệu nào. Cũng chính vì thế mà việc hưởng lạc xa hoa của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc không cần thêm một lời bình luận nào.

Câu 3: Cách chuẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến…

Cách chuẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này.

Trả lời:

Thái độ của Lê hữu Trác nơi phủ chúa:

  • Cảnh giàu sang nơi phủ chúa khác hẳn người thường.
  • Cả trời Nam sang nhất là đây.
  • Những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy, chỉ dám ngước nhìn rồi lại cúi đầu đi,
  • Tôi bây giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia.

=> Qua đó, ta thấy mặc dù tác giả khen cái đẹp, cái sang, cái uy quyền nơi phủ chúa nhưng lại tỏ ra dửng dưng trước sự quyến rũ vật chất nơi đây và không đồng tình với cuộc sống no đủ tiện nghi nhưng thiếu sinh khí. Đồng thời, ông dự cảm về một ngày mai suy yếu tàn tạ của cái gia đình, cái tầng lớp phong kiến thống trị lúc bấy giờ. Đây chính là giá trị hiện thực của tác phẩm.

Câu 4: Theo anh/chị, bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc?…

Theo anh/chị, bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những chi tiết đặc sắc đó.

Trả lời:

Nét đặc sắc của bút pháp kí sự:

  • Ký sự là một thể của ký thiên về tự sự, thường ghi chép các sự kiện, hay kể lại một câu chuyện khi nó mới xảy ra. Trong đoạn trích, tác giả đã thể hiện khả năng quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động. Lối kể khéo léo ,lôi cuốn bằng những sự việc chi tiết đặc sắc. Có sự đan xen với tác phẩm thi ca làm tăng chất trữ tình của tác phẩm.
  • Giọng điệu: kể chuyện khách quan, pha chút hài hước, tạo được sự thú vị cho người đọc: nín thở đứng chờ, bị sóc một mẻ, một chỗ tối om không có cửa ngõ gì cả… Giọng kể của ông rất tự nhiên xen kẽ giữa lời kể và lời bình, tác giả chú ý nhiều đến tả cảnh, đến tường thuật sự việc.
  • Về nhân vật, ngoài những người mang họ Trịnh, các nhân vật khác, tuy quyền hành và phận sự khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ cùng dựa dẫm, nịnh bợ nhà chúa nhằm củng cố địa vị cá nhân. Các quan ngự y ngày đêm chầu chực để liệu phương thuốc chạy chữa cho Trịnh Cán, nhưng lại sợ trách nhiệm, chỉ theo ý của quan Chánh đường để ra toa. Ngay cả quan Chánh đường cũng không khá hơn, ông hoàn toàn đặt mọi hi vọng vào thế tử ốm yếu, bệnh hoạn.

Câu 5: Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Vào phủ chúa Trịnh…

Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự) của Lê Hữu Trác?

Trả lời:

Nội dung:

Đoạn trích đã dựng lên một bức tranh sinh động, chân thực về cuộc sống xa hoa, quyền quý ở phủ chúa Trịnh đồng thời bộc lộ rõ nét thái độ, tâm trạng, nhân cách Lê Hữu Trác.

Nghệ thuật:

  • Kết hợp kể, tả tập trung điểm xuyết
  • Chọn lọc những chi tiết đắt giá
  • Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen thái độ: Ngạc nhiên, hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh
  • Khéo léo kết hợp văn xuôi và thơ ca.
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Số 9: Soạn ngữ văn 11 Vào phủ chúa Trịnh

Câu 1:

Cảnh ngoài:

– Vườn hoa

– Hành lang

– Điếm “Hậu mã quân túc trực”

– Đồ đạc trong bữa cơm

Cảnh nội cung:

Tối om, phải đi qua mấy lần trướng gấm,  màn gấm, nệm gấm, màn là, sập thếp vàng, đèn sán

⟶ Nhận xét: Quang cảnh xa hoa, tráng lệ, kì vĩ, đẹp khác thường, nhân gian chưa từng thấy

⟶ Cho thấy cuộc sống giàu sang, phú quý chốn cung phủ.

Cung cách sinh hoạt:

– Trong phủ có nhiều loại quan và người phục địch, người làm một nhiệm vụ:

Lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử phái hết sức cung kính.

Câu 2:

Những chi tiết “đắt” trong đoạn trích có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm:

– Chi tiết cảnh đối đáp của tác giả với thế tử

– Chi tiết tả nơi ở của chúa Trịnh

– Chi tiết tả quang cảnh phủ Chúa

⟹ Những chi tiết mà tác giả đưa ra rất chân thực, sắc sảo đồng thời bày tỏ thái độ coi thường danh lợi của người thầy thuốc giàu y đức

Câu 3:

Cách chuẩn đoán bệnh cùng những diễn biến tâm tư khi kê đơn của Lê Hữu Trác đã phản ánh rõ con người của ông.

– Đầu tiên là thái độ sợ hãi, có phần dè dặt

– Nghiêm túc, thận trọng chuẩn đoán chính xác bệnh của thế tử

⟶ cho thấy tài năng của 1 danh y.

– Mâu thuẫn, tự đấu tranh để chọn cách chữa

⟹ Vẻ đẹp con người Lê Hữu Trác: lương y giỏi, coi thường danh lợi.

Câu 4:

Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả:

– Ngòi bút kể, tả trung thực, chi tiết, sắc sảo

– Giọng điệu thấp thoáng mỉa mai, hài hước.

Luyện tập

So sánh đoạn trích trên với tác phẩm “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Trích Vũ Trung tùy bút – Phạm Đình Hổ)

– Giống nhau: đều lột tả được hết hiện thực cuộc sống đồng thời thể hiện thái độ của tác giả. Cả hai bài đều phản ảnh thói sống xa hoa, hưởng lạc, sung sướng và bày tỏ thái độ phê phán của tác giả.

– Khác nhau:

+ “Vào phủ chúa Trịnh” là bài kí sự kể về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh. Nét đặc sắc về nghệ thuật trong bài đó là: sự quan sat khách quan cùng ngòi bút kể, tả sắc sảo, có sự đan xen giữa thơ, lời bình và văn xuôi tạo nên chất trữ tình.

+ “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh”: là tuỳ bút kể lại những thú vui ham chơi của Trịnh Sâm. Tác phẩm cũng đã ghi chép chân thực, sinh động: các chi tiết miêu tả tỉ mỉ và mang màu săc u ám, có tính chất dự báo. Giọng điệu khách quan mà vẫn khéo léo để thể hiện thái độ lên án thói ăn chơi của bọn vua quan đương thời.

Số 10: Soạn văn lớp 11 Vào phủ chúa Trịnh

Tóm tắt Vào phủ chúa Trịnh

Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa. Tôi nhanh chóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng. Tôi đi vào từ cửa sau, nhìn quanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua mấy lần cửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôi nhà thật lớn gọi là phòng trà. Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng. Lúc đó thánh thượng đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thể yết kiến.

Tôi được thiết đãi bữa sáng mĩ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc. Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung và khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” mà sinh bệnh. Nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi dốc lòng kê đơn cho thế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ. Bạn bè ai ai trong cung cũng đến thăm hỏi.

Bố cục Vào phủ chúa Trịnh

– Phần 1 (từ đầu đến không có dịp): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

– Phần 2 (tiếp đến phòng chè ngồi): Thực trạng trong phủ chúa, hình ảnh Trịnh Cán ốm yếu.

– Phần 3 (còn lại): Tâm trạng, cảm nghĩ của Lê Hữu Trác

Hướng dẫn Soạn

Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

* Quang cảnh trong phủ Chúa

– Phải đi qua nhiều lần cửa, với những dãy hành lang dài quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có lính canh gác, ai muốn vào phải có thẻ.

– Vườn hoa trong phủ Chúa cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa cỏ thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

– Bên trong phủ là nhà Đại đường, Quyển bổng, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

– Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng chén bạc

– Đến nội cung phải đi qua 5, 6 lần trướng gấm

– Phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son, nệm gấm mà che

⇒ Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ lộng lẫy, không đâu sánh bằng

* Cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

– Khi đi thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường

– Trong phủ người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi

– Lời lẽ nhắc đến thế tử đều hết mực cung kính, lễ độ tránh phạm úy.

– Chúa Trịnh luôn cho phi tần chầu chực xung quanh. Tác giả không được thấy mặt Chúa

– Thế tử bệnh có 7, 8 người thầy thuốc túc trực, phục dịch

– Tác giả phải quỳ lạy 4 lần lúc đến và 4 lần lúc về

⇒ Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa với những lễ nghi, khuôn phép, cách nói năng, người hầu kẻ hạ cho thấy sự cao sang, quyền uy, cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.

* Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống trong phủ

– Lê Hữu Trác mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ Chúa những tác giả tỏ vẻ dửng dưng trước những thứ vật chất xa hoa và không đồng tình với cuộc sống quá xa xỉ, thừa thãi, hưởng lạc nhưng thiếu khí trời và tự do như ở trong phủ Chúa

Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chi tiết được cho là đắt nhất

– “Một đứa bé độ 5, 6 tuổi ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầy thuốc già cúi lạy bốn lần rồi cười và ban một lời khen “ông này lạy khéo”. Khi đi đi qua độ 5, 6 lần trướng gấm tối om như vậy là một khung cảnh vàng son nhưng tù hãm, thiếu sinh khí của thế tử. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt mấy người hầu cận đứng xúm xít.

– Qua chi tiết ấy cho thấy cuộc sống ăn chơi hưởng lạc trong phủ Chúa. Thế tử được mọi người chăm sóc, hầu cận đến phát bệnh. Không gian ngột ngạt, tù túng, thiếu sinh khí trong phủ Chúa.

Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác cho thấy ông là một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm

– Ông là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ

– Đặc biệt ông còn có những phẩm chất cao quý: khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị

Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bút pháp đặc sắc trong truyện

– Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

– Tả cảnh sinh động

– Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

Luyện tập

(trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

So sánh hai đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Lê Hữu Trác) với “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Phạm Đình Hổ)

* Giống nhau: Đều phán ánh hiện thực cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh

* Khác nhau:

– Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ

+ Phản ánh sự nhũng nhiễu của quan lại đối với nhân dân

+ Các sự kiện được kể một cách tản mạn, ghép nối

+ Thể hiện thái độ phê phán gay gắt của tác giả đối với Chúa và quan lại

– Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác

+ Ghi chép sự việc theo trình tự thời gian một cách tỉ mỉ và trung thực

+ Thể hiện thái độ phê phán một cách kín đáo

+ Thể hiện thái độ dửng dưng, coi thường vinh hóa phú quý và tấm lòng y đức của Lê Hữu Trác

Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Bài Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.