Top 10 mẫu soạn văn bài Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết nhất

Top 10 mẫu soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết nhất
4.6/5 - (14 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh

Số 1: Soạn bài Sóng

Đọc hiểu văn bản

Bố cục của bài thơ gồm 4 phần:

– Phần 1 (2 khổ thơ đầu): Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng

– Phần 2 (2 khổ tiếp theo): Suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu

– Phần 3 (3 khổ thơ tiếp theo): Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái trong tình yêu

– Phần 4 (còn lại): Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt

Câu 1 (trang 156, sgk Ngữ văn 12, tập 1)

Âm điệu và nhịp điệu trong bài thơ khi thì nhịp nhàng, miên man, khi dữ dội, dịu êm. Âm điệu và nhịp điệu ấy được tạo nên từ các yếu tố:

– Các câu thơ được viết theo thể thơ 5 chữ

– Cách ngắt nhịp linh hoạt (nhịp 2/3 hay nhịp 1/4)

– Cách gieo vần, phối thanh rất độc đáo (vần chân, vần cách,… )

Câu 2 (trang 156)

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ chính là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Cụ thể:

* Hình tượng sóng:

– Con sóng trong tự nhiên lúc thì dạt dào, nhẹ nhàng nhưng cũng có lúc lại ồn ào và dữ dội cũng như chính tâm trạng của con người trong tình yêu.

– Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của sóng khi tìm ra với biển khơi

– Điểm khởi đầu đầy bí ẩn

– Sóng luôn luôn vận động. Và một quy luật bất biến của sóng đó là luôn luôn tìm vào bờ

– Sóng vĩnh cửu và trường tồn cùng với thời gian

Câu 3 (trang 156)

– Giữa “sóng” và “em” trong bài thơ có mối quan hệ tương đồng, bởi các chi tiết về “sóng” chính là những chi tiết ẩn dụ cho tình yêu và tâm hồn nhân vật “em”. Sóng và em phản ánh lẫn nhau, lúc tách bạch, lúc hòa quyện vào nhau. Hay đó chính là sự phân thân của chủ thể trữ tình.

– Kết cấu của bài thơ là kết cấu sóng đôi.

– Sự tương đồng giữa trạng thái tâm hồn “sóng” và “em”:

+ Con sóng ở tự nhiên mênh mông biển lớn kia có rất nhiều đối cực khác nhau, trạng thái khác nhau. Cũng như tình yêu cũng thế, tình yêu cũng có rất nhiều cung bậc, trạng thái cảm xúc và cuối cùng điều muốn nói nhất ở đây chính là như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Hai câu đầu khổ 1)

+ Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của sóng khi tìm ra với biển khơi hay nói khác đi đó cũng chính là cuộc hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích. Và phải chăng nó giống như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (hai câu cuối khổ 1)

+ Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng chính là điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, mọi việc, mọi chuyện dường như khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3,4)

+ Sóng luôn luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao mãnh liệt, trăn trở cứ lặp đi lặp lại không yên, và cũng như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5,6,7,8)

+ Sóng còn chính là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu và lấy cái vĩnh cửu của sóng để nói, để ví von với tình yêu. Và đó là khát vọng muôn đời của bất cứ ai trong cuộc đời khi yêu nồng cháy. Và trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình trong bài thơ) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (khổ cuối)

Câu 4 (trang 157)

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Nó được thể hiện qua:

– Sự đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu dễ thương và chung thủy trong tình yêu

– Sự mãnh liệt, táo bạo, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Luyện tập

Câu 1 (trang 157)

Những bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển như:

– Biển (Xuân Diệu)

– Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)

– Bên Biển (Huy Cận)

* Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ Sóng – Xuân Quỳnh

– Nội dung: bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người

– Nghệ thuật: hình ảnh sóng đôi sóng và em, thể thơ năm chữ, ngôn ngữ thơ dung dị, trong sáng…

Xem thêm:

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Số 2: Soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh

I – Hướng dẫn học bài

Câu 1 : Anh ( chị ) có nhận xét gì về âm điệu của bài thơ ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào ?

Âm điệu và nhịp điệu bài thơ mềm mại , tưởng như những đợt sóng ập vào bờ, dào dạt , bộc lộ cõi lòng một cách cô đúc, khúc triết nhưng lại có những âm hưởng ngân vang như những đợt sóng vỗ vào bờ .

Âm điệu, nhịp điệu đó đã được tạo bởi yếu tố : thể thơ 5 chữ, bút pháp trữ tình – lãng mạn, nhịp điệu da diết, nhẹ nhàng, mềm mại, đi theo cấu tứ – mạch cảm xúc của bài thơ một cách nhuần nhuyễn .

Dữ dội / và dịu êm ( 2-3)

Ồn ào / và lặng lẽ ( 2-3)

Sông / không hiểu nổi mình (1-4)

Sóng / tìm ra tận bể  (1-4)

Sử dụng vần chân / vần cách : như một vòng tuần hoàn của từng đợt sóng.

Câu 2 : Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

–  Hình tượng nghệ thuật đại diện cho chủ thể trữ tình trong bài thơ là sự xuất hiện với mật độ dày đặc: những con sóng.

–  Khách thể đời sống : Sóng – “tập thể những cơn sóng” đại diện cho khát vọng lớn lao, cho đời sống tâm hồn phong phú luôn hướng đến một lí tưởng cao cả của cuộc đời : khát vọng về sự bình yên, những điều bình dị của cuộc sống của người phụ nữ với trái tim nồng ấm , hồn hậu. Song hành cùng hình tượng “em” thể hiện các bình diện của con người đang chìm đắm vào trong thế giới của xúc cảm khi đối diện với những xúc tác của đời sống.

–  Ở khổ thơ thứ nhất và khổ thơ thứ 2  : Hình tượng con sóng với các trạng thái đối cực, đỉnh điểm của dồn nén, và bắt đầu cuộc hành trình của nó trải dài trên bề mặt khi không tìm được lời giải đáp – song hành cùng hình tượng em với nỗi khát vọng của tình yêu cũng luôn cồn cào, tha thiết , trào dâng trong đời sống tâm hồn. ( Dữ dội- dịu êm , ồn ào- lặng lẽ , bồi hồi)

–  Ở khổ thơ thứ 3 và khổ thơ thứ 4 : Là nỗi băn khoăn, trăn trở của con sóng khi đã ùa ra bề mặt, và sự lặn lục lại những chất chứa trong lòng của hình tượng “em” – sự tràn ngập đồng thuận với lời nghi vấn về những xúc cảm trong lòng.

“ Em nghĩ về biển lớn

 Từ nơi nào sóng lên ?”

–  Ở khổ thơ thứ 5 : Khổ thơ đặc biệt trong bài thơ khi những cảm xúc dâng trào đạt dến đỉnh điểm là khổ thơ mang tính cô đúc, chắt lọc, dồn nén mạch nguồn của những con sóng, và cả con sóng trên bề mặt hòa nhập vào con “sóng lòng” và xúc cảm tự thân của hình tượng trữ tình : “Em”

“Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.”

–  Ở khổ thơ thứ 6 và thứ 7 : là con sóng của thủy chung- con sóng của quy luật tự nhiên –luôn hướng về vạch đích của chính nó, và trái tim của hình tượng “em” cũng vậy – sự đồng nhất lí tưởng , thế giới tâm hồn của hai hình tượng

–  Khổ thơ thứ 8 và khổ thớ thứ 9 là suy ngẫm về những năm tháng cuộc đời – về những quy luật bất biến của tạo hóa , và khát vọng được hòa nhập, “tan ra” cùng tình yêu biển lớn, tình yêu cuộc đời

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.”

Câu 3 : Giữa sóng và em trong bài thơ có mối quan hệ như thế nào ? Anh ( chị) có nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu của bài thơ ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Hai hình tượng có sự quấn quít, tương thích với nhau , song hành cùng nhau suốt cả bài thơ, Sự phát triển của hình tượng Sóng- từ những hỗn độn với trạng thái thuộc hai cực đối lập , từ dữ dội, đến dịu êm cũng như những nghĩ suy vì không hiểu lòng mình đã trở thành nền tảng, là bức tranh toàn cảnh để nói lên cõi lòng của nhân vật trữ tình “em”

Từ đó cùng tìm ra “tiếng nói chung” để được hòa tan, vỡ òa thành “trăm con sóng” nhỏ cùng biển lớn tình yêu, biển lớn cuộc đời, góp phần xây dựng đời sống tinh thần phong phú cho chủ thể trữ tình.

Sự tương đồng giữa hai hình tượng, và của người phụ nữ đang chìm đắm trong bể lớn tình yêu :

  • Lúc băn khoăn , nghĩ suy về tình yêu về muôn phần của cuộc sống :

“ Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên ?

  • Lúc bày tỏ trực diện nỗi nhớ thương da diết bằng những ngôn từ mãnh liệt và cả sự vỡ òa của từng đợt sóng

“ Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.”

  • Lúc nhìn nhận tính khách quan của con sóng, để rồi nói về quy luật của tình yêu , sự phát triển của cảm xúc trong chủ thể trữ tình

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.”

–         Đối với nghệ thuật kết cấu của bài thơ nằm trong mạch cảm xúc , và sự phát triển của mạch cảm xúc kéo dài suốt cả bài thơ. Khi tương tác với chủ thể đời sống mang tính khách quan : trước biển lớn, trước quy luật tự nhiên của những đợt sóng vào bờ , và trước những nghĩ suy về cuộc đời, năm tháng trôi đi tạo ra chất xúc tác với thế giới tâm hồn : những cảm xúc tự ý nhị ,cho đến mãnh liệt, và tuôn trào, trở thành khát vọng, lí tưởng , tiếng nói chung cho hai hình tượng sóng đôi : Sóng- Em

Câu 4 : Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh ( chị ) , tâm hồn người phụ nữ đó có đặc điểm gì ?

–  Trước hết, đối với bài thơ , cảm xúc không chỉ gói gọn trong những suy nghĩ tình cảm, nó còn là sự dằn vặt tự thân, sự trải nghiệm khi đối diện trước muôn ngả của cuộc đời , khát vọng được hòa nhập được cống hiến

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

–  Đó là quá trình trải nghiệm của tuổi trẻ, tâm hồn người phụ nữ trở nên nhạy cảm, dễ tiếp nhận những khách thể đời sống xung quanh, song đó cũng là trái tim với ước vọng thủy chung, khát khao những ước muốn đời thường, bình dị, thể hiện lí tưởng khát vọng lớn lao khi đặt tình cảm cá nhân, tình yêu trong mối quan hệ cộng đồng.

II – Luyện tập

Có nhiều câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển . Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó.

1, Biển (Xuân Diệu)

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết

Để những khi bọt tung trắng xoá

Và gió về bay toả nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thoả,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

2, Thuyền Và Biển (Xuân Quỳnh)

Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển:

“Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biển khơi

Cánh hải âu, sóng biếc

Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng

Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa… còn xa

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thầm thì gửi tâm tư

Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ

Biển ào ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió”

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Xem thêm:

Số 3: Soạn văn bài Sóng

Câu 1:  Nhận xét

Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi:

Câu thơ ngắn, thể thơ 5 chữ

Nhịp thơ thường nhẹ nhàng, gợi dư âm sóng biển:

Dữ dội / và êm dịu (2/3)

Ồn ào / và lặng lẽ (2/3)

Sông / không hiểu nổi mình (1/4)

Sóng / tìm ra tận bể (1/4)

Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

Câu 2: Phân tích hình tượng

“Sóng” là sóng biển, “sóng” ở đây là sóng tình – điều này càng sâu sắc, thấm thía hơn trong thi phẩm, dùng sóng biển để nói lên sóng tình, lấy hiện tượng thiên nhiên để giãi bày tình cảm lòng người.

Hình tượng sóng được gợi lên từ âm hưởng sóng biển – dạt dào, Song song cùng hình tượng “sóng” là “em” hình tượng đẹp đẽ để diễn tả tình yêu.

Ở khổ 1 và 2, sóng được đặt trong trạng thái đối cực, gợi sự liên tưởng đến trạng thái tâm lí của tình yêu

  • Khi “ dữ dội ồn ào” lúc biển động bão tố, phong ba nổi lên vỗ sóng lúc lại “dịu êm, lặng lẽ” khi biển lặng, bình minh lên nhẹ nhàng sóng vỗ.
  • Sóng được diễn tả dưới nhiều cung bậc hình thức, nghệ thuật đối lập để thấy được những trạng thái của sóng biển và đồng thời cũng ẩn dụ thể hiện cho những cung bậc cảm xúc khác nhua khi yêu lúc giận hờn, lúc lại yêu thương của người con gái.

Khổ 3 và 4, từ hình tượng sóng nhà thơ đã nhận thức về tình yêu mình – Tình yêu sánh ngang biển lớn, sáng ngang cuộc đời:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

 Hình thức nghi vấn,  thể hiện nỗi băn khoăn đi tìm cội nguồn của sóng, của tình yêu nhưng bất lực. Hai câu thơ cuối là lời thú tội hồn nhiên nhưng sâu sắc. Đó chính là quy luật của tình yêu.

Khổ 5 và 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả bằng những liên tưởng so sánh, độc đáo thú vị:

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu là thường trực: khi thức, ngủ, da diết, mãnh liệt:

Lúc nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn ngàn cách trở

 Cứ thế, “sóng” và “em” xoắn xuýt sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập vào nhau, hòa tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng “sóng” của Xuân Quỳnh.

Câu 3:

Hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một, tuy hai mà một. Sóng cũng giống như tâm trạng của người con gái trong tình yêu. Làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát sóng biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng như sóng biển, đa dạng và biến hóa, mạnh mẽ và thủy chung. Rồi cô ước ao hóa thành cong sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”.

Câu 4: Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu, cô khao khát một tình yêu chân thành, mãnh liệt. Tâm hồn của một người đang yêu đã thành thực với chính lòng mình. Tuy bày tỏ như vậy nhưng lời tỏ tình vẫn nhẹ nhàng, sâu sắc và đầy nữ tính, khao khát một tình yêu vĩnh hằng trước sự hữu hạn của cuộc đời con người.

Luyện tập

Bài tập: Sưu tầm những câu thơ, bài thơ

Chuyện tình sóng và biển

Có một lần biển và sóng yêu nhau,

Người ta bảo biển là tình đầu của sóng.

Sóng dữ dội vỡ bờ cát trưa nóng bỏng,

Biển rì rầm hát mãi khúc tình ca.

Có một lần sóng nông nổi đi xa,

Bao kẻ đến và tỏ tình với biển.

Biển sợ rằng sóng không về vĩnh viễn,

Nên đành rằng hò hẹn với vầng trăng.

Sóng trở về thế là biển ăn năn,

Sóng đâu nợ để biển xanh kia vô tội.

Tình chỉ đẹp khi không còn gian dối,

Và bỏ đi kể từ đó không về.

Có một lần anh đã kể em nghe.

Chuyện tình yêu của chúng mình vốn không đơn giản,

Anh phiêu lưu còn em thì lãng mạn,

Và thời gian hò hẹn cũng mong manh.

Sóng bạc đầu từ đó phải không anh?

Còn biển kia vẫn xanh màu huyền bí?

Không phải đâu em biển kia không chung thủy,

Dẫu bạc đầu sóng vẫn mãi thủy chung.

Anh dắt em giữa biển nghìn trùng,

Nghe dã tràng kể chuyện xưa xa vắng.

Dẫu không phải tình đầu em trong trắng,

Chỉ mong anh một lòng với cổ tích biển ngày xưa!

(Trần Quốc Tuấn)

Biển

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết,

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

(Xuân Diệu)

Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Sóng của Xuân Quỳnh

  1. Giá trị nội dung
  • Dựa vào việc quan sát, chiêm nghiệm về những con sóng trước biển cả mênh mông, phát hiện ra những cung bậc đa dạng, phức tạp của cảm xúc trong tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.
  • Khao khát về tình yêu, hạnh phúc của một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa hiện đại trong tình yêu.
  1. Giá trị nghệ thuật
  • Thể thơ năm chữ tạo âm điệu sâu lắng, dạt dào.
  • Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng và cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng
  • Giọng thơ vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính
  • Xây dựng hình ảnh ẩn dụ – với hình tượng sóng, vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ
  • Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập – tương phản,…

Xem thêm:

Số 4: Soạn bài Sóng Xuân Quỳnh

Câu 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ. Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Trả lời:

– Âm điệu, nhịp điệu bài thơ: nhịp thơ là nhịp sóng lúc dạt dào sôi nổi, lúc thì thầm sâu lắng.

– Âm hưởng nhịp nhàng đó được tạo nên bằng thể thơ ngũ ngôn với những câu thơ thường là không ngắt nhịp và được nối vần qua các khổ thơ liên kết. Tả nhịp điệu bên ngoài của sóng cũng là để tả nhịp điệu bên trong của tâm hồn nhà thơ, một tâm hồn sôi nổi, thiết tha, khát khao.

Câu 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Trả lời:

Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng:

– Lớp nghĩa tả thực: sóng ở đây là những đợt sóng biển miên man vô hạn.

– Sóng là những hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng, trạng thái, những cung bậc tình cảm, cảm xúc của người phụ nữ đang rạo rực, khao khát yêu thương. Mỗi trạng thái, tâm hồn đều có sự tương đồng với một khía cạnh, một đặc tính của sóng.

Câu 3 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Giữa sóng và em trong bài thơ có quan hệ như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Trả lời:

– Mối quan hệ giữa sóng và em: Xuân Quỳnh không so sánh em như sóng mà trực tiếp hóa thân vào sóng. Vì thế, sóng với em tuy 2 mà 1, sóng đã mang sẵn vẻ đẹp của tâm hồn em trong tình yêu.

– Nghệ thuật kết cấu của bài thơ: Con sóng của biển cả và con sóng của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu song hành với nhau, từ đó tạo nên kết cấu song hành trong toàn bộ bài thơ.

– Sự tương đồng giữa sóng và em:

+ Sóng luôn tìm ra bể cũng như em luôn tìm đến tình yêu đích thức

+Sóng luôn dạt vào bờ cũng như em luôn nhớ tới anh

+ Sóng luôn tan ra giữa đại dương cũng như luôn hi sinh, dâng hiến trong tình yêu.

Câu 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/ chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

Trả lời:

Bài thơ là lời tự bạch của tâm hồn người phụ nữ đang yêu. Mượn hình ảnh sóng, nhà thơ diễn tả tình yêu, thể hiện trái tim dữ dội và dịu êm vừa phong phú, phức tập vừa tha thiết, sôi nổi, rạo rực và khao khát yêu thương của một tâm hồn phụ nữ chân thành, nồng hậu, dám bày tỏ khát vọng của mình trong tình yêu, trong hạnh phúc đời thường.

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Số 5: Soạn văn 12 bài Sóng

I. Tìm hiểu chung

  1. Tác giả

a) Cuộc đời

– Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942-1988)

– Quê ở làng La Khê- Hà Đông- Hà Tây

– Xuân Quỳnh có một tuổi thơ thiếu thốn tình thương

  • Mẹ mất sớm
  • Không được ở với cha

-> Có lẽ chính điều này đã tác động rất lớn đến Xuân Quỳnh khiến cho nhà thơ luôn luôn

khao khát mái ấm gia đình, thơ bà thì dạt dào cảm xúc yêu thương.

– Ban đâu Xuân Quỳnh chưa đến sự nghiệp văn chương mà là một diễn viên múa. Bà yêu

một người bạn đồng nghiệp sau đó họ chia tay vì không hợp nhau.

– Sau này Xuân Quỳnh chuyển sang làm thơ và nên duyên vợ chồng với nhà viết kịch nổi

tiếng lưu Quang Vũ. Cả hai người đã có những phút giây hạnh phúc bên nhau mặc dù cả

hai đều có con riêng. Thế nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì gia đình họ gặp phải

một tai nạn kinh hoàng. Và tai nạn ấy đã cướp đi tính mạng của tất cả gia đình họ.

– Xuân Quỳnh là một người phụ nữ có cuộc đời đa đoan nhiều lo âu vậy nên bà rất biết

quý trọng và nâng niu hạnh phúc gia đình.

b) Sự nghiệp

– Xuân Quỳnh là một nhà thơ trẻ tiêu biểu thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước

– Tác phẩm chính của bà: tự hát, hoa dọc chiến hào, tiếng gà trưa…

– Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh: Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ

nữ giàu tình yêu thương, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm, đầy mãnh liệt

và khát khao trong tình yêu. Vừa lo âu về sự tàn phai đỗ vỡ cũng như dự cảm bất trắc.

  1. Bài thơ

a) Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ được sáng tác vào năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền.

Bài thơ ra đời khi nhà thơ đã phải niếm trải những đỗ vỡ của cuộc hôn nhân thứ nhất. Đây

là một bài thơ biểu hiện cho phong cách nghệ thuật của Xuân Quỳnh.

– Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.

b) Bố cục: 3 phần

– Hai khổ đầu: sóng và tình yêu

– Bốn khổ sau: tình yêu và nỗi nhớ

– Còn lại: tình yêu và khát vọng

c) Hình tượng

– Có hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn

nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một => hình tượng này tuy hai mà một.

II. Đọc hiểu chi tiết

  1. Sóng biển và tình yêu

– Nhà thơ mở đầu bằng những đối lập của sóng biển:

“dữ dội” >< “dịu êm”

“ồn ào” >< “lặng lẽ”

-> Sóng biển được diễn tả dưới nhiều cung bậc hình thức, nghệ thuật đối lập để thấy được

những trạng thái của sóng biển. Và đồng thời nó cũng ẩn dụ cho hình tượng người em gái

đang yêu. Khi yêu con gái thường có những cung bậc cảm xúc khác nhau lúc yêu thương

nhưng lúc lại giận hờn vu vơ.

– Nghệ thuật đối lập “sông” >< “bể” cho thấy giới hạn, tình yêu thì không thể giới hạn

người con trai không hiểu được người con gái thì người con gái sẽ tìm đến một người có

tấm lòng rộng lớn hơn đủ hiểu người con gái là được.

-> Bốn câu thơ thể hiện được quan niệm mới mẻ trong tình yêu của Xuân Quỳnh. Người

con gái không phải chờ đợi mà tự có thể đi tìm lấy hạnh phúc của mình, quyết đình rời xa

sông để tìm đến bể. quy luật của sóng từ trước đến nay vẫn thế cũng như quy luật của tình

yêu cũng luôn mãi dạt dào trong trái tim trẻ.

  1. Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ

– Đã yêu là phải nhớ nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:

“Đố ai sống được mà không yêu không nhớ không thương một kẻ nào”

– Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh của sóng để cắt nghĩa tình yêu tuy nhiên nhà thơ lại

không thể lí giải được. Nhà thơ tự mình đặt ra hàng loạt những câu hỏi tu từ nhưng cuối

cùng lại trả lời trong một cái lắc đầu đáng yêu “em cũng không biết nữa khi nào ta yêu

nhau”.

– Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ, con sóng ngoài kia ngày đêm vỗ vào bờ, dù là con sóng

dưới lòng sông, con sóng trên mặt nước, dẫu có muôn với cách trở thì con sóng vẫn nhớ

bờ mà vỗ về tha thiết, còn người con gái thì nhớ đến anh cả trong mơ vẫn cứ tưởng là vẫn

thức.

-> Như vậy hình tượng sóng để bộc lộ cho nỗi nhớ của mình. Đó là nỗi nhớ cháy bỏng,

nhớ da diết không thể nào nguôi.

– Nhà thơ chọn cách nói ngược để thấy được sự yêu thương ấy. dẫu tình yêu có ngang trái

đến mức nào thì em cũng chỉ nghĩ về phương anh mà thôi.

  1. Tình yêu và khát vọng

– Bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập nhà thơ đã khẳng định sự hữu hạn nhỏ bé của đời

người, sự ngắn ngủi mong manh như sương khói của tình yêu. Nó đối lập với sự vĩnh

hằng của thiên nhiên.

– Và từ hình ảnh sóng vỗ bờ thi sĩ thể hiện ước nguyện của mình làm sao có thể tan ra để

trở thành những con sóng vĩnh cữu đó mãi mãi hòa vào đại dương tình yêu đến muôn đời.

III. Tổng kết

– Nhà thơ Xuân Quỳnh đã mang đến cho chúng ta một bài thơ giàu cảm xúc. Không

những thế nó còn mang tính triết lý khi nói về quy luật của tình yêu. Đã yêu là phải nhớ

mà đã nhớ thì đến khi mơ vẫn cứ nghĩ là mình còn thức. Với việc sử dụng thủ pháp nghệ

thuật linh hoạt nhà thơ đã thành công trong việc diễn đạt tình yêu.

Số 6: Soạn bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Câu 1. Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ.  âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Trả lời :

–  Âm điệu, nhịp điệu bài thơ rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải. Từng nhịp thơ như nhịp con tim, như từng con sóng vỗ vào bờ, cuộn trào theo từng nỗi nhớ.

– Câu thơ ngắn, đều .

– Gieo vần chân, vần cách, gợi con sóng đuổi nhau .

Câu 2. Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Trả lời:

–  “Sóng” là “em” ⟶ Sóng và em song song nhau để diễn tả tình yêu.

– “ sóng” và “ em” là hình  tượng trung tâm của tác phẩm .Sóng ẩn dụ cho hình ảnh người con gái đang yêu.

–  hai hình tượng bổ sung cho nhau trong suốt cả bài thơ.tuy hai mà một từ đó tạo nên âm vang cộng hưởng cho tình yêu mà Xuân Quỳnh muốn thể hiện.

– từ khát vọng yêu đến sự tìm hiểu đến tận cùng tình yêu. từ lo âu về sự không bền vững của tình yêu đến sự nhớ nhung và khao khát tình yêu

Câu 3. Giữa sóng và em trong bài thơ có quan hệ như thế nào? Anh chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Trả lời:

– Giữa “sóng” và “em” có quan hệ tương đồng (“sóng” chính là ẩn dụ cho tình yêu và tâm hồn nhân vật “em” ).

– Kết cấu bài thơ là kết cấu song hành liền mạch .

– Sự tương đồng đó là:

luôn hướng về bờ như em hướng về anh

luôn nồng nàn trong tình yêu cuộn trào nỗi nhớ,như sóng vỗ liên hồi.

tìm hiểu tình yêu như sóng tìm ra tận bể

qua đó cho thấy vẻ đẹp tình yêu của Xuân Quỳnh thật sự nồng nhiệt như lớp sóng đang gào thét

Câu 4. Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/ chị tâm hồn đó có những đặc điểm gì ?

Trả lời:

– Đó là một tâm hồn rất chân thành, dịu dàng nhưng cũng sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu.

– Tâm hồn đầy nữ tính và rất thủy chung, khát khao một tình yêu vĩnh hằng.

* Luyện tập:

Có nhiều bài thơ, câu thơ so sánh tình yêu với sóng và biển. Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó.

Gợi ý:

+ “Anh xin làm sóng biếc

  hôn mãi cát vàng em”

( Xuân Diệu, Biển )

+ “Chỉ có thuyền mới hiểu

  Biển mênh mông nhường nào

  Chỉ có biển mới biết

  Thuyền đi đâu, về đâu”

( Xuân Quỳnh, Thuyền và biển )

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Số 7: Soạn bài Sóng chi tiết

Câu 1 (trang 156 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi các yếu tố:

+ Câu thơ ngắn, đều (5 chữ)

+ Nhịp thơ thường thuận, gợi dư âm sóng biển: nhịp (2/3), (1/ 4)

+ Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau

Câu 2 (trang 156 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Những trạng thái đối nghịch và khát khao táo bạo của sóng

+Sóng luôn tồn tại ở những trạng thái đối nghịch: dữ dội- dịu êm, ồn ào- lặng lẽ

+ Giống như tâm hồn người con gái đang yêu lúc nào cũng biến động

+ Cháy bỏng khát khao thấu hiểu trong tình yêu , chủ động đi tìm sự thấu hiểu đó

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

– Sự tương đồng giữa tình yêu và biển cả: sóng mãi xô bờ, khát vọng tình yêu là muôn thủa

– Trước tình yêu thi sĩ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi nói sóng bắt đầu, nơi nào ta yêu nhau nhưng đành bất lực

– Nỗi nhớ của sóng: sóng nhớ bờ cồn cào da diết đến không ngủ được

– Nỗi nhớ của lòng em: cả trong mơ còn thức

– Tình yêu chung thủy dù đi ngược về xuôi vào Nam ra Bắc lòng em luôn hướng về anh, dù muôn vàn cách trở sóng luôn tới bờ, lòng em cũng như thế

– Nỗi niềm tiếc nuối thời gian ngắn ngủi: cuộc đời dài thế, năm tháng vẫn qua,….

– Khát vọng về một tình yêu vĩnh cửu được tan hết mình vào tình yêu như những con sóng nhỏ ngàn năm còn vỗ bờ

Câu 3 (trang 156, 157 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Sóng và em có quan hệ tương đồng, sóng ẩn dụ cho tâm hồn nhân vật “em”

+ Sóng và em lúc hòa hợp, lúc tách rời

+ Kết cấu song hành làm tăng hiệu quả của nhận thức, khám phá chủ thể trữ tình, tình yêu thủy chung, bất diệt

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ, cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát và suy ngẫm về tình yêu, những biến chuyển tinh tế

– Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn, với những con sóng

+ Sự đa dạng muôn màu sắc, trạng thái: dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ

+ Không rõ cội nguồn, không thể định nghĩa, lý giải được

+ Sự mãnh liệt, sâu sắc trong khát khao sống, yêu thương

+ Sự chung thủy, gắn bó bền chặt

→ Sóng và em cộng hưởng trọn vẹn trong suốt bài thơ, để hòa quyện vào nhau, sóng là biểu trưng cho khát vọng tình yêu của em

Câu 4 (trang 157 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):

– Tâm hồn người phu nữ là

+ một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu

+ Tâm hồn ấy mạnh dạn thành thực tự bộc lộ nhưng vẫn đầy nữ tính và rất thủy chung,

+ nhạy cảm với cái hữu hạn của cuộc đời nên khát khao một tình yêu vĩnh hằng

Luyện tập

Những bài thơ, câu thơ so sánh tình yêu với song với biển

– Biển – Xuân Diệu

– Hai nửa vầng trăng- Hoàng Hữu

………………..

Số 8: Soạn bài Sóng lớp 12

Câu 1 (trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Anh chị có nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ. Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Lời giải chi tiết:

Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ giống như những con sóng, lúc dạt dào sôi nổi, lúc thì thầm sâu lắng.

Âm điệu nhịp điệu được tạo nên bởi các yếu tố:

  • Thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn, súc tích.
  • Câu thơ thường không ngắt nhịp, nối vần qua các khổ thơ có liên kết.
  • Giọng thơ sôi nổi tha thiết.
  • Vần thơ đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

Câu 2 (trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Lời giải chi tiết:

Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng:

  • Lớp nghĩa tả thực: Sóng ở đây là những đợt sóng biển miên man vô hạn.
  • Sóng là những hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng, trạng thái, những cung bậc tình cảm, cảm xúc của người phụ nữ đang rạo rực, khao khát yêu thương. Mỗi trạng thái, tâm hồn đều có sự tương đồng với một khía cạnh, một đặc tính của sóng.

Câu 3 (trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Giữa sóng và em trong bài thơ có quan hệ như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Lời giải chi tiết:

a) Quan hệ giữa “sóng” và “em”

– “Sóng” là một thực thể mang trong mình nhiều tính chất đối lập: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ. Ẩn sâu hình ảnh “sóng” là hình ảnh “em”, bản chất của sóng chính là tính khí của “em” trong tình yêu. Sóng đã mang sẵn vẻ đẹp của tâm hồn em khi yêu.

– Xuân Quỳnh không so sánh “em” như sóng mà trực tiếp hóa thân vào sóng. Sóng và em tuy hai nhưng là một, có khi phân tách, có khi sóng đôi để diễn tả tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu.

b) Kết cấu bài thơ

Bài thơ có kết cấu song hành, con sóng của biển cả và con sóng lòng của người phụ nữ cùng song hành với nhau trong toàn bộ bài thơ.

c) Nét tương đồng

Bản tính và khát vọng của sóng và em:

  • Con sóng không chấp nhận không gian “sông” chật hẹp, “không hiểu” nổi sóng nên quyết liệt “tìm ra tận bể” khoáng đạt, để là chính mình.
  • Em cũng vậy, cũng khát khao tìm được tình yêu để được yêu thương và thấu hiểu, được là chính mình.
  • Bản chất của sóng từ “ngày xưa” đến “ngày sau” vẫn không hề thay đổi. Đó cũng chính là khát vọng muôn đời của “em”: được sống trong tình yêu bằng cả tuổi trẻ.

Những nỗi niềm của em về sóng, về tình yêu:

  • Đối diện với “muôn trùng sóng bể”, “em” đã có những suy tư, khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và “biển lớn” tình yêu.
  • “Em” băn khoăn về khởi nguồn của “sóng” rồi tự lý giải bằng quy luật của tự nhiên, nhưng rồi tự nhận thấy rằng khởi nguồn của sóng, thời điểm bắt đầu tình yêu thật bí ẩn.
  • Nỗi nhớ, lòng thủy chung của sóng và em:
  • “Sóng” nhớ đến bờ: nỗi nhớ bao trùm không gian (dưới lòng sâu – trên mặt nước), dằng dặc theo thời gian (ngày – đêm), nhớ đến “không ngủ được”.
  • “Sóng nhớ bờ” chính là “em” nhớ “anh”, nỗi nhớ của “em” cũng bao trùm không gian, thời gian, thậm chí thường trực trong tiềm thức, trong suy nghĩ “cả trong mơ còn thức”.

Khát vọng tình yêu vĩnh cửu của “em”:

Sóng chính là biểu tượng cho tình yêu mãnh liệt, trường tồn bởi vậy “em” khát khao được “tan ra” “thành trăm con sóng nhỏ” để được sống hết mình trong “biển lớn tình yêu”, để tình yêu bất diệt, vĩnh cửu. Đó cũng là khát khao của em được hiến dâng và hy sinh cho tình yêu muôn thuở.

Câu 4 (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/ chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

Lời giải chi tiết:

  • Bài thơ Sóng là lời tự bạch của tâm hồn người phụ nữ đang yêu. Mượn hình ảnh sóng, nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã diễn tả tình yêu tha thiết của người phụ nữ rất phong phú với nhiều cung bậc cảm xúc: nhớ nhung, khát vọng, suy tư,…
  • Bài thơ thể hiện trái tim người phụ nữ đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu và chung thủy trong tình yêu. Nhưng cũng táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc.
  • Người phụ nữ ấy dám bày tỏ khát vọng của mình về hạnh phúc đời thường. Dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Nội dung luyện tập

Câu hỏi luyện tập (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Có nhiều câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển. Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó.

Lời giải chi tiết:

Một số bài thơ, câu thơ sử dụng phép so sánh tình yêu với sóng và biển như:

Ví dụ 1:

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu về đâu

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau rạn vỡ.

(Thuyền và biển – Xuân Quỳnh)

Ví dụ 2:

Anh không xứng làm biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi.

(Biển – Xuân Diệu)

Ví dụ 3:

Sóng rì rầm ngoài bãi cát xa xôi

Cùng những cánh hải âu trở về trên bến

Mà hiểu lòng anh tháng ngày xao xuyến

Nhớ theo em dào dạt trong lòng.

(Biển – Puskin)

Ví dụ 4:

Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu, lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên.

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên.

(Thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)

Ví dụ 5:

Có một lần biển và sóng yêu nhau,

Người ta bảo biển là tình đầu của sóng.

Sóng dữ dội vỗ bờ cát trưa nóng bỏng,

Biển rì rầm hát mãi khúc tình ca.

(Chuyện tình biển và sóng – Trần Ngọc Tuấn)

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Số 9: Soạn bài Sóng

Bài 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ. Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Trả lời:

–  Câu thơ ngắn, đều (5 chữ)

– Về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ:

+ Nhịp thơ lúc nhịp nhàng, lúc dồn dập

+ Vần thơ: đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

+ Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

–  Nhịp thơ thường thuận, gợi dư âm sóng biển:

Dữ dội/và dịu êm (2/3)

Ồn ào/ và lặng lẽ (2/3 Sóng/ không hiểu nổi mình (1/4)

Sóng/ tìm ra tận bể (1/4)

–  Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

– Những âm điệu, nhịp điệu ấy được tạo thành bởi các yếu tố:

+ Những câu thơ liền mạch, không ngắt nhịp

+ Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

+ Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển.

Bài 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Trả lời:

– Hình tượng sóng được gợi lên từ âm hưởng sóng biển – dạt dào, nhẹ nhàng. Song song cùng hình tượng “sóng” là “em” để diễn tả tình yêu.

– Ở khổ 1 và 2, sóng được đặt trong trạng thái đối cực: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ gợi sự liên tưởng đến trạng thái tâm lí của tình yêu “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể“. Dường như sóng không chấp nhận được sự nhỏ hẹp của lòng sông mà phải toả ra với cái rộng dài: biển cả. Bước đi của sóng cũng là hành trình tìm đến khát vọng – khát vọng tự nhiên, chân chính, vươn tới cái đẹp, cái vĩnh hằng, trường tồn và bất tử. Khát vọng vươn ra tận bể của con sóng chính là khát vọng của tình yêu, khát vọng muôn đời của con người.

– Khổ 3 và 4, từ hình tượng sóng nhà thơ đã nhận thức về tình yêu mình – tình yêu sánh ngang biển lớn, sánh ngang cuộc đời:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Với hình thức nghi vấn, nhà thơ thể hiện nỗi băn khoăn đi tìm cội nguồn của sóng, của tình yêu nhưng bất lực.

–  Khổ 5 và 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả bằng những liên tưởng so sánh, độc đáo thú vị:

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

– Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu là thường trực: khi thức, ngủ, da diết, mãnh liệt:

“Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

“Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn ngàn cách trở”

Trong nỗi nhớ da diết này, nhà thơ thể hiện sự thuỷ chung tuyệt đối, niềm tin son sắt vào tình yêu – cuộc sống: Tình yêu nào rồi cũng đến bến bờ hạnh phúc.

–  Khổ 8: Câu thơ mang màu sắc triết lí, thể hiện sự lo âu, trăn trở:

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua”

Niềm lo âu, sự nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian, thể hiện niềm khao khát nắm lấy hạnh phúc trong hiện tại – ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh khó bền chặt của tình yêu, hạnh phúc.

– Khổ 9: Ước nguyện chân thành được hoà mình vào biển lớn, vào tình yêu cuộc đời:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ…

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

=> Khát vọng sống hết mình cho tình yêu với sự hi sinh, dâng hiến.

Bài 3 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Giữa sóng và em trong bài thơ có quan hệ như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Trả lời:

– Giữa sóng và em có quan hệ tương đồng, vì các chi tiết về “sóng” chính là những chi tiết ẩn dụ cho tình yêu và tâm hồn nhân vật “em“. Chúng có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một –> hình tượng này tuy hai mà một. Kết cấu song hành đó làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng giống như sóng biển, đa dạng và biến hoá, mạnh mẽ và thuỷ chung. Rồi cô ước ao hoá thành con sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”. Đây là kết cấu của một bài thơ trữ tình khó phân thành đoạn rõ ràng.

Tuy nhiên, nếu cần phải chia thành mấy đoạn, có thể chia như sau:

+ Đoạn 1: 4 câu đầu (ngẫu hứng về con sóng và tình yêu).

+ Đoạn 2: khổ 2, 3 (lí do, nguyên cớ của cảm hứng về sóng biển và tình yêu).

+ Đoạn 3: từ khổ 5 đến khổ 8 (Nối tiếp cảm hứng về sóng biển và tình yêu).

+ Đoạn 4: khổ cuối (Kết thúc bài thơ bằng ước vọng tình yêu vĩnh hằng).

–  Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn với những con sóng. Sự tương đồng đó là:

+ Đa dạng, muôn hình muôn vẻ:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước”

+ Không rõ cội nguồn, không thể cắt nghĩa:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?

+ Mãnh liệt, sâu sắc:

Sóng không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

“Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

+ Thủy chung:

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

Cứ như thế, sóng và em xoắn xuýt, sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập với nhau, hoà tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng sóng của Xuân Quỳnh.

–  Với nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng đôi: sóng và em – âm điệu dào dạt, bài thơ là bản tình ca ca ngợi tình yêu chân thành, mãnh liệt, thủy chung, thể hiện tâm hồn đôn hậu mà trẻ trung, sôi nổi trong khát vọng tình yêu, hạnh phúc.

Bài 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/ chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

Trả lời:

Tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có đặc điểm:

– Chân thành, tha thiết, nồng nàn, mãnh liệt trong tình yêu, một khi đã yêu thì ai cũng yêu hết mình, không có gì ngăn trở được đặc biệt người phụ nữ lại càng như vậy.

– Tình yêu của người phụ nữ rất phong phú, với nhiều cung bậc của tình yêu: khát vọng, suy tư, nhớ nhung, chung thủy,…

-> Khát vọng mãnh liệt, nhớ nhung da diết và đặc biệt là niềm chung thủy sắt son, bền vững trong tình yêu.

– Tình yêu của người phụ nữ rất đời thường, từ cực này sang cực khác, ước vọng của họ cũng rất khiêm nhường, chỉ mong được làm “con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu để ngàn năm còn vỗ”, nhưng đó không phải là thứ tình yêu chật hẹp, tầm thường mà luôn vươn tới một tình yêu rộng lớn, cao đẹp hơn: khi “sóng không hiểu nổi mình” thì dứt khoát “sóng tìm ra tận bể”.

Số 10: Soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh

Câu 1:  Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng:

– Câu thơ ngắn, thể thơ 5 chữ

– Nhịp thơ thường nhẹ nhàng, gợi dư âm sóng biển

– Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

Câu 2: Phân tích hình tượng

  • “Sóng” là sóng biển,  ở đây là sóng tình càng sâu sắc, thấm thía hơn, dùng sóng biển để nói lên sóng tình, lấy hiện tượng thiên nhiên để giãi bày tình cảm lòng người.
  •  Song song cùng hình tượng “sóng” là “em” hình tượng đẹp đẽ để diễn tả tình yêu.
  • Khổ 1, 2  sóng đặt trong trạng thái đối cực, gợi sự liên tưởng đến trạng thái tâm lí của tình yêu
  • Khi “ dữ dội ồn ào” lúc biển động bão tố, phong ba nổi lên vỗ sóng lúc lại “dịu êm, lặng lẽ” khi biển lặng.
  • Diễn tả dưới nhiều cung bậc hình thức ẩn dụ thể hiện cho những cung bậc cảm xúc khi yêu của người con gái.
  • Khổ 3, 4 hình tượng sóng nhà thơ đã nhận thức về tình yêu mình, Tình yêu sánh ngang biển lớn, sáng ngang cuộc đời:
  • Hai câu thơ cuối là lời thú tội hồn nhiên nhưng sâu sắc, quy luật của tình yêu.
  • Khổ 5, 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả bằng những liên tưởng so sánh, độc đáo thú vị.
  • Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu là thường trực: khi thức, ngủ, da diết, mãnh liệt:
  • Cứ thế, “sóng” và “em” xoắn xuýt sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập vào nhau, hòa tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:

=> Ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng “sóng” của Xuân Quỳnh.

Câu 3:

  • Sóng và em luôn song hành cùng nhau.  Sóng cũng giống như tâm trạng của người con gái trong tình yêu. Làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.
  • Kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát sóng biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng như sóng biển, đa dạng và biến hóa, mạnh mẽ và thủy chung, ước ao hóa thành cong sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”.

Câu 4: Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu, cô khao khát một tình yêu chân thành, mãnh liệt. Tâm hồn của một người đang yêu đã thành thực với chính lòng mình, khao khát một tình yêu vĩnh hằng trước sự hữu hạn của cuộc đời con người.

Luyện tập

Bài tập:Câu thơ, bài thơ

– Chuyện tình sóng và biển (Trần Quốc Tuấn)

– Biển (Xuân Diệu)

Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Sóng

Nội dung

– Dựa vào việc quan sát con sóng trước biển cả mênh mông, phát hiện ra những cung bậc đa dạng trong tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.

– Khao khát về tình yêu, hạnh phúc của một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa hiện đại trong tình yêu.

Nghệ thuật

– Xây dựng hình ảnh ẩn dụ – với hình tượng sóng, vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ

– Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập – tương phản,…

– Thể thơ năm chữ tạo âm điệu sâu lắng, dạt dào.

– Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng và cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng

– Giọng thơ vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính

Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.