Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Lưu biệt khi xuất dương chi tiết nhất

134
Top 10 mẫu soạn bài Lưu biệt khi xuất dương chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Lưu biệt khi xuất dương chi tiết nhất
4.8/5 - (16 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Lưu biệt khi xuất dương của tác giả Phan Bội Châu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Lưu biệt khi xuất dương chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Lưu biệt khi xuất dương

Số 1: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương

Trả lời câu hỏi

Câu 1 trang 5 SGK Ngữ Văn tập 2: Đọc Tiểu dẫn, chú ý bối cảnh lịch sử đất nước và những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ.

Trả lời:

– Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, Phan Bội Châu làm bài thơ này để từ giã bạn bè, đồng chí.

– Hoàn cảnh đất nước: Lúc này, đất nước đã mất chủ quyền, phong trào Cần Vương đã bị dập tắt.

– Ảnh hưởng từ nước ngoài: tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh.

Câu 2 trang 5 SGK Ngữ Văn tập 2: Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ như thế nào?

Trả lời:

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ: tức là phải biết sống cho phi thường, hiển hách, dám mưu đồ những việc kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn.

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: chí làm trai gắn liền với cái tôi, nhưng không phải là cái “tôi” cá nhân mà là một cái “tôi” công dân đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc đời.

– Sự hăm hở của người ra đi qua khát vọng muốn vượt theo cánh gió dài trên biển rộng để thực hiện lí tưởng cách mạng.

Câu 3 trang 5 SGK Ngữ Văn tập 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác (đối chiếu với phần dịch nghĩa)?

Trả lời:

* Câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác có sự khác biệt là:

– Câu 6: Nguyên tác: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ”. Nhưng câu thơ dịch chỉ chú ý đến “vượt bể Đông” mà không chú trọng đến ý thơ thể hiện được nhà thơ ý thức được gian khó. Do đó làm mất đi đôi chút lớn lao, mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình.

– Câu 8: Câu thơ dịch làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng của hình ảnh “nhất tề phi” – “cùng bay lên” đầy lãng mạn, hùng tráng.

Câu 4 trang 5 SGK Ngữ Văn tập 2: Theo anh (chị), những yếu tố nào đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ này?

Trả lời:

* Những yếu tố tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ.

– Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt của nhân vật trữ tình.

– Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang tầm cùng vũ trụ.

– Khí phách ngang tàng, dám đương đầu với mọi thử thách.

– Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng.

Luyện tập

Viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh nghệ của anh (chị) về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài.

Bài làm

Hai câu thơ kết như chuẩn bị cho một hành động kiệt xuất của những người mang tư tưởng lớn, chí khí lớn:

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Không gian là biển Đông rộng lớn. Hình tượng thơ vừa kỳ vĩ, lớn lao vừa lãng mạn, thơ mộng: Biển Đông “Đông hải” có ngọn gió dài “trường phong”, ngàn lớp sóng bạc “thiên trùng bạch lãng”. Lối nói nhân hóa “ thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” tái hiện hình ảnh người anh hùng vượt biển lớn đi tìm đường cứu nước

Câu thơ 7 có âm điệu rắn rỏi, thể hiện lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng với chính mình, trước bạn bè, đồng chí và đồng bào. Câu thơ 8 với âm điệu nhịp nhàng, bay bổng, cao dần, xa dần làm cho lời nguyện biến thành hành động, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm tin. Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, đưa nhận vật sánh ngang tầm vũ trụ. Đồng thời thể hiện khát vọng lên đường của nhân vật trữ tình sẵn sàng vượt mọi hiểm nguy, gian nan thử thách để tìm con đường cứu nước cho dân tộc.

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Số 2: Lưu biệt khi xuất dương soạn bài

Tác giả

– Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam, quê ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

– Ông là một nhà yêu nước, nhà cách mạng, nhà văn lớn. Phan Bội Châu để lại một kho tàng thơ văn đồ sộ.

– Những tác phẩm chính: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (viết trong thời kì lưu vong ở nước ngoài)…

Tác phẩm

Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông làm bài thơ Lưu biệt khi xuất dương để từ giã bạn bè, đồng chí.

Bố cục: 4 phần

+ Hai câu đề: Quan niệm về chí làm trai

+ Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc

+ Hai câu luận: Quan niệm về nguyên tắc hành xử mới trước vận mệnh đất nước

+ Hai câu kết: Tư thế, khát vọng buổi lên đường

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh lịch sử có ý nghĩa: Phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo. Tình hình chính trị đen tối. Trong bối cảnh đó, một số nhà Nho – trong đó có Phan Bội Châu đã nuôi ý tưởng đi tìm cho mình một con đường cứu nước mới theo lối dân chủ Tư sản đầu tiên ở nước ta, và ông đã hướng đến Nhật Bản, hay cũng chính là hướng về một chân trời mới đầy hi vọng và ước mơ.

Năm 1905, Phan Bội Châu sáng tác bài thơ này sau khi quyết định lên đường sang Nhật Bản.

Câu 2 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chiến sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ:

– Quan niệm về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ được thể hiện qua hai câu đầu:

Sinh vi nam tử yếu hi kì

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.

Tác giả nêu lên quan niệm mới mẻ: là đấng nam nhi phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều kì lạ “yếu hi kì” tức là phải sống phi thường, dám xoay chuyển được càn khôn.

→ Câu thơ thể hiện một thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở tài năng của mình.

– Hai câu thực nói về ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc:

Ư bách niên trung tu hữu ngã

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy

“Tu hữu ngã”: phải có trong cuộc đời → Ý thức trách nhiệm của cái tôi trước thời cuộc, không chỉ là trách nhiệm trước hiện tại mà còn là trách nhiệm trước lịch sử của dân tộc “thiên tài hậu” (nghìn năm sau).

→ Đó là ý thức sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó.

– Hai câu luận là thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ:

Giang Sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

+ Tác giả nêu lên tình cảnh của đất nước “non sông đã chết” và đưa ý thức vinh nhục gắn với sự tồn vong của đất nước, của dân tộc.

+ Đề xuất tư tưởng mới mẻ, táo bạo về nền học vấn cũ: “hiền thánh còn đâu học cũng hoài”.

=→ Bộc lộ khí phách ngang tàng, táo bạo, quyết liệt của một nhà cách mạng tiên phong: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết.

– Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường được thể hiện trong hai câu thơ cuối:

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi

+ Hình ảnh: Trường phong (ngọn gió dài); Thiên trường bạch lãng (ngàn lớp sóng bạc).

→ Hình tượng kì vĩ.

+ Tư thế: Nhất tề phi (cùng bay lên)

=→ Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, đưa nhân vật sánh ngang tầm vũ trụ. Đồng thời thể hiện khát vọng lên đường của nhân vật trữ tình sẵn sàng vượt mọi hiểm nguy, gian nan thử thách để tìm con đường cứu nước cho dân tộc.

Câu 3 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

So sánh nguyên tác với bản dịch trong câu 6 và câu 8 chưa lột tả được hết ý thơ:

– Câu 6 dịch “học cũng hoài” chỉ nêu ý phủ nhận, còn phiên âm “có đọc sách cũng ngu thôi” vừa phủ nhận vừa nêu được cái khí phách ngang tàng, táo bạo, dứt khoát.

– Câu 8: bản dịch Muôn trùng sông biển tiễn ra khơi → êm ả, bình thường vẫn chưa lột tả được sự phi thường của con người so với nguyên tác: Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên

→ Bức tranh mà con người là trung tâm vút bay cùng muôn ngàn sóng gió giữa biển khơi. Đây là một hình ảnh đẹp, kì vĩ lớn lao.

Câu 4 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Những yếu tố tạo nên sự lôi cuốn của bài thơ:

– Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt.

– Tư thế con người kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ.

– Khát vọng yêu nước cháy bỏng.

– Tư tưởng đổi mới tiến bộ, táo bạo, đi tiên phong cho thời đại → mở ra hướng đi mới cho phong trào giải phóng dân tộc.

Luyện tập

(trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2): Viết một đoạn văn …

Cảm nhận về nghệ thuật trong hai câu cuối của bài thơ cần chú ý:

+ Hình ảnh kì vĩ lớn lao: Trường phong (ngọn gió dài); Thiên trường bạch lãng (ngàn lớp sóng bạc)

+ Tư thế của con người: Nhất tề phi (cùng bay lên)

=→ Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, đưa nhận vật sánh ngang tầm vũ trụ. Đồng thời thể hiện khát vọng lên đường của nhân vật trữ tình sẵn sàng vượt mọi hiểm nguy, gian nan thử thách để tìm con đường cứu nước cho dân tộc.

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Số 3: Soạn văn Lưu biệt khi xuất dương

Câu 1:

Qua phần tiểu dẫn, ta thấy:

  • Bối cảnh lịch sử đất nước: đất nước đang lâm vào tình trạng nguy nan, bị giặc chiếm đóng. Nhiều phong trào yêu nước của các sĩ tử yêu nước bị thất bại, nhân dân nản chí, những anh hùng cứu nước bị hi sinh. Con đường cứu nước bế tắc.
  • Những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ: những ảnh hưởng từ nước ngoài khiến cho các nhà nho như Phan Bội Châu sôi sục tìm đường cứu nước. Rồi những ảnh hưởng từ Trung Hoa, Nhật Bản cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến dân tộc ta rất sâu sắc.

Câu 2:

Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ:

  • Quan niệm về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ. Đây là một quan niệm rất phổ biến thời phong kiến về ý chí của người nam nhi. Quan niệm này cho rằng là nam nhi thì phải có một kì tích lớn lao, làm nên chuyện lớn, dám mưu đồ tính toán, quan niệm sống tích cực và hoàn hảo, công tích, lưu danh muôn đời về sau.
  • Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: con người dám đối mặt với trời đất, vũ trụ để tự khẳng định mình.
  • Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những điều xưa cũ: Phan Bội Châu khẳng định một cách mới mẻ và sáng tạo. Qua đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm của ông đối với số mệnh của đất nước, thời cuộc.

Câu 3:

* Hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác chưa sát nghĩa, chưa lột tả được hết ý thơ:

  • Câu 6: bản dịch là “học cũng hoài” chỉ nêu ý phủ nhận, còn phiên âm “có đọc sách cũng ngu thôi” vừa phủ nhận vừa nêu được cái khí phách ngang tàng, táo bạo, dứt khoát.
  • Câu 8: bản dịch “Muôn trùng sông biển tiễn ra khơi” -> êm ả, bình thường vẫn chưa lột tả được sự phi thường của con người so với nguyên tác: “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên”.

Câu 4:

Những yếu tố đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ này:

  • Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt.
  • Tư thế con người kì vĩ, sáng ngang tầm vũ trụ.
  • Khát vọng yêu nước cháy bỏng.
  • Tư tưởng đổi mới tiến bộ, táo bạo, đi tiên phong cho thời đại -> mở ra hướng đi mới cho phòng trào giải phóng dân tộc.
  • Bài thơ mang một giọng điệu rất riêng: hăm hở, đầy nhiệt huyết.
  • Ngôn ngữ thơ bình dị mà có sức lay động mạnh mẽ.

Số 4: Soạn văn 11 Lưu biệt khi xuất dương

Đọc hiểu câu hỏi

Câu 1 (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Bối cảnh lịch sử có ý nghĩa đến sự ra đời bài thơ:

+ Phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo.

+ Tình hình chính trị đen tối.

+ Phong trào Đông Du được nhen nhóm, tạo điều kiện mở ra những điểm mới trong con đường cứu nước

->Trong bối cảnh đó, một số nhà Nho – trong đó có Phan Bội Châu đã nuôi ý tưởng đi tìm cho mình một con đường cứu nước mới theo lối dân chủ Tư sản đầu tiên ở nước ta, và ông đã hướng đến Nhật Bản, hay cũng chính là hướng về một chân trời mới đầy hi vọng và ước mơ.

Câu 2 (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Tư duy mới mẻ và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng được biểu lộ:

+ Quan niệm mới mẻ, táo bạo về chí làm trai: “ Phải lạ” tức là phải biết sống cho phi thường, biết mưu đồ việc lớn, lưu danh muôn đời. Đã làm trai phải tích cực, chủ động trpng cuộc sống, không được khuất phục trước số phận và hoàn cảnh.

+ Tự ý thức về cái tôi, về vai trò của mình trong cuộc đời và trong lịch sử: Cá nhân cần ý thức được và có trách nhiệm gánh vác những trọng trách của thời cuộc, có khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng, trí tuệ cho đời.

+ Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ: Trước cảnh đất nước rơi vào tay giặc, đau về nỗi nhục mất nước, phủ nhận cách học cũ kĩ, lạc hậu (đọc sách thánh hiền – đạo Nho) không hợp thời, vô nghĩa trong buổi mất nước nhà tan -> Tư tưởng sâu sắc, tiến bộ, thể hiện khí phách ngang tàn của nhà cách mạng tiên phong, có tinh thần trách nhiệm.

+ Khát vọng hành động và tư thể buổi lên đường:Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước, thể hiện khát vọng hòa nhập với vũ trụ bao la.

Câu 3 (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Cách dịch thơ ở 2 câu 6 và 8 chưa thể hiện được đầy đủ tinh thần so với bản gốc vì:

+ Thái độ của tác giả đối với những điều xưa cũ và khi lên đường vô cùng dứt khoát, quyết liệt với sự xuất thần cao độ của tác giả. Từ ngữ khi dịch thơ chưa toát hết ý tác giả muốn biểu đạt.

Câu 4 (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Sức lôi cuốn của bài thơ được thể hiện ở những điểm sau:

+ Tư tưởng sâu sắc, tiến bộ, thể hiện khí phách ngang tàng, táo bạo của nhà cách mạng tiên phong, có tinh thần trách nhiệm cao độ trong thời đại mới.

+ Con người với tư thế mới, khỏe khoắn, ngạo nghễ chứ không tầm thường và buông theo số phận.

+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ khiến tác phẩm trở thành tiếng lòng chung của nhiều chí sĩ yêu nước lúc bấy giờ.

Luyện tập (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Hai câu thơ bày tỏ thái độ quyết liệt, dứt khoát của tác giả trước tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước và nói lên khát vọng hành động cùng tư thế buổi lên đường. Người chí sĩ cách mạng đã xác định rõ bổn phận, trách nhiệm của bản thân đồng thời thấy được những việc cần phải làm để góp sức vào việc phục quốc. Những hình ảnh thơ mang tính vũ trụ, lớn lao: “bể Đông”, “cánh gió”, “sóng bạc”. Việc sử dụng những hình ảnh này như lời khẳng định đầy mạnh mẽ của tác giả về tư tưởng muốn thoát khỏi những điều đã cũ, vươn mình ghi dấu với thời đại, lưu danh muôn đời. Lúc này, ước mơ về một cuộc sống mà con người không còn là nô lệ, không phải đe mình dưới những luật lệ hà khắc và vô lí rõ ràng hơn bao giờ hết. Hai câu thơ khẳng định sức mạnh ý chí lớn lao của con người thời đại mới, khơi dậy sự nhiệt huyết của một thế hệ.

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Số 5: Soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương

Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Qua tiểu dẫn:

– Bối cảnh lịch sử đất nước:

+ Đất nước đang lâm vào tình trạng nguy nan, bị giặt chiếm đóng.

+ Nhiều phong trào yêu nước của các sĩ tử yêu nước bị thất bạn, nhân dân nản chí, những anh hùng cứu nước bị hi sinh.

+ Con đường cứu nước bế tắc.

– Những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ: ảnh hưởng từ Trung Hoa, Nhật Bản đã tác động đến dân tộc ta rất sâu sắc.

Câu 2 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

a) Hai câu đề.

– Khẳng định chí làm trai, lẽ sống cao đẹp.

– Phải lạ: Phải biết sống cho phi thường, biết mưu đồ việc lớn, xoay chuyển càn khôn, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời.

– Đã làm trai phải tích cực, chủ động trong cuộc sống, không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh.

=> Lí tưởng ấy tạo cho con người tư thế mới, khoẻ khoắn, ngang tàng, ngạo nghễ, chứ không tầm thường, buông xuôi theo số phận.

b) Hai câu thực.

– Tác giả tự ý thức về cái tôi – tự hào về vai trò của mình trong cuộc đời và trong lịch sử.

– Chí làm trai gắn với cái tôi trách nhiệm đáng kính. Giữa cuộc sống tối tăm mà có được cái tôi ấy quả là cứng cỏi và đẹp đẽ vô cùng.

– Câu hỏi tu từ có tính chất khẳng định, giục giã.

=> Quan niệm chí làm trai của Phan Bôi Châu mới mẻ tiến bộ và nhân văn.

c) Hai câu luận.

– Nêu bật một quan niệm sống đẹp đẽ của kẻ sĩ trước thời cuộc và lịch sử dân tộc: Đau về nỗi nhục mất nước, phủ nhận cách học cũ kỹ, lạc hậu (đọc sách thánh hiền – đạo Nho ) không hợp thời, vô nghĩa trong buổi nước mất nhà tan.

=> Tư tưởng sâu sắc, tiến bộ nhất, thể hiện khí phách ngang tàng, táo bạo, của nhà cách mạng tiên phong, có tinh thần trách nhiệm cao độ trong thời đại mới.

d) Hai câu kết.

– Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. Thể hiện một khát vọng lớn, một sự hoà nhập với vũ trụ bao la.

– Con người là trung tâm lồng lộng giữa trời biển mênh mông, như đang bay lên cùng muôn ngàn con sóng

– Hình ảnh lãng mạn, hào hùng, giàu chất sử thi.

Câu 3 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Lời dịch của hai câu 6 và 8 so với nguyên tác đã có phần chưa sát nghĩa, cụ thể:

– Câu 6: Câu thơ dịch là “học cũng hoài” chỉ thể hiện được ý phủ nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả.

– Câu 8: Câu thơ dịch chưa khắc họa được rõ nét tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác: “nhất tề phi” – “cùng bay lên”.

Câu 4 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Tình yêu quê hương, đất nước của con người

– Lí tưởng sống, lẽ sống cao đẹp, tiến bộ.

– Tư thế con người kì vĩ, sáng ngang tầm vũ trụ.

– Niềm khao khát, đương đầu vào thử thách.

– Gọng thơ thay đổi tài tình và linh hoạt.

Luyện tập Lưu biệt khi xuất dương

Cảm nhận về nghệ thuật trong hai câu cuối của bài thơ.

+ Không gian: biển Đông rộng lớn.

+ Hình ảnh kĩ vĩ lớn lao: Trường phong (ngọn gió dài); Thiên trường bạch lãng (ngàn lớp sóng bạc).

+ Tư thế của con người sánh ngang tầm vũ trụ: Nhất tề phi (cùng bay lên).

+ Lối nói nhân hóa “thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”.

=> Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, thể hiện lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm tin.

Số 6: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương ngắn nhất

Câu 1 (trang 5 SGK Ngữ Văn lớp 11 tập 2):

Bốn câu thơ đầu thì thể hiện chí làm trai của nhân vật trữ tình: rằng đã sinh ra làm nam nhi phải làm chuyện khác thường và  phải làm nên nghiệp lớn.

Tuy nhiên thì ý thức về hoài bão với sứ mệnh của nhân vật trữ tình ở đây có sự khác biệt  ở chỗ:  Anh ý thức được sâu sắc với sứ mệnh của mình, bởi vậy có tâm thế chủ động  khác với những người tráng sĩ thuở xưa ra đi trong sự dùng dằng, bịn rịn và ép buộc:

“Chân bước xuống thuyền với nước mắt như mưa”.

Đặc biệt còn thể hiện  được  niềm tin vào thế hệ sau khi sẽ kế tục làm nên vinh quang cho đất nước.

Câu 2 (trang 5 sgk Ngữ Văn lớp 11 tập 2):

Các từ : tử hĩ và đồ nhuế đã tụng diệc si thể hiện được thái độ quyết liệt và tình cảm rất đau đớn của nhà thơ trước thực trạng của đất nước.

Riêng trong câu 6 thì thái độ của nhà thơ với nền tư tưởng học vấn đã cũ: nhìn trung thực với  khách quan vào hiện thực khi nhận thức chính xác được rằng, nền của Hán học đã suy tàn và không còn hợp để phát triển với canh tân đất nước. Đó là tư tưởng của  tiến bộ.

Câu 3 (trang 5 sgk Ngữ Văn lớp 11 tập 2):

Hai câu 7 – 8  đã thể hiện với  khát vọng muốn dấn thân và  làm nên nghiệp lớn của tác giả. Hình ảnh với  Muôn lớp sóng bạc cùng bay theo là một hình tượng  đã mang vẻ đẹp rất  lãng mạn và  bay bổng và tráng lệ, thể hiện với  tâm hồn kì vĩ và phóng khoáng của nhân vật trữ tình.

Câu 4 (trang 5 sgk Ngữ Văn lớp 11 tập 2):

Bài thơ có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ với các thế hệ thanh niên đầu của  thế  kỉ XX  bởi sự tiến bộ và  thức thời và tỉnh táo của nhà thơ  với trước hiên thức. Đặc biệt là thái độ tin tưởng với  hi vọng của nhà thơ với thế hệ trẻ, khác với các nhà Nho trước đó.Câu 5:

Vấn đề  về  “tình yêu và thù hận” đã được giải quyết xong trong mười sáu lời thoại này:

Vấn đề thù hận với  hai dòng họ được Rô – mê – ô giải quyết vô cùng kiên quyết: Tôi sẽ thay đổi tên họ và  sẽ xé nát cái tên đó vì nó là kẻ thù của em; chẳng phải Rô-mê-ô cũng phải Môn-ta-ghiu nếu em không ưa tên họ đó. Tình yêu đã được diễn ra trên nền thù hận và  thù hận bị đẩy lùi  lại tình yêu là tồn tại với  bất chấp tất cả mọi thứ vì người mình yêu.

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Số 7: Soạn văn 11 bài Lưu biệt khi xuất dương

Tác giả

– Phan Bội Châu tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam.

– Quê: Nghệ An.

– Ông là một trong những nhà nho đầu tiên có tư tưởng đi tìm đường cứu nước

– Những tác phẩm chính: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (viết trong thời kì lưu vong ở nước ngoài)…

Tác phẩm

Hoàn cảnh sáng tác:

Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông làm bài thơ này để từ giã bạn bè, đồng chí.

Bố cục

Bố cục : 4 phần

– Hai câu đề: Quan niệm về chí làm trai

– Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc

– Hai câu luận: Quan niệm về nguyên tắc hành xử mới trước vận mệnh đất nước

– Hai câu kết: Tư thế, khát vọng buổi lên đường

Nội dung chính

Lưu biệt khi xuất dương khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Qua tiểu dẫn:

– Bối cảnh lịch sử đất nước:

+ Đất nước đang lâm vào tình trạng nguy nan, bị giặt chiếm đóng.

+ Nhiều phong trào yêu nước của các sĩ tử yêu nước bị thất bại, nhân dân nản chí, những anh hùng cứu nước bị hi sinh.

+ Con đường cứu nước bế tắc.

– Những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ: ảnh hưởng từ Trung Hoa, Nhật Bản đã tác động đến dân tộc ta rất sâu sắc.

Câu 2 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

a) Hai câu đề.

– Khẳng định chí làm trai, lẽ sống cao đẹp.

– Phải lạ: Phải biết sống cho phi thường, biết mưu đồ việc lớn, xoay chuyển càn khôn, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời.

– Đã làm trai phải tích cực, chủ động trong cuộc sống, không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh.

=> Lí tưởng ấy tạo cho con người tư thế mới, khoẻ khoắn, ngang tàng, ngạo nghễ, chứ không tầm thường, buông xuôi theo số phận.

b) Hai câu thực.

– Tác giả tự ý thức về cái tôi – tự hào về vai trò của mình trong cuộc đời và trong lịch sử.

– Chí làm trai gắn với cái tôi trách nhiệm đáng kính. Giữa cuộc sống tối tăm mà có được cái tôi ấy quả là cứng cỏi và đẹp đẽ vô cùng.

– Câu hỏi tu từ có tính chất khẳng định, giục giã.

=> Quan niệm chí làm trai của Phan Bôi Châu mới mẻ tiến bộ và nhân văn.

c) Hai câu luận.

– Nêu bật một quan niệm sống đẹp đẽ của kẻ sĩ trước thời cuộc và lịch sử dân tộc: Đau về nỗi nhục mất nước, phủ nhận cách học cũ kỹ, lạc hậu (đọc sách thánh hiền – đạo Nho ) không hợp thời, vô nghĩa trong buổi nước mất nhà tan.

=> Tư tưởng sâu sắc, tiến bộ nhất, thể hiện khí phách ngang tàng, táo bạo, của nhà cách mạng tiên phong, có tinh thần trách nhiệm cao độ trong thời đại mới.

d) Hai câu kết.

– Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. Thể hiện một khát vọng lớn, một sự hoà nhập với vũ trụ bao la.

– Con người là trung tâm lồng lộng giữa trời biển mênh mông, như đang bay lên cùng muôn ngàn con sóng

– Hình ảnh lãng mạn, hào hùng, giàu chất sử thi.

Câu 3 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Lời dịch của hai câu 6 và 8 so với nguyên tác đã có phần chưa sát nghĩa, cụ thể:

– Câu 6: Câu thơ dịch là “học cũng hoài” chỉ thể hiện được ý phủ nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả.

– Câu 8: Câu thơ dịch chưa khắc họa được rõ nét tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác: “nhất tề phi” – “cùng bay lên”.

Câu 4 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Tình yêu quê hương, đất nước của con người

– Lí tưởng sống, lẽ sống cao đẹp, tiến bộ.

– Tư thế con người kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ.

– Niềm khao khát, đương đầu vào thử thách.

– Giọng thơ thay đổi tài tình và linh hoạt.

Luyện tập

Cảm nhận về nghệ thuật trong hai câu cuối của bài thơ.

+ Không gian: biển Đông rộng lớn.

+ Hình ảnh kì vĩ lớn lao: Trường phong (ngọn gió dài); Thiên trường bạch lãng (ngàn lớp sóng bạc).

+ Tư thế của con người sánh ngang tầm vũ trụ: Nhất tề phi (cùng bay lên).

+ Lối nói nhân hóa “thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”.

=> Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, thể hiện lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm tin.

Số 8: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương siêu ngắn

Câu 1: Bài tập trang 5, SGK.

Viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài.

Trả lời

Để phân tích hai câu thơ cuối bài, nên căn cứ vào nguyên tác và phần dịch nghĩa mới thấy hết vẻ đẹp của hình ảnh nghệ thuật này. vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhân vật trữ tình thể hiện qua từng ý thơ trong bài, nhưng tập trung nhất ở hai câu này. Cần làm rõ mấy ý sau:

– Hoàn cảnh đất nước ta mấy năm đầu thế kỉ XX và cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Phan Bội Châu.

– Tầm vóc của khát vọng, ước mơ.

– Tư thế của con người trong mối tương quan với vũ trụ bao la, sóng gió biển khơi. (Chú ý hình ảnh “đuổi theo ngọn gió dài” và “ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên”)

Đoạn văn sẽ hay hơn nếu như người viết thể hiện được những cảm xúc riêng trước sức lay động sâu xa và mãnh liệt của hai câu thơ này.

Câu 2: Theo anh (chị), quan niệm về lẽ sống – chết của Nguyễn Đình Chiểu (qua Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) và của Phan Bội Châu (qua Lưu biệt khi xuất dương) có gì giống và khác nhau ? Giải thích tại sao?

Trả lời:

Yêu cầu của bài tập là dựa trên bối cảnh lịch sử từng thòi đại để tìm hiểu sâu thêm bài học tư tưởng mà các thế hệ cha ông đã để lại qua những áng thơ văn tiêu biểu. Có thể giải bài tập theo gợi ý sau :

a) Khẳng định giá trị tư tưởng lớn của bài học về lẽ sống – chết thể hiện qua Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu và Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu. (Giải quyết tương quan giữa sự sống – chết của cá nhân với lẽ nhục – vinh của cả dân tộc là một vấn đề thiết yếu của thời đại, liên quan đến sự tồn vong của đất nước)

b) Giải thích tại sao ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, cha ông ta lại thiên về lựa chọn “Thà chết vinh còn hơn sống nhục”.

– Chú ý bối cảnh lịch sử: Cuộc chiến còn đang ở thế giằng co giữa ta và địch, địch đánh và ta chống trả để bảo vệ hoặc giành giật từng tấc đất trong tay kẻ thù. Cuộc chiến đấu đang ở thời kì khốc liệt, một mất một còn.

– Con người buộc phải đối mặt với sự lựa chọn như thê nào ? (Đánh Tây hay đầu hàng ? Chấp nhận cuộc sống nô lệ hay chiến đấu, hi sinh để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc ?) Sự lựa chọn ấy sẽ quyết định vận mệnh của cả dân tộc.

– Lẽ sống cao đẹp của thời đại được cô đúc trong lời thề quyết tử “Thà chết vinh còn hơn sống nhục” (tìm và phân tích một số câu tiêu biểu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).

c) Trong hoàn cảnh đất nước đầu thế kỉ XX, giữa cái sống và cái chết, ông cha ta thiên về khẳng định điều gì ?

– Bối cảnh lịch sử: Tại sao Phan Bội Châu lại nói “Non sông đã chết” ?

– Con người lúc này bị đẩy vào một hoàn cảnh sống như thế nào ? Cuộc sống đã an bài, con người còn có sự lựa chọn nào khác không ? (Đầu hàng số phận, cam tâm sống – chết trong vòng tủi nhục hay tìm một lẽ sống nào khác để có thể thay đổi số phận ?)

– Một thời cơ mới, vận hội mới đang mở ra trước mắt, thôi thúc những người yêu nước bước lên con đường mới.

– Phân tích các câu 1, 2, 3 và 7, 8 trong bài thơ để chứng minh, lúc này ông cha ta thiên về khẳng định một lẽ sống mới, sống hào hùng, oanh liệt chứ không chịu chết trong nô lệ, tối tăm.

d) Kết luận chung : Nhận xét về sự giống nhau và khác nhau của hai quan niệm về lẽ sống đó trên cơ sở tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta và bối cảnh lịch sử cụ thể của từng văn bản.

Câu 3: Anh (chị) cảm nhận được điều gì về nhà nho Phan Bội Châu khi đọc câu thơ trong bài: “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!” (Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!) ?

Trả lời:

Yêu cầu của bài tập nhằm giúp HS hiểu sâu thêm về Phan Bội Châu, một nhà nho tiến bộ đã dám mạnh dạn dứt bỏ những tín điều cũ để vươn tới chân lí mới của thời đại. Có thể làm bài tập này theo gợi ý sau :

– Vận dụng những kiến thức đã học về Phan Bội Châu để giải thích ông vốn là một nhà nhỏ (hoàn cảnh xuất thân, con đường học-hành, thi cử,…) nhưng đã sớm tiếp thụ những tư tưởng mới của thời đại (qua đọc các sách, báo nước ngoài đượt dịch ra tiếng Việt)

– Giải thích ý thơ “Hiền thánh liêu nhiên” (Thánh hiền đã vắng). Chú ý bối cảnh lịch sử những năm cuối thế kỉ XIX và bài học xương máu từ thất bại của phong trào Cần vương mà Phan Bội Châu đã nhận thức được bằng tư duy nhạy bén, mới mẻ và khát vọng cứu nước sục sôi của mình.

– Thái độ phủ nhận quyết liệt, táo bạo đối với những tín điều xưa cũ của tác giả (có đọc sách cũng ngu thôi). Có thể phân tích thêm đây là một sự phủ định tích cực bởi tiếp theo đó là một sự khẳng định cũng táo bạo và quyết liệt không kém.

Kết luận : Có thể nêu những cảm nghĩ riêng của cá nhân khi đọc câu thơ này. (Sách mà nội dung tư tưởng cổ hủ thì đọc sách chỉ có hại. Đọc sách là cách tu dưỡng con người…)

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Số 9: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương lớp 11

Đọc hiểu câu hỏi

Câu 1:

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh khá đặc biệt, đó là vào lúc tình hình chính trị trong nước hết sức rối ren. Chủ quyền đất nước hoàn toàn mất vào tay giặc. Phong trào vũ trang chống Pháp theo con đường Cần Vương đã thất bại không có cơ hội cứu vãn, chế độ phong kiến đã cao chung, bao anh hùng, nghĩa sĩ cứu nước đã hi sinh, … Tình hình đó đặt ra trước mắt các nhà yêu nước một câu hỏi lớn, đầy day dứt: cứu nước bằng con đường nào?

Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài đang tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và trực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây. Đang bế tắc, người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước với những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai. Vì thế, các nhà nho ưu tú của thời đại như Phan Bội Châu say sưa dấn bước, bất chấp nguy hiểm, gian lao mong tìm ra ánh bình minh cho Tổ Quốc.

Câu 2:

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ. Đó là một quan niệm đến chí nam nhi, một quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến Nam nhi phải làm nên chuyện lớn, phải lập nên kì tích lớn lao, dám mưu đồ việc lớn, quan niệm sống tích cực, khích lệ biết bao, đấng nam nhi lập nên công tích, lưu danh muôn đời.

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: dưới thời phong kiến người ta quan niệm tạo hóa sinh ra con người chi phối số phận vì vậy thường nảy sinh tư tưởng phó thác số mệnh cho trời định đọat. Điểm táo bạo, mới mẻ trong “chí làm trai” của Phan Bội Châu là chủ động xoay chuyển thời thế.

Há để càn khôn tự chuyển dời

– Ngụ ý nói đến mục tiêu hoạt động của nam nhi là phải tìm con đường cách mạng mang tới độc lập cho dân tộc.

– Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước vẫn tin điều xưa cũ.

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?

Không phải nói tự cao tự đại thiếu khiêm tốn mà đó là cách tự khẳng định mình hết sức mới mẻ, đáng kính trọng. Ta đã gặp một cái tôi “ngất ngưởng” giữa cuộc đời của Nguyễn Công Trứ – ở đấy Phan Bội Châu thể hiện ra rõ cái tôi với tinh thần trách nhiệm gánh vác giang sơn.

Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

– Phan bội châu thể hiện sâu sắc nỗi đau mất nước, ý thức về nỗi đau mất nước của thân phận không cam chịu. Sách thánh hiền răn dạy đạo đức lễ nghĩa nhất là đạo làm tôi phải trung với vua. Phan Bội Châu là một trí thức nho học, cũng từng đọc sách thánh hiền nhưng ông cũng nhận thức được đất nước nay đã thay đổi, vua tài tướng giỏi không còn, chỉ còn ông vua phản dân hại nước. “Thánh hiền” đã vắng – trung quân một cách ngu muội. chẳng có ích lợi gì. Câu thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước.

– Khát vọng hành động và tư thế lên đường.

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Hình ảnh kì vĩ lớn lao “biển Đông”, “cánh gió” muôn trùng “sóng bạc” tương ứng với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của Phan Bội Châu.

– Thể hiện khát vọng lên đường có một sức mạnh, khơi dậy nhiệt huyết của cả một thế hệ.

Câu 3: So với nguyên tác, hai câu 6 và 8 dịch có đôi điều khác biệt:

– Câu 6: Nguyên tác: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ” – Mong muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông. Câu dịch thơ lại là: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” – đạp bằng gian khó để đạt được ước nguyện giải phóng dân tộc. Nhưng câu thơ dịch chỉ chú ý đến “vượt bể Đông” mà không chú trọng đến ý thơ thể hiện được nhà thơ ý thức được gian khó – ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua “đuổi theo”. Do đó làm mất đi đôi chút lớn lao, mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình.

– Câu 8: Nguyên tác: “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” – ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên. Câu thơ dịch là: “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. Câu thơ dịch làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng của hình ảnh “nhất tề phi” – “cùng bay lên” đầy lãng mạn, hùng tráng.

Câu 4: Những yếu tố tạo lên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ là:

– Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt của nhân vật trữ tình.

– Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang cùng vũ trụ.

– Khí phách ngang tàn, dám đương đầu với mọi thử thách.

– Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng.

Luyện tập

Viết đoạn văn ngắn bình giảng hai câu cuối bài thơ.

Hai câu kết:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

– Những hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “Biển Đông”, “Cánh gió”, “muôn tùng sóng bạc”, phù hợp với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của chủ thể trữ tình.

– Câu thơ cuối dịch nghĩa là “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” là một hình ảnh hào hùng lãng mạn. Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nước dân trào chắp cánh cho ý chí vượt đại dương tìm đường cứu nước thêm phần hăm hở, tự tin. Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình ở hai câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ. Phan Bội Châu đã từ bài thơ này mà khơi gợi được nhiệt huyết của cả một thế hệ.

Số 10: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương

I. Đôi nét về tác giả Phan Bội Châu

– Phan Bội Châu (1867-1940), tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính Sào Nam

– Là nhà nho đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm một con đường cứu nước mới. Ông học hành thi cử không phải để làm quan mà là để trang bị vốn hiểu biết, tạo uy tín chuẩn bị cơ sở cho hoạt động Cách mạng

– Phan Bội Châu là lãnh tụ các phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX.

– Các tác phẩm chính: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử, Phan Sào Nam văn tập, Phan Bội Châu niên biểu,….

– Phong cách nghệ thuật: văn chương là vũ khí để tuyên truyền cổ động, thơ văn ông đã làm rung động biết bao con tim yêu nước

II. Đôi nét về tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương

  1. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ được sáng tác vào năm 1905 trước lúc tác giả sang Nhật Bản tìm một con đường cứu nước mới, ông làm bài thơ này để giã từ bè bạn, đồng chí

  1. Bố cục

– Phần 1 (4 câu đầu): Quan niệm mới về chí làm trai, cùng ý thức của cái tôi đầy trách nhiệm.

– Phần 2 (còn lại): Ý thức được nỗi nhục mất nước, sự lỗi thời của nền học vấn cũ, đồng thời thể hiện khát vọng hăm hở, dấn thân trên hành trình cứu nước.

  1. Giá trị nội dung

– Bài thơ khắc họa vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi nổi và khát vọng cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước

  1. Giá trị nghệ thuật

– Giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, chất lãng mạn toát ra từ nhiệt huyết cách mạng sôi nổi của nhà thơ

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1:

Vào những năm cuối thế kỉ XIX, tình hình chính trị hết sức đen tối: chủ quyền đất nước mất, phong trào Cần Vương thất bại

+ Chế độ phong kiến thất bại, kéo theo sự sụp đổ của hệ tư tưởng lỗi thời

– Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ, tư sản từ nước ngoài tới Việt Nam qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản, và Pháp

Vì thế các nhà nho yêu nước muốn thay đổi vận mệnh dân tộc

Câu 2

– Quan niệm về chí làm trai, tư thế, tầm vóc con người trong vũ trụ

+ Nam nhi phải lập công danh, làm chuyện đại sự, dám mưu đồ việc lớn

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc:

+ Quan niệm phong kiến cho rằng tạo hóa sinh ra con người và chi phối số phận con người nên có tư tưởng thoái thác cho số mệnh trời định đoạt

+ Điểm mới mẻ, táo bạo trong tư tưởng Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế.

– Con người dám đối mặt với vũ trụ tự khẳng định mình, tự vượt lên cái mộng công danh thường gắn liền với hai chữ hiếu, trung

– Tác giả ôm khát vọng thay đổi xoay chuyển càn khôn, không chịu khuất phục trước số phận, hoàn cảnh

– Tác giả cho rằng chí làm trai gắn chặt với hoàn cảnh thực tế của nước nhà, vinh nhục gắn với sự tồn vong của dân tộc

– Ông đối diện với nền học vấn cũ để nhận thức chân lí: sách vở thánh hiền không giúp được trong buổi nước mất nhà tan

– Nhân vật trữ tình thể hiện được khí phách ngang tàng, táo bạo, quyết liệt của nhà cách mạng đi tiên phong cho thời đại mới

– Khát vọng lên đường của nhân vật trữ tình hết sức lớn lao: bể Đông, cánh buồm, muôn trùng sóng bạc, con người được chắp thêm cánh vượt qua thực tại tăm tối

– Hình ảnh đẹp giàu chất sử thi, con người hăm hở tự tin đầy quyết tâm

Câu 3

Cách dịch trong câu 6 và 8 chưa diễn tả hết sự xuất thần trong thơ của Phan Bội Châu

Câu 6:

– nguyên tác “ Nguyện trục trường phong Đông hải khứ”- Mong muốn theo đuổi ngọn gió dài đi qua biển Đông, không được chú trọng đến ý thơ

– Nhà thơ ý thức được những gian khó, nhưng khao khát vượt qua (con người đuổi theo ngon gió dài đi qua biển Đông). Vũ trụ bao la ngàn đợt sóng bạc.

– Câu thơ số 6 làm mất đi đôi chút sự mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình

Câu 8:

Nguyên tác “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” – ngàn đợt sóng bạc cùng nhau bay lên

Câu thơ làm mất đi sự kì vĩ, lớn lao của không gian cũng hình ảnh “nhất tề phi” lãng mạn, hùng tráng

Câu 4:

Yếu tố tạo nên sự lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ:

– Khát vọng thay đổi vận mệnh đất nước

– Tư thế kì vĩ, lớn lao, sánh ngang tầm vóc vũ trụ của con người

– Khí phách ngang tàng, dám đương đầu với thử thách

– Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng, sục sôi, hào hùng

Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Lưu biệt khi xuất dương chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.