Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết nhất

133
Top 10 mẫu soạn bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết nhất
4.8/5 - (15 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn bài Hầu Trời của Tản Đà một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Hầu Trời của Tản Đà

Số 1: Soạn bài Hầu Trời của Tản Đà

Vài nét về tác giả, tác phẩm

  1. Tác giả

– Tản Đà (1889 -1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay Ba Vì, Hà Nội). Ông sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời, Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới bắt đầu, nên con người ông, kể cả học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn “người của hai thế kỉ” (Hoài Thanh).

– Vào những năm 20 của thế kỉ XX, tên tuổi Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn. Các tác phẩm chính của Tản Đà: Khối tình con I, II (thơ – 1916, 1918), Giấc mộng con I, II (truyện phiêu lưu viễn tưởng – 1916, 1932), Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ (luận thuyết – 1918), Còn chơi (thơ và văn xuôi – 1921, Thơ Tản Đà (1925),Giấc mộng lớn (tự truyện – 1928),…

– Phong cách thơ: Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, vừa ngông nghênh, vừa cảm thương, vừa ưu ái,..Thơ văn ông có thể xem như là một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

  1. Tác phẩm: bài Hầu trời in trong tập Còn chơi, xuất bản lần đầu năm 1921.

Bố cục: 4 phần

+ Đoạn 1 (Câu 1- 20): Lí do, hoàn cảnh được lên đọc thơ hầu Trời

+ Đoạn 2 (Câu 21 – 68):Kể về buổi đọc thơ cho Trời và chư tiên

+ Đoạn 3 (Câu 68 -98): Tâm sự của nhà thơ với Trời về hoàn cảnh khốn khó của mình

+ Đoạn 4 (Còn lại): Phút tiễn biệt Trời, về lại thực tại

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Phân tích khổ đầu:

– Thời gian: đêm qua

– Không gian: Tĩnh lăng, yên tĩnh.

– Điệp từ “thật”.

– Câu cảm thán: Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể .

→ Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng, bất ngờ.

=> Bốn câu thơ đầu là câu chuyện kể lại về một giấc mơ được lên cõi tiên.

Cách vào đề của bài thơ gây được một mối nghi vấn, gợi trí tò mò cho người đọc. Cách vào chuyện như vậy vừa độc đáo, vừa có duyên là cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên lôi cuốn, hấp dẫn.

Câu 2 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Thái độ của tác giả khi đọc thơ cho trời và chư tiên: thi sĩ tỏ ra rất cao hứng và có phần tự đắc:

Đọc hết văn vần lại văn xuôi

Hết văn lý thuyết lại văn chơi

– Thi nhân kể tường tận, chi tiết về những tác phẩm của mình:

Hai quyển khối tình văn lí thuyết

Hai khối tình con là văn chơi

Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết

– Chư tiên nghe thơ xúc động, ngưỡng mộ tài năng của tác giả:

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay

– Thái độ của Trời khen rất nhiệt thành:

Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít!

Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!

…..

– Đoạn thơ thể hiện rất rõ cá tính của thi sĩ. Tản Đà đã ý thức rất rõ về tài năng của mình và cũng rất táo bạo, bộc lộ “cái tôi” đó. Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến tận trời để khẳng định tài năng. Đây cũng là niềm khát khao trân thành trong lòng thi sĩ. Bởi giữa chốn hạ giới, văn chương lúc này không được coi trọng, “giá rẻ như bèo” nên Tản Đà chỉ còn biết lên tận trời để than vãn, để khẳng định và bộc lộ tài năng của bản thân.

– Giọng đọc: Hóm hỉnh, ngông nghênh và có phần tự đắc.

Câu 3 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Đoạn thơ rất hiện thực trong bài:

Bẩm trời, cảnh con thực nghèo khó

Trần gian thước đất cũng không có

[…]

Sức trong non yếu ngoài che rấp

Một cây che chống bốn năm chiều.

Đoạn thơ nói lên một bức tranh chân thực về chính cuộc đời nhà thơ và của những văn sĩ khác lúc đó. Đó là cuộc sống cơ cực, vất vả, nghèo khó, làm chẳng đủ ăn… Bởi vậy dễ hiểu vì sao ông tìm lên đến tận trời để than vãn, để thỏa niềm khao khát, ước mơ của mình.

Là nhà văn giàu cảm hứng lãng mạn nhưng ông vẫn không thoát li khỏi cuộc đời, vẫn khao khát được khẳng định tài năng của mình. Hai cảm hứng này đan cài khăng khít và không tách biệt trong sáng tác của nhà văn.

Câu 4 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Đặc sắc về nghệ thuật

– Thể loại: thể thơ thất ngôn trường thiên tự do.

– Ngôn ngữ chọn lọc, tinh tế, rất gần với đời thường.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, lôi cuốn người đọc.

– Cảm xúc bộc lộ tự nhiên, phóng túng, tự do.

Luyện tập

Câu 1 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Cảm nhận về câu thơ mà mình thích nhất để thấy được phong cách thơ của Tản Đà.

Câu thơ hay trong bài gây ấn tượng: “Con không nói Trời đã biết/ Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết/ Thôi con cứ về mà làm ăn/ Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

Đây cũng chính là ước nguyện của tác giả Tản Đà, được thấu hiểu, cảm thông. Lòng khi đã thông tường, mọi chuyện sương gió không còn ngại ngùng.

Câu 2 (trang 17 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

“Ngông” trong văn chương chỉ sự khác thường. Đó là phản ứng của những người nghệ sĩ tài hoa, cá tính, không chịu trói mình trong khuôn khổ chật hẹp, sống phóng túng, tự do, khẳng định cá tính và bản lĩnh của mình.

Cái “ngông” của thi sĩ Tản đà trong bài thơ được biểu hiện qua:

– Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài tài năng của mình: tự cho mình văn hay đến mức trời và chư tiên cũng phải tán thưởng…

– Xem mình là một trích tiên bị đày xuống vì tội ngông.

– Nhận mình là người nhà trời, được sai xuống để thực hiện sứ mệnh cao cả…

Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Số 2: Soạn văn Hầu Trời Tản Đà

Phần đọc – hiểu văn bản

Câu 1 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

Khổ thơ đầu:

– Nhấn mạnh cảm giác chân thật, sảng khoái, thích thú, vui sướng: “Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

– Cách vào đề gây được mối nghi vấn để gợi trí tò mò ở người đọc, tạo sự hấp dẫn, muốn được nghe câu chuyện được kể sẽ diễn ra như thế nào.

Câu 2 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

– Tác giả đã kể lại câu chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên trong sự hào hứng, có phần tự đắc.

– Cảm nhận về cá tính,niềm khao khát chân thành của thi sĩ qua đoạn thơ:

+ Một con người có cá tính rất “ngông”: ở cõi trần thân phận nhà văn bị khinh bị, xem thường, văn chương “rẻ như bèo”, Tản Đà tìm đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình.

+  Một con người có ý thức về cá nhân rất cao, dám tự mình khen mình .

Câu 3 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thi sĩ Tản Đà kể cho Trời nghe về tình cảm khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ

Câu 4 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ:

– Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào.

– Ngôn từ: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.

– Cách biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng túng.

– Dưới ngòi bút của tác giả, Trời và Chư tiên không có một chút gì đạo mạo, ngược lại các đấng siêu nhiên đó cũng có cách bộc lộ cảm xúc rất ngộ nghĩnh, bình dân

Phần luyện tập

Câu 1 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

– Câu thơ hay trong bài gây ấn tượng: “Con không nói Trời đã biết/ Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết/ Thôi con cứ về mà làm ăn/ Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

– Đây cũng chính là ước nguyện của tác giả Tản Đà, được thấu hiểu, cảm thông. Lòng khi đã thông tường, mọi chuyện sương gió không còn ngại ngùng.

Câu 2 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 11 Tập 2):

Cái “Ngông” của thi sĩ Tản đà trong bài thơ được biểu hiện qua:

– Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài tài năng của mình: tự cho mình văn hay đến mức trời và chư tiên cũng phải tán thưởng…

– Xem mình là một trích tiên bị đày xuống vì tội ngông.

– Nhận mình là người nhà trời, được sai xuống để thực hiện sứ mệnh cao cả…

Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Số 3: Soạn văn 11 Hầu Trời

Trả lời câu hỏi

Câu 1:

* Cách vào đề bài thơ:

– Khổ thơ mở đầu 4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi sự tò mò : Chuyện có vẻ như mộng mơ, bịa đặt chẳng biết có hay không”, nhưng dường như lại là thật:

– Điệp từ thật: 4 lần / 2 câu;

– Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc chắn, củng cố niềm tin, gây ấn tượng là chuyện có thật hoàn toàn:

=> Như vậy, cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên, tạo được sự tò mò, chú ý cuốn hút người đọc về câu chuyện lên tiên của mình.

* Phân tích khổ đầu:

– Câu thơ mở đầu tiên đã tạo ra một không khí nửa hư nửa thực để gây được ở người đọc một mối nghi vấn nhằm gợi trí tò mò:

Đêm qua chẳng biết có hay không

Chuyện có vẻ như mộng mơ, như bịa đặt, chẳng biết có hay không, nhưng dường như lại là thật, thật hoàn toàn bởi tác giả đã bồi đắp ba câu thơ bằng những lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, nhắc đi nhắc lại bốn lần chữ thật với nhịp thơ dồn dập ngăn cách bằng những dấu cảm thán như để củng cố thêm niềm tin:

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể !

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Như vậy, ba câu thơ dường như muốn nói không còn điều gì phải nghi ngờ nữa. Cái bàng hoàng vì lạ lùng, đột ngột bị át đi bởi cái sướng lạ lùng vì được lên Trời, gặp tiên. Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả sẽ kể sẽ trở nên có sức hấp dẫn đặc biệt, không ai có thể bỏ qua. Tác giả đã kết hợp kể và bình giá để tăng sự cuốn hút.

Câu 2:

Cảnh đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe đã diễn ra khá sinh động pha chút hóm hỉnh thật thú vị qua lời kể của tác giả:

* Thái độ của tác giả khi đọc thơ:

– Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng và có phần tự hào, tự đắc vì thơ văn của chính mình:

Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết lí lại văn chơi

Đương cơn đắc ý đọc đã thích

Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.

– Rồi thi sĩ lại tự khen mình:

Văn dài hơi tốt ran cùng mây !

Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.

Văn đã giàu thay, lại lắm lối

Trời nghe Trời cũng bật buồn cười !

Qua đó, tác giả đã vẽ lại chính tâm hồn và tư cách nghệ sĩ của chính mình trước bạn đọc. Nhà thơ chỉ cao hứng như thế khi gặp được người hiểu và thông cảm (là Trời ) mà thôi. Ở hạ giới đâu dễ tìm được người tri âm như vậy.

– Tác giả có nhu cầu muốn đọc hết cho Trời và chư tiên nghe những tác phẩm văn chương, những đứa con tinh thần của mình. Bằng thủ pháp liệt kê, tác giả đã kể hết những tác phẩm văn chương của mình:

Bẩm con không dám man cửa Trời

Những áng văn con in cả rồi

Hai quyển Khối tình văn thuyết lí

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch

Đến quyển Lên tám nay là mười

– Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái, cuốn hút người nghe.

=>Cá tính thơ và niềm khát khao chân thành của người thi sĩ:

– Tản Đà rất ý thức về tài năng của mình và ông cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã cái tôi của mình. Những câu thơ đó như đã cực tả niềm tự hào, tự nhận thức của nhà thơ về tài năng sáng tạo nghệ thuật của mình. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc Hoàng và chư tiên.

– Niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Phải chăng, giữa chốn văn chương hạ giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri âm tri kỉ nên phải lên tận cõi tiên mới có thể thỏa nguyện.

– Có lẽ, trước Tản Đà ít ai nói trắng ra cái hay, cái tuyệt của văn thơ mình như vậy, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời (một ông Trời cũng khá bình dân ). Ở đây, ý thức cá nhân ở nhà thơ đã phát triển rất cao và Tản Đà không hề vô lối khi tự khen mình, mà để cho Trời khen.

* Thái độ của Trời và chư tiên:

– Trời khen nhiệt tình và đánh giá rất cao thơ văn thi sĩ:

Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt !

Văn trần được thế chắc có ít !

Nhời văn chuốt đẹp như sao băng !

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển !

Êm như gió thoảng, tinh như sương !

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !

=> Thái độ cảm xúc, tình cảm của Trời là vừa khâm phục, vừa thích thú, như hòa cùng dòng cảm xúc trong văn thơ của tác giả.Lời khen của Trời hẳn là sự thẩm định có sức thuyết phục nhất, không thể bác bỏ hay nghi ngờ. Đây đúng là một lối tự khẳng định rất ngông của vị trích tiên.

– Chư tiên nghe thơ rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ:

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong một bài cùng vỗ tay

Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

Anh gánh lên đây bán chợ Trời !

=> Chư Tiên nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

Những phản ứng về mặt tâm lí của các nhân vật được đan xen vào nhau một cách linh hoạt làm cho buổi nghe thơ trở nên sôi nổi, hào hứng. Người đọc thơ hay mà tâm thế người nghe cũng cảm thấy hay.

=>Như vậy, Tản Đà muốn khẳng định giá trị văn chương của mình. Ông muốn văn chương của mình được nhiều người yêu thích, biết đến và trân trọng.

Câu 3:

Tản Đã đã phản ánh rất chân thực và cảm động về cuộc sống của mình cũng như tầng lớp văn nghệ sĩ đương thời:

Bẩm Trời cảnh con thực nghèo khó

Trần gian thước đất cũng không có

Biết làm có được mà dám theo”.

– Tản Đà không chỉ muốn thoát li cuộc đời bằng những cuộc mơ ước lên trăng, lên tiên. Ông đã vẽ bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác. Họ vẫn sống và viết cho đến chết giữa cuộc đời nghèo khổ. Những lời giãi bày chân thật với Trời về hoàn cảnh sống của ông dưới trần là hoàn toàn chân thực.

Tản Đà vẫn muốn giúp đời, cứu người. Tất cả họ đều bị rơi vào cảnh nghèo khó, túng quẫn, sức khỏe yếu, sinh kế khó khăn, tuổi già mà vẫn chưa làm được gì cho đời. Tản Đà tài năng là thế, ý thức về trách nhiệm sâu sắc là thế, song xã hội thực dân nửa phong kiến đã cướp đi của ông tất cả: không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, bị o ép nhiều chiều,… Qua đó, nhà thơ còn lên án xã hội bất công đã đẩy họ vào những tình huống bi đát nhất.

– Trong bài thơ, Tản Đà không trực tiếp phát biểu quan niệm của mình về văn và nghề văn. Tuy vậy, ẩn sau câu chữ, ta vẫn thấy một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này.

+ Dường như Tản Đà đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải trường vốn để theo đuổi nó dài dài:

Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều

Vốn liếng còn một bụng văn đó.

+ Trong mắt Tản Đà, văn chương lúc này là một nghề kiếm sống mới, có người bán, kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều:

Giấy người mực người thuê người in

Mướn cửa hàng người bán phường phố.

Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó.

Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.

Lo ăn lo mặc hết ngày tháng

+ Tản Đà cũng chớm nhận ra: đa dạng về thể loại là một đòi hỏi thiết yếu của hoạt động sáng tác và với những sáng tác mới thì tiêu chí đánh giá tất nhiên là phải khác xưa.

Câu 4:

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ là:

– Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ một cách thoải mái, tự nhiên và phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần gũi với đời sống, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên và lôi cuốn người đọc. Lối kể chuyện đầy tính bình dân và giọng khôi hài trong bài thơ hoàn toàn thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau. Lối kể ấy, nụ cười ấy đã làm nên nội dung trữ tình chính, giúp ta hiểu về con người tác giả hơn.

– Từ ngữ nôm na, bình dị, như lấy ở đời sống bình thường. Đặc biệt, dưới ngòi bút của tác giả, Trời và chư tiên không có một chút gì đạo mạo mà lại rất bình dân.

– Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép.

– Nhà thơ đã sáng tạo ra một cuộc hầu Trời thật lí thú, ngộ nghĩnh mà như thật với khả năng tưởng tượng phong phú và dàn cảnh hợp lí.

=> Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn của mình để tự khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà Nho đang đi dần tới dấu chấm hết.

Luyện tập

CÂU 1:

Cách xưng danh của tác giả:

– Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe. Việc xưng danh của Tản Đà đã diễn ra khá tự nhiên, phù hợp với mạch truyện và mang dấu ấn Tản Đà trong cung cách xưng danh vẫn thể hiện khá rõ:

Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa

Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn

Quê ở Á châu về Địa Cầu

Sông Đà núi Tản nước Nam Việt.

Tác giả đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục, tên của hành tinh,…

– Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn đằng sau vẻ thật thà, thành khẩn trước đấng trí tôn, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ. Một cái tên thật chứ không phải tự hay hiệu, được nói ra trịnh trọng đến vậy thì hẳn là nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó.

– Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là con người của Á châu, của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Tác giả còn kiêu hãnh khi khai mình là đứa con đích thực của sông Đà núi Tản nước Nam Việt. Đồng thời qua đó, tác giả đã ngầm cho biết lai lịch của bút hiệu Tản Đà – một điều đã từng được ông thể hiện trong nhiều bài thơ khác.

– Cách nói của nhà thơ không chỉ là cách nói của ý thức cá nhân, của cái ngông mà còn chứa đựng một thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm yêu nước đáng quý.

– Những trường hợp xưng danh trong thơ thời văn học trung đại:

+ Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

( Mời trầu – Hồ Xuân Hương )

+ Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ nhân hà khấp Tố Như.

( Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du )

+ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

( Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ )

CÂU 2:

– “Ngông” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

– Trong bài Hầu Trời, cái ngông của Tản Đà có những biểu hiện nổi bật:

+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng.

+ Không thấy có ai đáng là kẻ tri âm tri kỉ với mình ngoài Trời và chư tiên.

+ Xem mình là một trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông.

+ Nhận mình là người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả (thực hành thiên lương).

+ Ngoài ra, việc nhà thơ bịa ra chuyện hầu Trời, nói như thể đó là chuyện thật đã hàm chứa một sự khiêu khích nhất định đối với cái nhìn thầy thành kiến về thang bậc giá trị của con người trong xã hội. Đó là chưa kể việc Tản Đà dám hình dung các đáng siêu nhiên như những đối tượng rất đỗi bình dân, thậm chí ngang hàng với mình.

– Tản Đà không phải trường hợp ngông cá biệt trong văn học Việt Nam. Trước ông, những người như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,… đều ngông. Tuy nhiên, cái ngông của Tản Đà vẫn có những điểm đặc thù do sự quy định của thời đại:

+ Cái ngông của Tản Đà có nhiều gặp lại cái ngông của Nguyễn Công Trứ (thể hiện qua Bài ca ngất ngưởng ): ý thức rất cao về tài năng của bản thân, dám nói giọng bông lơn về những đối tượng như Trời, Tiên, Bụt,… dám phô bày toàn bộ con người vượt ngoài khuôn khổ của mình trước thiên hạ, như muốn giỡn mặt thiên hạ,…

+ Nói về sự khác biệt giữa hai người có thể thấy cái ngông ở Tản Đà là cái ngông của kẻ tuy không phải sống vô trách nhiệm với xã hội nhưng không còn xem vấn đề nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung là chuyện trọng nữa. Hơn nữa, cái tài mà Tản Đà muốn khoe về cơ bản là cái tài thuộc phạm trù văn chương. Rõ ràng ở đây nhà thơ đã rũ bỏ được khá nhiều gánh nặng trách nhiệm ( mà thông thường các nhà nho vẫn đặt trên vai mình ) để sống thoải mái hơn với cái tự do cá nhân mới mẻ mà thời đại đưa tới.

Số 4: Soạn văn bài Hầu Trời của Tản Đà

Đọc hiểu văn bản

Giải câu 1 (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

Trả lời:

– Câu thơ tác giả đặt vấn đề có vẻ khách quan: Câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không”. Chắc chắn người nghe thì cho là bịa đặt nhưng tác giả lại khẳng định mình ở trong trạng thái rất bình thường “Chẳng hoảng hốt, không mơ màng” và câu chuyện có vẻ là thật:

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Điệp từ “Thật” kết hợp với hàng loạt dấu cảm khẳng định độ chân thật của câu chuyện của tác giả sắp kể.

Cách vào đề gây được mối nghi vấn để gợi trí tò mò ở người đọc, tạo sự hấp dẫn, muốn được nghe câu chuyện.

Giải câu 2 (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Tác giả đã kể lại chuyện của mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời.) Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

Trả lời:

* Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

– Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có phần tự đắc, kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình.

– Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái, cuốn hút người nghe.

=> Tản Đà là một người rất “ngông” khi dám lên Trời để khẳng định tài năng thơ văn của mình. Bởi lẽ, Tản Đà là một nhà thơ biết ý thức về tài năng và thơ văn của mình, dám đường hoàng bộc lộ cái “TÔI” cá thể của mình. Tản Đà trong văn chương thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ.

* Thái độ của người nghe thơ:

– Thái độ của Trời:

+ “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”.

+ “Văn thật tuyệt! …”

+ “Nhời văn chuốt đẹp như sao băng

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng, tinh như sương”…

=> Trời tỏ thái độ thật tâm đắc khi nghe thơ và cất lời khen rất nhiệt thành.

– Thái độ của Chư Tiên:

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.

=> Chư Tiên nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

Tóm lại, Thái độ của Trời và Chư Tiên khi nghe thơ đã tỏ ra rất thích thú và ngưỡng mộ tài năng thơ ca của thi nhân.

Giải câu 3 (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

Trả lời:

Đoạn thơ thể hiện cảm hứng hiện thực:

“Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó

Biết làm có được mà dám theo”.

=> Kể cho trời nghe cảnh mình ở hạ giới: một cảnh sống nghèo khó, vất vả đủ điều của kiếp nhà văn.

– Ý nghĩa đoạn thơ:

+ Đoạn thơ là bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác.

+ Tiếp sau đoạn thơ là tâm trạng tác giả, càng khiến người đọc ngậm ngùi trước cuộc sống cơ cực của một lớp nhà văn trong chế độ cũ.

Giải câu 4 (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt : thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

Trả lời:

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ.

– Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào.

– Ngôn từ: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.

– Cách biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng túng.

Dưới ngòi bút của tác giả, Trời và Chư tiên không có một chút gì đạo mạo, ngược lại các đấng siêu nhiên đó cũng có cách bộ lộ cảm xúc rất ngộ nghĩnh, bình dân (lè lưỡi, chau mày, tranh nhau dặn, …)

Soạn phần luyện tập bài Hầu trời (Tản Đà)

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Bài Hầu trời có ý tưởng gì hoặc câu thơ nào làm cho anh (chị) thích thú nhất? Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của mình.

Trả lời:

Tùy theo cảm nhận và tình cảm cá nhân mà học sinh có thể lựa chọn những câu thơ, ý tưởng thơ thú vị. Có thể tham khảo một số câu thơ, ý tưởng sau: “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu/ Đày xuống hạ giới vì tội ngông”. “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:/ “Anh gánh lên đây bán chợ Trời” …

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông” ? Cái “ngông” trong văn chương thường bộ lộ thái độ sống như thế nào? (Có thể dẫn chứng qua những tác phẩm đã học) Cái “ngông” của thi sĩ Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm nào và có thể giải thích ra sao?

Trả lời:

“Ngông” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ. (Trong văn chương người ta hay nhắc đến cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Tản Đà, …)

– Cái “Ngông” của Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm:

+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng.

+ Không thấy ai đáng là tri âm với mình ngoài Trời và Chư tiên.

+ Xem mình là một “trích tiên” bị “đày xuống hạ giới vì tội ngông”.

+ Nhận mình là người nhà Trời xuống hạ giới thực hành “Thiên lương”, một sứ mệnh cao cả.

+ Xem các đấng siêu nhiên là tri âm, bình dân, … .

Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Số 5: Soạn văn Hầu Trời ngắn nhất

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

Trả lời:

– Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ thể hiện tài hư cấu nghệ thuật độc đáo và có duyên của Tản Đà:

    Đêm qua chẳng biết có hay không,

            Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

       Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

   Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

– Chuyện kể về một giấc mơ, chính tác giả lúc tỉnh mộng cũng hãy còn bàng hoàng “chẳng biết có hay không”. Đó là một cách “nhập đề” lạ, một sự “hư cấu” nghệ thuật. Nó là cái cớ “hoàn hảo” để nhân vật trữ tình bộc bạch tự nhiên cám xúc trong “cõi mộng” của mình.

=> Cách vào đề như thế đã gây được một mối nghi vấn, gợi trí tò mò của người đọc. Cách vào chuyện như thế vừa độc đáo, lại rất có duyên.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời. Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

Trả lời:

* Tác giả kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

– Câu chuyện chính trong “giấc mơ” của Tản Đà là việc nhà thơ được đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe. Thi sĩ tỏ ra rất cao hứng và có phần tự đắc (Đương cơn đắc ỷ đọc đã thích… – Văn dài hơi tốt ran cung mây!- Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay… – Chửa biết con in ra mấy mươi? – Văn đã giàu thay, lại lắm lối…).

– Chư Tiên nghe thơ cũng rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ tài thơ của Tản Đà (Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi – Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày – Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng – Đọc xong mỗi bài cùng vổ tay).

– Ông Trời thì khen rất nhiệt thành:

         Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!

   Vãn trần được thế chắc có ít!

          Nhời văn chuốt dẹp như sao băng!

                Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

             Ếm như gió thoảng, tình như sương!

         Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!

– Để rồi tác giả còn được mời để xưng tên tuổi nữa.

=> Đoạn thơ này thể hiện khá rõ cá tính và niềm khao khát chân thành của thi sĩ:

– Tản Đà đã rất ý thức về tài năng của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã “cái tôi” đó. Tản Đà rất ngông khi tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc Hoàng thượng đế và chư tiên. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ.

– Giữa chốn hạ giới “văn chương rẻ như bèo”, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri kỉ tri âm, phải lên tận cõi tiên này mới có thể thoả nguyện.

– Vào đầu những năm 20, khi thơ phú nhà nho tàn cuộc mà thơ mới chưa ra đời, Tản Đà là nhà thơ đầu tiên trong văn học Việt Nam đã dám mạnh dạn hiện diện bản ngã “cái tôi” đó. Giọng kể của Tản Đà rất phong phú, hóm hỉnh và có phần ngông nghênh, tự đắc.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

Trả lời:

– Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực, đó là đoạn:

   Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó

   Trần gian thước đất cũng không có

   […]

   Sức trong non yếu ngoài chen rấp

   Một cây che chống bốn năm chiều

– Ý nghĩa đoạn thơ:

+ Bức tranh chân thực về chính cuộc đời nhà thơ và cuộc đời của nhiều văn sĩ khác lúc đó. Đó là cuộc sống hết sức cơ cực, tủi hổ (không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiéu chiều,…). Những câu thơ không hề cường điệu.

+ Đó thậm chí chính là cuộc sống đầy xót xa của thi sĩ Tản Đà.

=> Tản Đà là một nhà thơ giàu cảm hứng lãng mạn. Thế nhưng trong đoạn thơ này, nhà thơ lại nói đến nhiệm vụ truyền bá “thiên lương” mà Trời trao cho ông như là một thiên chức vậy. Điểu đó đã chứng tỏ, Tản Đà lãng mạn, nhưng không hoàn toàn thoát ly cuộc đời, ông vẫn ý thức về trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Đó cũng là một cách khẳng định mình. Là một thi sĩ nổi tiếng tài hoa, thế nhưng gần như suốt đời, Tản Đà sống trong nghèo khổ, túng quẫn. Ông đã từng rơi vào cảnh:

   Hôm qua chửa có tiền nhà

   Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào

   Đi ra rồi lại đi vào

   Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ

 => Bức tranh hiện thực miêu tả trong bài thơ đã giúp chúng ta thêm hiểu vì sao Tán Đà thấy đời đáng chán (Trần thế nay em chán nửa rồi), vì sao ông phải tìm cõi tri âm tận trời cao (Tri kỉ trông lên đứng tận trời), phải tìm đến Hằng Nga, Ngọc Hoàng Thượng đế, chư tiên,… để thoả niềm khao khát. Hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện thực thường đan cài khăng khít trong thơ ông như thế.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật,…).

Trả lời:

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật, với những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại.

– Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.

– Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép.

=> Những tìm tòi nghệ thuật trên đây là hướng đi đúng đắn của Tản Đà để tự khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà nho đang đi dần tới dấu chấm hết.

Số 6: Soạn văn 11 bài Hầu Trời

Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 17 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

– Phân tích khổ thơ đầu tiên: Thi nhân giới thiệu về câu chuyện được lên hầu trời.

– Cách mở đầu câu chuyện được lên tiên của Tản Đà rất duyên dáng và sáng tạo: Một giấc mơ không có thật, đến chính bản thân thi nhân cũng khó tin và cảm thấy bàng hoàng.

+ Thời gian: Buổi đêm hôm qua (Tác giả đang kể lại).

+ Không gian: Yên tĩnh.

+ Nghệ thuật:

  • Điệp từ: “Thật” nhắc đến 4 lần.
  • Câu cảm thán: Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể.

→ Khẳng định giấc mơ lên tiên là có thật khiến thi nhân vừa bàng hoàng vừa vui sướng.

→ Cách dẫn gợi mở gây sự chú ý, tò mò của người đọc về câu chuyện thi nhân sắp kể.

Câu 2 (trang 17 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

– Thi nhân kể câu chuyện đọc thơ cho nhà trời và chư tiên nghe:

+ Thái độ của thi nhân:

  • Rất nhiệt tình và đầy cao hứng, có phần tự đắc về tài phú văn thơ của mình khi mang hết tác phẩm mình có ra để kể.
  • Giọng điệu khi thì truyền cảm, khi thì hóm hỉnh mang đến cảm giác sảng khoái, người nghe bị lôi cuốn vào từng vần thơ.

+ Thái độ của người nghe thơ:

  • Nhà trời: Nhiệt thành khen ngợi.
  • Các chư tiên: Xúc động và ngưỡng mộ tài năng của thi nhân.

→ Tản Đà là người có cá tính táo bạo, thẳng thắn bộc lộ cái tôi bản ngã nhưng cũng tự ý thức được tài năng của bản thân mình.

→ Niềm khao khát chân thành của người thi sĩ: Mong muốn được chia sẻ những tác phẩm của mình, mong nỗ lực của bản thân được trân trọng.

Câu 3 (trang 17 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

– Đoạn thơ hiện thực giữa cảm hứng lãng mạn:

    “Bẩm trời, cảnh con thực nghèo khó

    Trần gian thước đất cũng không có

    […]

    Sức trong non yếu ngoài che lấp

    Một cây che chống bốn năm chiều”.

– Ý nghĩa của đoạn thơ:

+ Thi nhân có nhắc đến nhiệm vụ truyền bá “thiện lương” khẳng định ông vẫn ý thức được trách nhiệm của bản thân với đời thực.

+ Khắc họa bức tranh chân thực về chính cuộc sống hiện thực của nhà thơ cũng như của nhiều văn sĩ khác. Một cuộc sống nghèo khó, “thước đất cũng không có”. Một cảm xúc đau xót khi văn chương và những người văn sĩ không được trân trọng.

→ Sự lãng mạn vẫn không khiến Tản Đà thoát ly khỏi hoàn cảnh sống hiện thực. Một cuộc sống nghèo khó, vất vả nhưng thi nhân vẫn khao khát được khẳng định tài năng của mình.

Câu 4 (trang 17 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

“Hầu trời” có nhiều đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật:

– Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, không bị ràng buộc nên thi nhân thoải mái bộc lộ cảm xúc tự nhiên.

– Ngôn từ chọn lọc, tinh tế nhưng rất gần với đời sống. Ngay cả khi có xuất hiện tình tiết hư cấu cũng khiến người đọc dễ dàng đón nhận với cảm xúc chân thật.

– Lối kể chuyện duyên dáng, hài hước cuốn hút người đọc.

– Đóng vai người kể chuyện và cũng là nhân vật chính, Tản Đà bộc lộ cái tôi táo bạo cùng ước nguyện chân thành của mình.

Luyện tập

Bài 1 (trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

Gợi ý câu thơ hay và ấn tượng trong bài “Hầu trời”:

    “Con không nói Trời đã biết

    Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết

    Thôi con cứ về mà làm ăn

    Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

→ Khát vọng chân thành của thi nhân: Mong được thấu hiểu, được chia sẻ để có thể thỏa ước cống hiến tài năng cho cuộc đời.

Bài 2 (trang 17 SGK ngữ văn 11 tập 2)

– “Ngông” trong văn chương chỉ một kiểu nghệ thuật khắc họa bản thân khác thói quen của các văn nhân. Người thi sĩ tự ý thức được tài năng, nhân cách của bản thân, mong muốn được thể hiện mình, vượt qua ngoài khuôn khổ chật hẹp của xã hội.

– Các tác giả có cái “ngông”: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

– Biểu hiện cái “Ngông” trong “Hầu trời”:

+ Tự ý thức được văn mình hay nên trời và chư tiên khen ngợi.

+ Được nhà trời thấu hiểu.

+ Tự xem mình là một “trích tiên” bị đày vì tội quá ngông.

+ Tự nhận mình được nhà trời sai xuống trần hành sứ mệnh “thiên lương”.

Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Số 7: Soạn bài Hầu Trời lớp 11

Bố cục

4 phần

+ Đoạn 1 (Câu 1- 20): Lí do, hoàn cảnh được lên đọc thơ hầu Trời

+ Đoạn 2 (Câu 21 – 68):Kể về buổi đọc thơ cho Trời và chư tiên

+ Đoạn 3 (Câu 68 -98): Tâm sự của nhà thơ với Trời về hoàn cảnh khốn khó của mình

+ Đoạn 4 (Còn lại): Phút tiễn biệt Trời, về lại thực tại

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (SGK /17)

– Khổ thơ 1 cho thấy cảm xúc trong đêm lên tiên được gợi lại chân thực, rõ nét

+ Cách mở đầu khổ thơ đặc biệt khi gợi lại một giấc mơ: “chẳng biết có hay không”: sự băn khoăn, phỏng đoán, nhưng nhà thơ lại nhấn mạnh cảm xúc chân thực khi được lên tiên

+ Điệp từ thật được sử dụng 4 lần trong câu 3, 4: Thật hồn, thật phách, thật thân thể, thật được lên tiên.. ⇒tăng thêm độ chân thực cho câu chuyện

+ Cảm xúc lạ lùng, vui sướng khi được lên tiên: “sướng lạ lùng”

– Cách vào đề gợi cảm giác chân thực về câu chuyện được kể

Câu 2 (SGK/17)

– Thái độ tác giả: đọc rất nhiệt tình, cao hứng, có phần tự hào tự đắc vì văn thơ của chính mình, đọc thơ say sưa

– Thái độ của chư tiên: Ao ước, mời mang “bán chợ Trời”

– Thái độ của Trời: lấy làm hay, khen “Văn trần được thế chắc có ít”, “Trời lại phê cho văn thật tuyệt”

– Đoạn thơ cho thấy nhà thơ mang cái tôi “ngông”, phóng túng, tự ý thức về tài năng của mình và khao khá được công nhận, khẳng định tài năng

– Giọng kể có chút ngông nghênh, tự tin

Câu 3 (SGK /17)

– Đoạn thơ hiện thực:

“Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó

……….

Biết làm có được mà dám theo”

– Ý nghĩa đoạn thơ:

+ Nêu lên hoàn cảnh hiện tại của bản thân và sự rẻ rúng của văn chương

+ Là một người ý thức được về tài năng và giá trin văn chương của mình, vậy mà tác giả phải chịu cảnh văn chương bị coi rẻ, tài năng không được trân trọng ⇒ Khiến ta có cảm giác ngậm ngùi

– Hai nguồn cảm hứng liên hệ với nhau: Bởi vì ý thức sâu sắc về hiện thực nên khát khao thoát li khỏi hiện thực ⇒ cảm hứng lãng mạn

Câu 4 (SGK/17)

– Nghệ thuật:

+ Thơ giàu yếu tố tự sự, sử dụng thể thất ngôn trường thiên nhưng tự do, phóng khoáng, thoát khỏi khuôn mẫu về hình thức

+ Ngôn ngữ nôm na gần với đời thường

+ Cảm xúc biểu lộ tự do, phóng khoáng, chân thực

Luyện tập

Bài 1 (SGK/17)

Trong văn bản “Hầu Trời”, câu thơ để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất là “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Đối với em, câu thơ không chỉ nói lên hoàn cảnh hiện tại của nhà thơ mà còn nói lên hoàn cảnh của bao nhiêu nhà thơ khác nữa. Còn gì bi kịch hơn khi một người nghệ sĩ ý thức vô cùng sâu sắc về giá trị văn chương cùng tài năng của mình lại phải chịu cảnh tài năng ấy bị coi thường, khinh rẻ. Văn chương nghệ thuật là nơi gửi gắm, giãi bày tâm trạng của con người, hướng con người tới những giá trị người tốt đẹp hơn. Bởi vậy, câu thơ đặt ra vấn đề cần nhìn nhận và đánh giá mỗi nhà văn, nhà thơ và các tác phẩm văn học một cách trân trọng hơn.

Bài 2 (SGK/17)

– “Ngông”:không đánh đồng với kiêu ngạo, “ngông” ở đây là sự tin tưởng vào tài năng và giá trị của bản thân mình”

– Cái ngông trong văn chương thường bộc lộ một thái độ sống ung dung, tự do, phóng khoáng (VD: Nguyễn Công Trứ…)

– Cái “ngông” của Tản Đà bộc lộ qua:

+ Tự tin bộc lộ cái tôi cá nhân lãng mạn, phóng khoáng thông qua sự hư cấu chuyện “Hầu trời”

+ Sự tự ý thức sâu sắc về tài năng thơ của mình

+ Không e ngại bày tỏ quan điểm cá nhân về nghề văn

Giá trị nội dung, nghệ thuật:

– Nội dung:

Qua câu chuyện về một đêm được lên đọc thơ Hầu Trời, Tản Đà đã bộc lộ cái tôi cá nhân tự do, phóng túng cùng sự tự ý thức về tài năng của mình. Đồng thời, nhà thơ cũng bộc lộ niềm mong ước được khẳng định tài năng

– Nghệ thuật

+ Thơ giàu yếu tố tự sự, sử dụng thể thất ngôn trường thiên nhưng tự do, phóng khoáng, thoát khỏi khuôn mẫu về hình thức

+ Ngôn ngữ nôm na gần với đời thường

+ Cảm xúc biểu lộ tự do, phóng khoáng, chân thực

+ Giọng điệu thoải mái, tự nhiên

Số 8: Soạn bài Hầu Trời ngắn gọn

Trả lời câu hỏi

Câu 1. Anh (chị) hãy phân tích khổ thơ đầu. Cách vào đề của bài thơ gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?

– Thời gian: đêm trăng

– Hoàn cảnh: Thi nhân đọc thơ, tiếng thơ vang vọng khiến Trời mất ngủ. Trời cho người xuống mời thi nhân lên hầu trời.

– Cảm nhận của thi nhân: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng/ Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!/ Thật được lên tiên – sướng lạ lùng”.

=> Tạo cảm giác nửa thật nửa ảo. Cách kể chuyện có duyên, hấp dẫn và độc đáo.

Câu 2. Tác giả đã kể lại chuyện mình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào? (Thái độ của tác giả, của chư tiên và những lời khen của Trời). Qua đoạn thơ đó, anh (chị) cảm nhận được những điều gì về cá tính nhà thơ và niềm khao khát chân thành của thi sĩ? Nhận xét về giọng kể của tác giả.

– Thi nhân xin phép được đọc, cao hứng và có phần tự đắc: đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn lý thuyết lại văn chơi… để phô diễn hết tài năng của mình.

– Cảm nhận của Trời và chư tiên: “văn dài hơi tốt”, “Trời cũng lấy làm hay”, “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”, “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày’’, “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”, “đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay”. Tất cả đã thể hiện được sự thích thú, say mê với thơ của thi sĩ.

– Thi sĩ bắt đầu giới thiệu các tác phẩm của mình một cách đầy đủ: tên sách – thể loại.

– Lời khen của Trời: “văn giàu thay lại lắm lối”, “Trời nghe xong cũng phải buồn cười”, chư tiên thi nhau nhờ thi nhân “gánh lên bán chợ Trời”…

=> Qua đây thể hiện được cái tôi ngông nghênh của Tản Đà: tự ý thức được tài năng của bản thân, trần gian không có ai hiểu được thơ của ông mà chỉ có thể tìm được tri kỷ ở trên trời.

– Giọng văn: tự nhiên, thoải mái và có phần hóm hỉnh.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài lại có một đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn thơ nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ đó. Theo anh (chị), hai nguồn cảm hứng này ở thi sĩ Tản Đà có mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Đoạn thơ hiện thực là:

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó

Một cây che chống bốn năm chiều”

– Ý nghĩa đoạn thơ: Bức tranh hiện thực về cuộc đời của chính nhà thơ ở nơi trần thế (cuộc sống cơ cực và đói khổ, văn chương không được coi trọng, làm không đủ ăn lại bị o ép quá nhiều…).

– Cảm hứng hiện thực trong đoạn thơ cho thấy Tản Đà không hề thoát ly cuộc sống, ông coi việc truyền bá thiên lương như một trách nhiệm quan trọng của cuộc sống.

Câu 4. Về mặt nghệ thuật, bài thơ này có gì mới và hay? (Chú ý các mặt: thể loại, ngôn từ, cách biểu hiện cảm xúc, hư cấu nghệ thuật…)

– Thể thơ: thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ: chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.

– Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện mạch cảm xúc trong bài thơ tự do, không hề gò ép.

Luyện tập

Câu 1. Bài Hầu trời có ý tưởng gì hoặc câu thơ nào làm cho anh (chị) thích thú nhất? Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của mình.

Khi đọc bài thơ “Hầu trời”, người đọc sẽ ấn tượng với ý tưởng của tác giả khi đưa ra trách nhiệm thực hiện thiên lương của mình. Trong cuộc trò chuyện với Trời, thi sĩ phát hiện ra mình là một trích tiên bị đày xuống trần gian vì tội “ngông”. Nhưng qua lời giải thích của Trời thì đó là nhiệm vụ “truyền bá thiên lương” cho nhân loại – một trách nhiệm quan trọng mà khó khăn. Qua đó, ta thấy được ý thức trách nhiệm của nhà thơ cũng như khao khát khẳng định giá trị của bản thân.

Câu 2. Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? Cái “ngông” trong văn chương thường bộc lộ một thái độ sống như thế nào? (Có thể dẫn chứng qua những tác phẩm đã học). Cái “ngông” của thi sĩ Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở những điểm nào và có thể giải thích ra sao?

– “Ngông” trong cuộc sống là có những lời nói, việc làm ngang tàng, khác lẽ thường, bất chấp sự khen chê của người đời. Còn “ngông” trong văn học là dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

– Cái “ngông” của Tản Đà ở đây là:

  • Tự ý thức được tài năng của bản thân.
  • Không tìm thấy được sự đồng điệu nơi trần thế.
  • Ý thức trách nhiệm “thực hành thiên lương” quan trọng.
  • Khát khao khẳng định giá trị của bản thân trước cuộc đời.
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Số 9: Soạn ngữ văn 11 bài Hầu Trời

Bố cục: gồm 3 phần

  • Phần 1 ( khổ thơ đầu): giới thiệu về chuyện lên hầu trời
  • Phần 2 ( tiếp… chợ Trời) thi nhân ngâm thơ cho Trời và chư tiên trên thiên đình nghe
  • Phần 3 (còn lại) Cuộc trò chuyện của thi nhân với trời

Câu 1 (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Khổ thơ đầu mở ra giấc mơ của chính tác giả, câu thơ đầu tiên nghe như tác giả đặt vấn đề có vẻ khách quan: câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không”

Cách “nhập đề” lạ, một sự “hư cấu” nghệ thuật.

Nó là cớ để nhân vật bộc lộ được cảm xúc trong “cõi mộng”

– Cách vào đề gợi được sự thích thú, tò mò, dường như rất có duyên đối với người đọc

Câu 2 (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Thi nhân đọc thơ trong sự hào hứng, có phần tự đắc:

Đương cơn tự đắc đọc đã thích

Trời nghe, trời cũng lấy làm hay

Chửa biết con in ra mấy mươi

– Giọng của thi nhân truyền cảm, hóm hỉnh, sảng khoái, cuốn hút

Thái độ của chư tiên khi nghe Tản Đà đọc thơ:

– Trời khen nhiệt thành: văn thật tuyệt, chắc có ít, đẹp như sao băng…

– Chư tiên xúc động, tán thưởng và hâm mộ: Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

+ Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

+ Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai nghe

→ Tản Đà là người “ngông” khi lên lên Trời khẳng định tài năng thơ văn của mình.

– Nhà thơ ý thức về tài năng, thơ văn của mình, dám thể hiện cái tài đó

– Đó là phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình

– Giọng thơ của Tản Đà cũng thể hiện niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Giữa chốn hạ giới rẻ như bèo, thân phận bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri kỉ

– Giọng kể của tác giả: đa dạng, hóm hỉnh có phần ngôn nghênh, tự đắc

Khác với thơ ca trung đại có tính phi ngã thì trong thơ của Tản Đà có tính phi ngã

Câu 3 (Trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Cảm hứng lãng mạn có một đoạn hiện thực, đó là đoạn:

Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó

Biết làm có được mà dám theo

– Bẩm với trời về cảnh nghèo khó, vất vả của nghề viết văn dưới hạ giới

– Ý nghĩa đoạn thơ:

+ Đoạn thơ là bức tranh hiện thực về chính cuộc đời của tác giả, nhiều nhà văn khác

+ Tiếp sau đoạn thơ là tâm trạng của tác giả, khiến người đọc xót xa, ngậm ngùi trước cuộc sống cơ cực của lớp nhà văn trong chế độ cũ

Câu 4 (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ

– Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu nào

– Ngôn từ: hóm hỉnh, hài hước, có duyên và lôi cuốn

– Cách biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng khoáng

Tác giả miêu tả Trời và Chư tiên không có chút đạo mạo, ngược lại các đấng siêu nhiên đó cũng có cách bộc lộ cảm xúc ngộ nghĩnh, bình dân ( lè lưỡi, chau mày, tranh nhau dặn…)

Luyện tập

Bài 1 (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

  • Câu thơ hay trong bài gây ấn tượng: “Con không nói Trời đã biết/ Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết/ Thôi con cứ về mà làm ăn/ Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”
  • Đây cũng chính là ước nguyện của tác giả Tản Đà, được thấu hiểu, cảm thông. Lòng khi đã thông tường, mọi chuyện sương gió không còn ngại ngùng.

Bài 2 (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2):

“Ngông” để chỉ sự khác thường, “ngông” trong văn chương để chỉ một kiểu ứng xử xã hội, nghệ thuật khác thói quen thường có ở nhà văn

Điều này bắt nguồn từ việc tác giả ý thức được cái tôi, tài năng, nhân cách của bản thân.

Các tác giả có cái “ngông” như Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

Cái “Ngông” của Tản Đà trong bài thơ này biểu hiện ở:

+ Tự cho mình văn hay tới mức Trời phải tán thưởng

+ Tìm thấy sự đồng điệu, thu hiểu từ Trời và Chư tiên

+ Xem mình là một “trích tiên” bị đày vì tội ngông

+ Nhận mình là người nhà Trời xuống hạ giới thực hành “thiên lương” một sứ mệnh cao cả

Số 10: Soạn bài Hầu Trời của Tản Đà

Đọc hiểu văn bản

Câu 1: (trang 17 sgk ngữ văn lớp 11 tập 2)

Phân tích khổ thơ ở đầu bài thơ Hầu trời:

– Khổ thơ đầu tiên của tác giả như lời mở đầu cho câu chuyện mà tác giả đã muốn kể cùng độc giả. Thời gian đã được tác giả nhắc tới “đêm khuya” và  không gian tĩnh mịch. Trong không gian và thời gian đó thì  tác giả đã đề cập tới câu chuyện của bản thân mình  thì cũng “chẳng biết có hay không”, đó có thể là thực cũng có thể là mơ nhưng tác giả đã khẳng định mình đang ở trong một trạng thái rất bình thường “chẳng hoảng hốt với  không mơ màng”. Và tác giả đã khẳng định lại một lần nữa cho câu chuyện mà tác giả đã định kể.

“Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể

Thật đã được lên tiên – sướng lạ lùng”

– Điệp từ “thật” đã được tác giả nhắc tới 4 lần nhằm để  khẳng định độ chân thật mà tác giả đã muốn kể. Cách mở đầu  đã tạo ra sự tò mò ở nơi người đọc và tạo cho người đọc sự hấp dần và dẫn dắt tới câu chuyện của tác giả định kể.

Câu 2: (trang 17 sgk ngữ văn lớp 11 tập 2)

Tác giả đã kể lại chuyện của mình đã đọc thơ cho trời và chư tiên nghe như sau:

– Tác giả đã đọc thơ cho trời và chư tiên nghe một cách cao hứng và có phần sau sưa. Nhà thơ đọc hết từ văn vần đã chuyển sang văn xuôi với một giọng động vừa hóm hỉnh vừa tươi vui và  lại vừa cuốn hút người đọc.

– Tiếp đó thì  trong phần cao hứng, tác giả đã kể cho trời và các trư tiên nghe những tác phẩm của mình với sự tự mãn.

“Hai quyển khối tình với văn lí thuyết.

Hai khối tình của con là văn chơi.

Thần tiên và giấc mộng văn tiểu thuyết”

– Qua đó thì  ta có thể thất Tản Đà là một nhà thơ rất “ngông” và  nhà thơ đã dám thể hiện tài năng của mình cùng Trời với  cái “Tôi” của tác giả đã  được thể hiện một cách rất  rõ nét của một nghệ sĩ  rất tài hoa và  có tâm hồn lãng mạn, không chấp nhận sự bằng phẳng với  sự đơn điệu trong văn chương nên thường tự đề cao và rấy  phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn của  thi sĩ.

Câu 3: (trang 17 sgk ngữ văn lớp 11 tập 2)

Đoạn thơ hiện thực trong bài thơ của Hầu trời là:

“Bẩm trời với cảnh con thực nghèo khó.

Trần gian với  thước đất cũng không có

       […]

 Sức trong non yếu ngoài thì che rấp

  Một cây che chống với bốn năm chiều”

– Đoạn thơ là một cái nhìn rất chân thực về cuộc sống ở nơi trần gian của tác giả nói riêng và những thi nhân cùng thời với tác giả đã nói chung. Cuộc sống nghèo khó với nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền,… Chính vì thế mà nhà thơ mới lên trời kể cho trời nghe về cảnh sống của mình.

– Qua đó thì ta có thể nhận thấy được Tản Đà là một nhà văn giàu tài năng và nhiều nhiệt huyết nhưng vẫn không thể thoát khỏi những nỗi lo thường nhất của cuộc sống đời thường. Nhưng dù cuộc sống của một thi nhân nghèo có nhiều khó khăn và  vất vả nhưng ông vẫn thể hiện được cái tôi của mình để  khẳng định tài năng của bản thân. Hai cảm hứng này đã đan cài khăng khít và không tách biệt trong sáng tác của nhà văn.

Câu 4: (trang 17 sgk ngữ văn lớp 11 tập 2)

Về mặt nghệ thuật của bài thơ có những cái mới và hay là:

  • Ngôn từ: Phóng khoáng và  hóm hỉnh, tươi vui với lôi cuốn người đọc không bị gò bó.
  • Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do và không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào.
  • Cảm xúc chủ đạo: Phóng túng và tự do đã biểu thị cái “tôi” rất đặc trưng của tác giả.
  • Trong con mắt của nhà thơ Trời và các bậc chư tiên thật gần gũi mà  không có một chút gì xa cách hay đạo mạo mà hiện lên cũng thật đáng yêu và  ngỗ nghĩnh như những con người dưới nhân gian.

Luyện Tập ôn luyện kiến thức

Câu 1: (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2)

– Tùy vào cảm hứng của mỗi em mà có được những cảm nhận riêng về câu thơ mà mình thích nhất và viết cảm nhận về ý thơ đó. Có thể tham khảo một số câu thơ với ý tưởng sau: “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu/ Đày xuống hạ giới vì tội ngông”. “Chư tiên ao ước rồi tranh nhau dặn:/ “Anh gánh lên đây bán chợ Trời” …

Câu 2: (trang 17 sgk ngữ văn 11 tập 2)

– Cái “ngông” của  tác giả là một cái mới mẻ và  một cái nhìn đầy táo bạo khác thường trong văn chương. Thể hiện một tài năng của một nghệ sĩ rất tài hoa với  cá tính không chịu trói mình trong khuôn phép văn chương đã lỗi thời và  tạo ra một cái nhìn với đầy tạo bạo.

Cái “ngông” của thi sĩ Tản đà trong bài thơ đã được biểu hiện qua:

  • Nhà thơ ý thức rất sâu sắc về tài  năng của mình: tự cho mình là văn hay đến mức trời và chư tiên cũng phải tán thưởng…
  • Xem như mình là một trích tiên bị đày xuống vì tội ngông.
  • Nhận mình là  một người nhà trời đã được sai xuống để thực hiện sứ mệnh cao cả..
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà
Bài Hầu Trời của tác giả Tản Đà

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Hầu Trời của Tản Đà chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.