Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Chí Phèo phần 1 chi tiết nhất

128
Top 10 mẫu soạn bài Chí Phèo phần 1 chi tiết nhất
Top 10 mẫu soạn bài Chí Phèo phần 1 chi tiết nhất
4.7/5 - (16 votes)

Tổng hợp các bài mẫu soạn văn bài Chí Phèo phần 1 của tác giả Nam Cao một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu soạn văn 11 bài Chí Phèo phần 1 chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu soạn bài Chí Phèo phần 1

Số 1: Soạn bài Chí Phèo phần 1

Câu 1 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Để trở thành một nhà văn hiện thực, hẳn nhiên người đó phải có vốn sống vốn hiểu đời rất sâu sắc. Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc cũng bởi sự hiểu đời một cách rành mạch như thế. Sự nghiệp văn học của ông ảnh hưởng rất nhiều bởi tiểu sử và con người Nam Cao.

– Về tiểu sử, Nam Cao là con một gia đình nghèo, người nghèo thường đẻ đông con. Ông ra đời vào năm 1917 và mất năm 1951 với tên khai sinh Trần Hữu Tri. Cuộc đời của ông thật sự vất vả khi mà dành công dành sức của mình làm thầy giáo ở quê sau hơn ba năm bôn ba Sài Gòn. Thế mà cuộc đời oái oăm thay, để ông chịu cảnh trường đóng cửa vì quân Nhật tiến vào Đông Dương đẩy Nam Cao vào một cuộc đời chật vật, sống lay lắt bám theo cây bút và nghề dạy bằng việc viết văn và đi gia sư.

Nhận thức được cách mạng, Nam Cao quyết định theo chân cách mạng từ 1943, ông tích cực chiến đấu bằng ngòi bút. Tuy nhiên cho đến 1951, ông tử nạn khi bị giặc phục kích.

– Về con người, có thể nói Nam Cao là một người lạnh bên ngoài, ấm bên trong. Ông được người ta nói đến như một con người sống rất nội tâm, vẻ ngoài lạnh lùng nhưng phần bên trong lại luôn luôn sục sôi, ông nghiêm khắc đấu tranh với chính bản thân mình, mâu thuẫn với thực tại xã hội, ông luôn muốn thoát khỏi những nhỏ nhen tầm thường của cuộc sống và hướng tới cái cao đẹp, cao đẹp không phải ở vẻ ngoài mà ở bên trong tâm hồn,. Điều này tạo nên thành công cho Nam Cao trong những nét bút khắc họa sâu sắc đời sống nội tâm của con người, đặc biệt là những người trí thức nghèo.

Hướng tới các giá trị bên trong con người, Nam Cao thực là một nhà văn, một người trí thức có tấm lòng đôn hậu, giàu lòng nhân ái với những người nghèo khổ, những người nông dân trong xã hội. Vì thế mà những suy tư của ông về người nông dân trên trang giấy lúc nào cũng thấm đượm đạo lý nhân ái, tinh thần nhân đạo.

Vả chăng vì nội tâm sâu sắc và nhân ái mà Nam Cao luôn day dứt trong mình những suy tư, những trầm mặc về cuộc sống, đẩy các sáng tác của ông vào mặt triết lý sâu sắc.

Quả thực nhìn vào tiểu sử và con người Nam Cao, chúng ta đều công nhận rằng con người Nam Cao cũng như những lao động nghệ thuật của ông là một tấm gương mẫu mực cho hậu thế, cho các cây bút trẻ.

Câu 2 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Theo như các ghi chú trong SGK, chúng ta nhìn ra được quan điểm nghệ thuật của Nam Cao có các nội dung chính là khẳng định giá trị văn học nghệ thuật, đề cao sự sáng tạo, nhân cách nhà văn:

– Nam Cao từng viết “Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”, đấy cũng là tiếng lòng tác giả gửi gắm qua các câu chữ. Ông nhìn nhận văn học nghệ thuật là một phần của cuộc sống, chủ nghĩa hiện thực rõ nét, đề cao hiện thực chứ không phải là cõi mộng du như chủ nghĩa lãng mạn.

– Người viết văn là người phải hiểu về văn, vậy văn học là gì? Văn học chân chính là văn học nhận thức rõ và phản ánh được tưởng nhân đạo. Nó vừa là nỗi thống khổ của người dân nghèo, nỗi khổ của những tâm hồn đẹp, vừa là nguồn sức mạnh vô tận cổ vũ những tâm hồn đau đớn kia bước trên đường cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất, một cách đấu tranh để hướng tới xã hội đẹp hơn, công bằng hơn, nhân ái và còn hòa hợp gần gũi.

– Như đã đề cập, văn chương Nam Cao chẳng mấy khi thoát ly hình ảnh con người trí thức nghèo, người trí thức mà nghèo chính là những người coi trọng cái đức, cái nghề chứ không phải con người chỉ dành trí thức của mình cho việc làm giàu, cho kinh tế. Đó chính là cái lương tâm, cái nhân cách cao đẹp của người cầm bút.

Điều này được nói ra khiến ta nghĩ đến người viết chữ trong “Chữ người tử tù”, nghệ thuật và tri thức phải để phục vụ cái tốt, phải được chỉ đạo dưới sự dẫn dắt của lương tâm. Nghề văn thì phải có sáng tạo, phải có tìm tòi, chớ có sự sao chép và cho đó là của mình, đó cũng là từ cái tâm người viết mà ra cả.

Câu 3 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Nam Cao chẳng bao giờ thôi day dứt về sự đời, sự người bởi người viết văn là thế, lúc nào cũng ngẫm nghĩ cũng lo âu. Về người trí thức nghèo, Nam Cao nhìn họ dưới một con mắt chân thực, đầy cảm xúc, đầy tình thương về cảnh đói nghèo khốn khó của họ cũng như nỗi lòng của chính bản thân ông.

Ông đi sâu vào diễn tả tấn bi kịch, những nỗi đau dằng xé trong tâm hồn họ bởi người cầm bút chân chính luôn phải giữ trong mình cái tôi cao đẹp không bị pha tạp, trong khi xã hội vây quanh họ ấy là kẻ lạc đường không ai thương.

Ông tách ngòi để nói với người đọc, nói với chúng ta rằng xã hội này ngột ngạt quá, xã hội này phi nhân tính quá, khổ quá biết than ai vì nó bóp nghẹt cổ họng của người ta mất rồi.

Đau xót, buồn thương và day dứt, Nam Cao đẩy lên một bậc suy nghĩ nữa, ông viết về khao khát, viết về sự thật đang dấy lên trong tâm hồn mình niềm mong mỏi cháy bỏng hãy cho tôi một cuộc sống có ý nghĩa hơn, tươi đẹp hơn thế này.

– Người nông dân cùng khổ khác chăng người trí thức nghèo ở chỗ họ không được học chữ nhiều, nhưng nhìn chung người nông dân trong cây viết Nam Cao chưa bao giờ thiếu đạo đức như mấy kẻ quan tham.

Những người nông dân ấy chỉ đến bước đường cùng khi bị dồn ép chứ họ đâu muốn thế. Qua hình ảnh người nông dân, bức tranh về nông thôn Việt Nam hiện lên rõ nét hơn, rằng là nó nghèo khổ, xơ xác, thê thảm… rằng là con người ở đó thiếu miếng ăn, thiếu tiếng nói.

Những phận người thấp cổ bé họng phải chịu oan ức, chịu lăng mạ từ những kẻ quyền thế. Và hơn hết, Nam Cao nhìn rất sâu vào những con người bị tha hóa, những người nông dân hiền lành trở thành kẻ lưu manh và mất nhân tính. Họ có độc ác không? Có, nhưng cái độc ác ở đây là xã hội. Họ ác vì đi đến bước đường cùng không còn đường nào để đi nữa.

Cái xã hội ấy độc quá, tànsoạn văn 11 bài Chí Phèo phần 1 bạo quá rồi bị thương bởi chính mũi dao mà họ cầm chuôi. Những người nông dân tha hóa ấy không ác đâu, họ đáng thương hơn ai hết bởi vì lương thiện quá nên cơn gió “tha hóa” mới lướt qua và nhập vào biến cái lương thiện của họ thành bộ mặt đầy sẹo vì lưu manh.

Câu 4 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Nghệ thuật Nam Cao có một phong cách riêng mà các nhà văn khác chưa hoặc không lẫn. Đó là sự sâu sắc trong khám phá nội tâm nhân vật, những nhân vật mà hiện thực tô vẽ mà con chữ chỉ là mô phỏng lại.

Nếu đã đọc Chí Phèo, bạn sẽ thấy cách miêu tả con người nửa say nửa tình, dở khóc dở cười ở Chí Phèo xuất sắc thế nào, Nam Cao cũng không đi theo lối kể chuyện tuyến tính một chiều thời gian. Mà cái xuất sắc của Nam Cao xuất phát từ sự am hiểu tận gốc ngọn của ông với nhân vật, với xã hội.

Văn viết của Nam Cao hướng về những cái nhỏ nhặt, song chúng không bé như chúng ta tưởng vì chúng có thể truyền đạt những tư tưởng triết lý cao siêu. Giọng văn mà Nam Cao sử dụng vô cùng đa dạng lúc lạnh lùng lúc sôi nổi. Vì gắn với nông thôn nên ngôn ngữ của ông của thật có chiều sâu cảm xúc mà gần gũi đời sống.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 2: Soạn văn Chí Phèo phần 1

Bài 1 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tiểu sử và con người nhà văn Nam Cao có những đặc điểm gì giúp ta thêm hiểu về sự nghiệp văn học của ông?

Trả lời:

* Tóm tắt tiểu sử nhà văn Nam Cao:

Nam Cao, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam. Làng này xuất hiện nhiều trong những sáng tác của Nam Cao với cái tên Vũ Đại. Nam Cao sinh ra trong gia đình trung nông, đông con, theo đạo Thiên Chúa. Tuy không thuộc những gia đình nghèo nhất ở làng Đại Hoàng và ông thân sinh Nam Cao có thời kì làm chủ một cửa hàng gỗ ở Nam Định, nhưng gia đình Nam Cao vẫn luôn túng bấn. Trong số bảy anh em, chỉ Nam Cao là được ăn học tới nơi tới chốn. Gia đình này cũng được mô tả nhiều trong các sáng tác của Nam Cao mà rõ nét hơn cả là trong tiểu thuyết Sống mòn.

Học hết bậc Thành chung, năm 1935, Nam Cao theo người cậu vào Sài Gòn và có ý định ra nước ngoài học tập, nhưng không thành. Sau khoảng hơn ba năm, do đau ốm, ông phải về quê. Từ đó, Nam Cao phải sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc năm 1943, khi hội này vừa được thành lập. Từ đó tới lúc hi sinh (1951), ông một lòng tận tụy phục vụ cách mạng và kháng chiến. Năm 1946, Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ. Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ và được kết nạp vào Đảng tại Bắc Kạn. Năm 1950, tham gia chiến dịch Biên Giới,… Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng đi công tác khu Ba, tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu. Ông có ý định thu thập thêm tài liệu để viết cuốn tiểu thuyết đang thai nghén. Nhưng Nam Cao và đoàn công tác bị địch phục kích. Nam Cao hi sinh trong chuyến đi đó.

* Con người Nam Cao

Nam Cao là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, vươn tới cuộc sống cao đẹp xứng đáng với danh hiệu con người. Nam Cao thường hổ thẹn với những gì mà ông cảm thấy tầm thường, thấp kém của mình.

Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội. Vì thế, không ít tác phẩm của Nam Cao viết về người lầm than là những thiên trữ tình đầy sự đồng cảm, xót thương. Ông hay suy nghĩ về nhiều vấn đề trong đời sống để rút ra những nhận xét có tầm triết lí sâu sắc và mới mẻ.

Tâm trạng bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời -> xã hội tàn bạo, bất công, bóp nghẹt sự sống -> Nỗi phẫn uất của người tri thức có ý thức về sự sống mà không được sống.

Bài 2 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

Trả lời:

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

– Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

– Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng. Ông không chạy theo cái đẹp, cái thơ mộng, quay lưng lại với hiện thực rồi viết ra những lời giả dối, phù phiếm.

– Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

– Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

Bài 3 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Viết về người trí thức nghèo và người nông dân khốn cùng, Nam Cao thường trăn trở, day dứt nhất về vấn đề gì?

Trả lời:

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao khi viết về người trí thức nghèo và nông dân khốn cùng:

– Với người trí thức nghèo:

+ Họ là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,… Họ có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội.

+ Tuy nhiên, họ luôn bị gánh nặng cơm áo gạo tiền và hoàn cảnh xã hội o ép đến ngột ngạt, bất công làm cho “chết mòn”, thành “người thừa”. Nam Cao đã phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời thể hiện niềm khao khát một lẽ sống lớn, một cuộc sống có ích và có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.

– Với người nông dân:

+ Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày

=> Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách con. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện đó.

Bài 4 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Nêu những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nam Cao

Trả lời:

Vài nét chính về phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Là cây bút hiện thực xuất sắc, Nam Cao thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc đời con người, đặc biệt chú ý và hướng tới thế giới bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài. Với ông, bản tính nội tại của con người là quan trọng. Nó chi phối hết thảy suy nghĩ, hành động bên ngoài. Vì lẽ đó, thế giới nội tâm nhân vật luôn được ông chú trọng. Nhân vật của ông hiện lên thường với tư cách là nhân vật tâm trạng. Họ cố vượt thoát khỏi cảnh ngộ mà chính họ ý thức rất rõ sự khốn cùng và bế tắc.

– Yêu thương và trân trọng những giá trị cao quý trong nhân cách con người, tác phẩm của Nam Cao ánh lên những giá trị nhân đạo vô bờ. Ông là nhà văn của những trí thức, nông dân nghèo khổ, vốn là hai mảng đề tài thường trực trong tác phẩm Nam Cao.

– Có biệt tài trong việc diễn tả và phân tích tâm lí nhân vật.

– Là nhà văn hiện thực ông tôn trọng hiện thực khách quan, đứng về phía quần chúng nghèo khổ để nói lên tiếng nói chính đáng của họ.

– Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày nhưng vẫn làm nổi bật được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.

– Giọng điệu buồn thương, chua chát, dửng dưng, lạnh lùng mà đầy thương cảm.

– Truyện của Nam Cao giàu chất triết lí, ngôn ngữ vừa trữ tình vừa sắc sảo, uyên bác mà lại sống động, tinh tế, uyển chuyển phù hợp với cuộc sống đời thường của quần chúng lao động.

=> Ngòi bút của ông lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 3: Soạn văn 11 Chí Phèo phần 1 tác giả

Câu 1 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Nam Cao tên thật: Trần Hữu Tri

– Quê quán Lý Nhân, Hà Nam trong một gia đình trung nông, nghèo, đông con, gia đình tri thức nghèo.

– Ông tham gia hoạt động cách mạng tích cực, với tư cách phóng viên, ông có mặt khắp các chiến trường.

– Ông là người có tấm lòng đôn hậu, giàu nội tâm phong phú, ông va chạm với hiện thực tàn nhẫn, sống lay lắt, dẫn tới nhiều chuyển biến về nhận thức

– Tâm trạng bất hòa với xã hội, nên tác phẩm của ông tố cáo những bất công, tàn bạo trong xã hội, bênh vực, thấu hiểu cho kẻ yếu thế

– Tinh thần vượt lên khắc phục tâm lý, lối sống tiểu tư sản nhằm hoàn thiện nhân cách và có cuộc sống ý nghĩa

Câu 2 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Nam Cao là nhà văn tự giác về quan điểm có tính nguyên tắc của văn học hiện thực tiến bộ:

+ Ông không tập trung miêu tả cái đẹp, cái thơ mộng mà bám vào hiện thực và phản ánh chân thực hiện thực xã hội

+ Ông quan niệm văn chương phải viết về cuộc sống, văn chương vì con người, nhà văn chân chính là nhà văn có nhân cách, lòng nhân đạo

+ Văn chương chân chính thấm đượm tinh thần nhân đạo, mang nỗi đau nhân thế, tiếp sức mạnh cho con người vươn lên trong cuộc sống

– Bản chất của văn chương là sáng tạo, không chấp nhận cái rập khuôn và sự dễ dãi

+ Người viết phải có lương tâm vì “sự cẩu thả trong văn chương là một sự đê tiện”

Câu 3 (trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Các sáng tác trước CM tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân

⇒ Nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội

Câu 4 (Trang 142 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

– Khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tâm nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật

– Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

– Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội

Số 4: Soạn văn lớp 11 bài Chí Phèo phần 1 tác giả

Câu 1 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

* Tiểu sử

– Trần Hữu Tri ( 1917- 1951), quê Hà Nam – vùng chiêm trũng, nông dân xưa nghèo đói, bị ức hiếp, đục khoét.

– Sau khi học xong bậc thành chung, ông vào Sài Gòn làm báo, thất nghiệp, đi dạy học ở Hà Nội,về quê.

– 1943 tham gia Hội văn hóa cứu quốc, làm chủ tịch xã (1945), kháng chiến chống Pháp.Hy sinh 1951

* Con người

– Thường mang tâm trạng u uất, bất hòa với XHTDPK. Thừơng luôn tự đấu tranh nội tâm để hướng tới những điều tốt đẹp.

– Có tấm lòng đôn hậu, yêu thương con người, nhất là những người bé nhỏ, nghèo khổ; gắn bó sâu nặng với bà con ruột thịt ở quê hương.

Câu 2 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của:

– Văn chương phải vì con người, phải trung thực, không nên viết những điều giả dối, phù phiếm.

– Tác phẩm VH phải có ý nghĩa XH rộng lớn sâu sắc, phải có nội dung nhân đạo sâu sắc.

– Người viết văn phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi.

– Nhà văn phải có vốn sống phong phú thì mới viết được tp có giá trị.

Câu 3 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Viết về người trí thức nghèo: trăn trở bởi bi kịch tinh thần, giữa một bên là khát khao lí tưởng và thực tại.

– Viết về người nông dân: trăn trở, day dứt vì số phận bi thảm, bần cùng, bị tha hóa

Câu 4 (trang 142 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Nét chính trong phong cách nghệ thuật của:

– Đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần – con người bên trong của nhân vật.

– Có biệt tài phát hiện, miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật

– Lời văn đối thoại và độc thoại tinh tế, đặc sắc.

– Cốt truyện đơn giản đề tài gần gũi nhưng đặt ra những vấn đề sâu xa

– Giọng điệu lời văn: buồn thương, chua chát dửng dưng, lạnh lùng mà thương cảm, đằm thắm.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 5: Soạn bài Chí Phèo phần 1 tác giả

Câu 1 (trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Tiếu sử và con người nhà văn Nam Cao:

* Tiểu sử Nam Cao:

– Sinh ra trong một gia đình nông dân, từng là một ông giáo trường tư.

– Cuộc sống chật vật, sống lay lắt bằng nghề viết văn và gia sư.

– Ông tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến của dân tộc với tư cách là một phóng viên, nhà văn – chiến sĩ làm công tác báo chí, truyên truyền.

* Con người Nam Cao:

– Nội tâm phong phú, luôn sục sôi.

– Luôn trăn trở, day dứt nội tâm.

– Khao khát vươn tới “tâm hồn trong sạch và mơ ước tới cảnh sống, những con người thật đẹp”.

– Là người nhân hậu, ấm áp, giàu yêu thương.

Câu 2 (trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

– Văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống và phải phục vụ cuộc sống.

– Đề cao sự tìm tòi, sáng tạo.

– Đề cao lương tâm, trách nhiệm nhà văn.

– Quan niệm một tác phẩm có giá trị phải mang giá trị nhân đạo, phải có ý nghĩa nhân loại.

– Sau Cách mạng tháng 8/1945, ông quan niệm sống đã rồi hãy viết, khi Tổ quốc lâm nguy, người nghệ sĩ – chiến sĩ hài hòa thống nhất.

Câu 3 (trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Các vấn đề trong hai mảng đề tài của Nam cao:

– Mảng đề tài người nông dân thể hiện sự trăn trở về các vấn đề:

+ Bức tranh nông thôn nghèo đói, xơ xác, tiêu điều.

+ Tình trạng tha hóa, lưu manh hóa của nhiều người dân lương thiện khi bị đẩy vào đường cùng.

+ Khẳng định vẻ đẹp nhân tính ở những người nông dân nghèo khổ.

– Mảng đề tài người trí thức thể hiện sự trăn trở về các vấn đề:

+ Phản ánh tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản.

+ Phê phán xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo, bóp chết quyền sống của con người.

+ Khẳng định khát vọng sống xứng đáng với hai chữ con người.

Câu 4 (trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Biệt tài miêu tả tâm lí: nhân vật tâm lí, kết cấu tâm lí, ngôn ngữ tâm lí.

– Viết về những điều nhỏ nhặt nhưng tầm khái quát, triết lí lớn lao.

– Ngòi bút tỉnh táo, sắc lạnh, khách quan, dồn nén nhiều yêu thương và suy ngẫm.

– Ngôn ngữ uyển chuyển, chân thực, đa thanh, thường cùng tồn tại giọng tự sự lạnh lùng và giọng trữ tình sôi nổi.

Số 6: Soạn Chí Phèo phần 1 tác giả

Câu 1 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

a) Tiểu sử Nam Cao:

– Tên thật là Trần Hữu Tri (1915 – 1951)

– Quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân,tỉnh Hà Nam.

– Ông xuất thân trong một gia đình nghèo khó, là người duy nhất trong gia đình được đi học.

* Trước cách mạng

+ Học hết Thành chung, đi làm nhiều nơi: Sài Gòn, Hà Nội. Do đau ốm, ông phải về quê. Nam Cao phải sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

+ Năm 1943 tham gia Hội Văn hóa cứu quốc.

* Sau cách mạng tháng Tám

+ Vừa viết văn vừa tham gia cách mạng.

+ Năm 1946 tham gia đoàn quân Nam tiến, năm 1950 tham gia chiến dịch Biên Giới.

+ Năm 1951 hi sinh trên đường đi công tác.

b) Con người Nam cao

– Nam Cao là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú.Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, vươn tới cuộc sống cao đẹp xứng đáng với danh hiệu con người.

Có thể bạn quan tâm: Soạn bài Bếp lửa | Soạn văn 9 hay nhất

– Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội. Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng gọi là người (Đời thừa). Đó là một trong những lí do dẫn Nam Cao đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vi nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

Câu 2 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

* Trước cách mạng tháng Tám

– Nghệ thuật phải bám sát vào cuộc đời, gắn bó với đời sống nhân dân lao động.

– Nhà văn phải có đôi mắt tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.

– Văn chương là lĩnh vực đòi hỏi phải khám phá, tìm tòi, sáng tạo.

– Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm.

* Sau cách mạng: Nam Cao khẳng định sứ mệnh của nhà văn lúc đó phải phục vụ cho cuộc chiến đấu. Đây là bước tiến vượt bậc trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

=> Nam Cao xứng đáng là một nhà văn hiện thực sâu sắc, có quan điểm nghệ thuật tiến bộ.

Câu 3 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Viết về người trí thức nghèo Nam Cao thường trăn trở về:

+ tình cảnh sống dở chết dở của người trí thức nghèo

+ tấn bi kịch, tinh thần dai dẳng đau đớn ở họ

+ xã hội ngột ngạt, phi nhân tính đã bóp nghẹt sự sống con người

+ niềm khao khát về một cuộc sống thực sự có ý nghĩa

– Viết về người nông dân cùng khổ Nam Cao thường trăn trở về:

+ một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam: đói nghèo, sơ xác, bần cùng, thê thảm

+ những phận người thấp cổ bé họng, bị lăng mạ, xỉ nhục, đẩy vào đường cùng

+ Đi sâu vào tình trạng người nông dân bị tha hóa, lưu manh hóa, mất hết nhân hình lẫn nhân tính

+ Tố cáo đanh thép xã hội tàn bạo

+ Phát hiện khẳng định bản chất lương thiện ngay cả trong những con người bị hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính.

Câu 4 (trang 142 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Nam Cao là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo:

– Luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người.

– Có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật.

– Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

=> Ngòi bút của ông lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 7: Soạn văn 11 Chí Phèo phần 1

Câu 1. Tiểu sử và con người nhà văn Nam Cao có những đặc điểm gì giúp ta hiểu thêm về sự nghiệp văn học của ông.

* Tiểu sử

– Nam Cao (1917 – 1951) sinh ra trong một gia đình nông dân. Quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam.

=> Ông gắn bó sâu sắc với những người nông dân (một trong hai mảng đề tài chính của Nam Cao). Quê hương của Nam Cao đã đi vào sáng tác của ông.

– Sau khi học hết bậc Thành trung, Nam Cao vàng Sài Gòn kiếm sống và bắt đầu sáng tác. Sau hơn ba năm đau ốm, ông phải trở về quê. Sau đó, ông dạy học cho một trường tư thục ở ngoại ô Hà Nội. Nhưng cuộc đời của một ông giáo trường tư cũng không được yên ổn: Nhật kéo vào Đông Dương, trường học phải đóng cửa, ông sống chật vật, vất vả bằng nghề viết văn và làm gia sư.

=> Mảng đề tài quan trọng thứ hai của Nam Cao là viết về người trí thức.

– Đầu năm 1943, Nam Cao tham gia nhóm Văn hóa cứu quốc ở Hà Nội, nhưng bị địch khủng bố gắt gao, ông phải lánh về quê, tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa (8 – 1945) ở Lý Nhân. Năm 1946, ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến với tư cách là một phóng viên. Năm 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác báo chí, tuyên truyền phục vụ kháng chiến.

=> Các sáng tác sau cách mạng của Nam Cao chủ yếu phục vụ kháng chiến.

* Con người:

– Con người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ lạnh lùng, vụng về, ít nói, nhưng đời sống nội tâm lại rất phong phú.

– Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, gắn bó sâu nặng giàu ân tình với quê hương, những người nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ.

– Ông quan niệm rằng không có tình yêu thương đồng loại thì không đáng gọi là con người (Đời thừa).

=> Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện thực xã hội đương thời, thể hiện niềm xót xa đồng cảm với số phận của con người.

Câu 2. Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao?

– Trong suốt cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn suy nghĩ về vấn đề “sống và viết”, rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình.

– Khi mới cầm bút, Nam Cao còn chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời. Nhưng ông dần nhận ra thứ văn chương đó rất xa lạ với đời sống lầm than của nhân dân lao động, ông quyết định đoạn tuyệt với nó để tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa.

– Trước cách mạng, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao được thể hiện trong các tác phẩm của ông:

“Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn”. (Đời thừa, 1943)

“Sống đã rồi hãy viết”, “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (Nhật kí ở rừng, 1948).

– Sau cách mạng, Nam Cao tích cực tham gia kháng chiến, sẵn sàng hi sinh thứ nghệ thuật cao siêu của mình với ý nghĩ: lợi ích dân tộc là trên hết. Ông quan niệm rằng “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (Nhật kí Ở rừng, 1948).

Câu 3. Viết về người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ, Nam Cao thường trăn trở, day dứt về vấn đề gì?

– Người nông dân nghèo đói bị vùi dập: Lão Hạc, Chí Phèo, Dì Hão, Một bữa no, Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh…

– Người trí thức nghèo, sống mòn mỏi bế tắc trong xã hội xưa cũ: Đời thừa, Giăng sáng, Những truyện không muốn viết, Mua nhà, Quên điều độ, Cười…

Câu 4. Nêu những nét chính của phong cách nghệ thuật Nam Cao.

– Nhà văn có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật.

– Nam Cao tỏ ra sắc sảo trong việc phân tích, diễn tả những trạng thái, quá trình tâm lý phức tạp, hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười…

– Ông còn tạo được những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm rất chân thật, sinh động.

Số 8: Soạn văn bài Chí Phèo phần 1

Câu 1

Nam Cao trải qua một cuộc sống khá khó khăn: hoàn cảnh gia đình nghèo khó, trước cách mạng ông đi làm nhiều nơi, sống vất vưởng, chính vì thế ông thấu hiểu được sự khó khăn, vất vả của con người. Hơn nữ, bản thân ông tuy là người ít nói nhưng đời sống nột tâm phong phú, lại là con người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thường, có sự gắn bó sâu sắc với quê hương và những người dân nghèo khổ. Có lẽ vì thế mà tác phẩm của ông hướng đến cuộc đời của người dân, gắn với đời sống của nhân dân lao động với giá trị nhân đạo sâu sắc.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông vừa viết văn vừa tham gia cách mạng và cũng bắt đầu từ đây, các tác phẩm của ông chuyển hướng sang đề tài Cahs Mạng.

Câu 2

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao thay đổi theo hai giai đoạn chính: trước và sau Cách mạng tháng Tám.

– Trước cách mạng tháng Tám, các tác phẩm của ông bám sát vào đời sống, cuộc đời của người dân lao động. Có trái tim nhân đạo, đôi mắt tình thương là quan niệm của ông về những phẩm chất nhà văn phải có, ông cho rằng tác phẩm hay là tác phẩm chứ giá trị nhân đạo sâu sắc. Với ông, phải có sự tìm tòi, nghiên cứ khi viết văn, mỗi người cầm bút phải tìm được lối đi riêng dựa trên lương tâm và  nghiêm túc, công phu trong việc lao động nghệ thuật.

– Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao nêu ra sứ mệnh phục vụ chiến đấu cách mạng của nhà văn. Sự thay đổi này tạo ra bước ngoặt trong sự nghiệp của T Hữu.

Có thể nói, Nam Cao có những cái nhìn rất sâu sắc và thực tế về nghệ thuật.

Câu 3

Đối tượng của Nam cao khi viết về những người trí thức nghèo là những “giáo khổ trường tư”, những nhà văn nghèo, những viên chức nhỏ. Ông tập trung vào miêu tả cuộc sống khó khăn, dù cho họ là những con người có tài, có lý tưởng, ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, nhưng lại bị đè nặng bởi nỗi lo cơm áo, gạo tiền, rồi sống cuộc sống lay lắt qua ngày, “sống mòn” với thời gian. Qua đó, nhà văn phê phán xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo, đồng thời thể hiện niềm khát khao mãnh liệt về cuộc sống sâu sắc, có ích và có ý nghĩa hơn.

Còn khi viết về người nông dân, Nam Cao xây dựng nên bức chân dung về cuộc sống nghèo đói, xơ xác những năm 1940-1945. Con người xuất hiện trong tác phẩm của ông là những người khốn khó, thấp cổ bé họng, tuy hiền lành nhưng lại phải chịu nhiều áp bức bất công. Trong văn Nam Cao, những con người ấy, người đi vào đường cùng, người lại bị xã hội tha hóa.

Những nhân vật đó của ông đã khắc họa rõ nét xã hội tàn bạo phá hủy nhân cách con người, đẩy người ta đến đường cùng, đem đến sức tố cáo cao. Tuy nhiên, nhà thơ viết văn không phải để phê phán người nông ngân, mà trong cái nghịch cảnh và sự tha hóa đó, nội tâm và những phẩm chất tốt đẹp của những người nông dân đó nổi bật lên, nó vừa thể hiện sự đồng cảm, vừa có sức tố cáo mạnh hơn.

Câu 4

Phong cách chính của Nam Cao là lối viết luôn hướng đến con người. Ông có tài năng trong việc miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật, khai thác những nét nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng, từ đó khai mở ra những mặt chưa từng thấy trong phẩm chất của con người, đồng thời tố cao sâu sắc xã hội đương thời, đưa ra những vấn đề xã hội, những triết lý sâu sắc.

Ngòi bút của ông sắc sảo, lạnh lùng nhưng cũng đầy tình cảm, ưu thương phác họa sâu sắc cách nhìn nhận về cuộc sống. Có thể nói ông là nhà văn đi đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 9: Soạn bài Chí Phèo phần 1

Câu 1 (trang 142 sgk ngữ văn tập 1)

Nam Cao tên thật: Trần Hữu Trí

– Quê quán Lý Nhân, Hà Nam trong một trang trại vừa, nhà nghèo đông con, một gia đình trí thức nghèo.

– Tham gia hoạt động cách mạng tích cực, là phóng viên, có mặt trên khắp các chiến trường.

– Là người nhân hậu, giàu nội tâm, va chạm với thực tế phũ phàng, sống lay lắt dẫn đến nhận thức có nhiều thay đổi.

– Hài hước trái ngược với xã hội nên hành động của anh tố cáo sự bất công, tàn bạo trong xã hội, bảo vệ và thấu hiểu kẻ yếu.

– Bản lĩnh khắc phục tâm lý, lối sống tiểu tư sản để hoàn thiện nhân cách, sống có ý nghĩa.

Câu 2 (trang 142 sgk ngữ văn tập 1)

Nam Cao là nhà văn nhận thức rõ quan điểm chủ đạo của văn học hiện thực tiến bộ:

+ Không chú trọng tả cái đẹp, thi pháp mà bám vào hiện thực, phản ánh hiện thực xã hội.

+ Ông cho rằng văn học phải là văn học về cuộc sống, văn học về con người, nhà văn hiện thực là nhà văn có nhân cách và chủ nghĩa nhân văn.

+ Nền văn học chân chính chan chứa tinh thần nhân văn, mang nỗi đau xót xa, tiếp thêm sức mạnh cho con người vươn lên trong cuộc sống

– Bản chất của văn học là sáng tạo, không chấp nhận sự rập khuôn, dễ dãi.

Người viết phải có lương tâm vì “cẩu thả văn chương là một điều ô nhục”

Câu 3 (trang 142 sgk ngữ văn tập 1)

Các sáng tác CM của Nam Cao trước tháng Tám tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, về cuộc sống của người nông dân.

⇒ Nỗi băn khoăn, đau xót của tác giả trước sự xói mòn nhân phẩm, nhân cách bị hủy hoại trong xã hội.

Câu 4 (Trang 142 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Nam Cao đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, thích khám phá con người ở con người

– Có xu hướng tìm hiểu, khai thác sâu nội tâm nhân vật, phân tích miêu tả tâm lý nhân vật.

– Cách tạo lời thoại, độc thoại nội tâm chân thành, sinh động.

– Giọng văn: xót xa, chua xót, đau đớn nhưng đầy xót thương, thương cho thân phận con người đáng thương trong xã hội.

Số 10: Soạn văn Chí Phèo phần 1

Câu 1 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

* Tiểu sử Nam Cao

– Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

– Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, là người duy nhất trong gia đình được đi học.

– Học hết Thành chung, đi làm nhiều nơi: Sài Gòn, Hà Nội. Do đau ốm, ông phải về quê, sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

– Năm 1943 tham gia Hội Văn hóa cứu quốc.

– Sau cách mạng tháng Tám, ông vừa viết văn vừa tham gia cách mạng.

– Năm 1946 tham gia đoàn quân Nam tiến, năm 1950 tham gia chiến dịch Biên Giới.

– Năm 1951 hi sinh trên đường đi công tác.

* Con người Nam Cao

– Là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú, tâm trạng bất hòa sâu sắc đối với xã hội đương thời.

– Có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, gắn bó ân tình sâu nặng, thiết tha với người nông dân nơi đồng ruộng làng quê.

– Luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với mình một cách trung thực để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, cố khắc phục tâm lí, lối sống tiểu tư sản vươn tới cuộc sống cao đẹp.

– Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng gọi là người

=> Tất cả những đặc điểm về hoàn cảnh cuộc đời và con người Nam Cao đã đưa ông đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

Câu 2 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

– Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

– Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng.

– Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm.

– Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

– Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

– Nhà văn phải có đôi mắt tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.

Câu 3 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao:

* Khi viết về người trí thức nghèo

– Các nhân vật ấy là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,… có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội, được khẳng định trước cuộc đời. Tuy nhiên, họ lại bị xã hội bất công và cuộc sống nghèo đói bóp nghẹt, tàn phá tâm hồn.

* Khi viết về người nông dân

– Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày. Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách của những con người bản chất vốn hiền lành. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện của họ ngay cả khi họ bị xã hội vùi dập, cướp mất cả nhân hình, nhân tính.

=> Các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân, thể hiện nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội.

Câu 4 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

– Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

– Có biệt tài và khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tâm nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật.

– Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

– Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

– Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu soạn bài Chí Phèo phần 1 chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.