Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt chi tiết nhất

Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt chi tiết nhất
Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt chi tiết nhất
4.8/5 - (16 votes)

Tổng hợp các bài mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt trong bài Chiếc thuyền ngoài xa của tác giả Nguyễn Minh Châu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Dàn ý so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt

I. Mở bài

– Kim Lân là ca tụng nhà văn của người nông dân. “ Vợ nhặt ” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của ông, thành công xuất sắc rung động người đọc với hình tượng “ người vợ nhặt ” tha phương nhưng khuất lấp sau đó là nghị lực sống can đảm và mạnh mẽ

– Nguyễn Minh Châu – một cây bút tài ba tiên phong trong thời kỳ thay đổi. “ Chiếc thuyền ngoài xa ” là lần gặp gỡ định mệnh của một người nghệ sĩ với một quốc tế đầy nghịch lí và đau thương của số phận một người phụ nữ làng chài

II. Thân bài

So sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

  1. Nét tương đương của hai hình ảnh

– Số phận lận đận đầy xót xa của phận người phụ nữ : Cả hai tác giả đã thiết kế xây dựng thực trạng nhân vật đều là những thân phận nhỏ bé, là nạn nhân của những thực trạng trớ trêu đau thương Người vợ nhặt thị

  • Số phận dặt dìu, không rõ tên tuổi quê quán, tình cảnh trôi dạt, nay đây mai đó
  • Vẻ ngoài nhếch nhác, đói khổ do cái đói giày vò
  • Thái độ chao chát, cong cớn, vô phép tắc do bị đẩy đến bước đường cùng, không còn sĩ diện
  • Theo một người lạ về làm vợ chỉ bằng bốn chén bánh đúc chỉ vì mong có cái ăn qua ngày

Người đàn bà làng chài

  • Ngoại hình xấu xí, thô kệch như đàn ông do phải dãi dầm nắng mưa làm lụng và bị bạo hành mái ấm gia đình
  • Cam chịu, nhẫn nhục đến ngu ngốc, từ bỏ cả niềm hạnh phúc của chính bản thân mình
  • Quê mùa, thất học, bần hàn, sống phụ thuộc vào vào kẻ khác
  • Phía sau số phận trôi dạt, tha hương cầu thực là một khát vọng ham sống mãnh liệt
  • Phía sau vẻ dơ bẩn, đói khổ lại là một người biết trước biết sau, hay lo nghĩ, ý tứ.
  • Bên trong vẻ láo nháo, cong cớn lại là một người phụ nữ dịu dàng êm ả, hiền hậu, biết lo toan cho mái ấm gia đình.

Người đàn bà trong Vợ nhặt

  • Bên trong ngoại hình xấu xí, cục mịch lại là một trái tim nhân hậu, đầy sự vị tha và độ lượng, một tấm lòng giàu sự hi sinh.
  • Phía sau vẻ nhẫn nhục ngu ngốc vẫn là một tâm hồn khát vọng sống niềm hạnh phúc
  • Phía sau vẻ quê mùa, thô kệch, thất học là một con người đồng cảm nhân sinh, thâm thúy lẽ đời.
  1. Sự trái chiều khi so sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

– Vẻ đẹp của nhân vật “ người vợ nhặt thị ” là phẩm chất đáng quý của một nàng dâu thế hệ mới. Nó được bộc lộ qua những chi tiết cụ thể đầy dư vị sáng sủa, yêu đời dù toàn cảnh là nạn đói thê thảm, khốn cùng.

– trái lại, vẻ đẹp được khắc sâu ở “ người đàn bà hàng chài ” lại chính là những phẩm chất trân quý của một người mẹ, người vợ tảo tần nặng gánh mưu sinh. Tất cả biểu lộ lên qua những cụ thể đầy giật mình kịch tính, trong toàn cảnh đói khổ nghèo nàn gây nên thực trạng đấm đá bạo lực mái ấm gia đình

III. Kết bài

– Khái quát những điểm giống / khác nhau và nêu cảm nhận của bản thân

Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt

Số 1: So sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt

Kim Lân là nhà văn viết nhiều và viết khá hay về đời sống nông thôn cũng như những người nông dân hiền lành chất phác. Viết về cuộc sống, số phận, cảnh ngộ của những con người trong những năm xảy ra nạn đói năm Ất Dậu, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu cho những khám phá của nhà văn về vẻ đẹp của người nông dân mà nổi bật là hình ảnh người vợ nhặt với khát vọng sống mãnh liệt.

Nguyễn Minh Châu là một trong những người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được kể lại từ điểm nhìn trần thuật của người nghệ sĩ mang tên Phùng – một nghệ sĩ trên hành trình khai phá nghệ thuật đồng thời tác phẩm cũng góp phần thể hiện những khám phá mới mẻ của nhà văn về hiện thực và về con người. Một thành công nổi bật của tác phẩm là những phát hiện về vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài.

Xuất hiện trong bối cảnh ngày đói quay quắt, ý chí bám lấy sự sống vấn rất mạnh mẽ trong nhân vật (bỏ qua ý thức về danh dự, chấp nhận theo không Tràng).Khi trở thành vợ của Tràng, ở chị không còn vẻ “chao chát”, “chỏng lỏn” mà thay vào đó là sự “hiền hậu đúng mực”, sự “ý tứ” với hành động “ngồi mớm ở mép giường”, “điềm nhiên và vào miệng”, “miếng cám nghẹn bứ, đắng chát”, cách đối xử chân tình với người chồng mới, ý thức tu sửa và dọn dẹp mái ấm gia đình.

Là một người có khao khát chân chính: mơ ước về tổ ấm gia đình, về hạnh phúc. Nghệ thuật miêu tả nhân vật: đặt nhân vật trong tình huống “nhặt được vợ” vừa lạ vừa tội nghiệp, cùng với khả năng phân tích tâm lí sắc sảo, ngòi bút Kim Lân đã đi sâu khơi tìm đằng sau hiện thực khốn quẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người.

Còn người đàn bà hàng chài đối lập với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch là vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo và cao khiết. Mọi sự cam chịu đến nhẫn nhục của nhân vật đều xuất phát từ tình yêu thương con tha thiết, từ trái tim hồn hậu, vị tha của một người mẹ. Chị cũng là một người phụ nữ giàu đức hi sinh. Đặc điểm này cũng xuất phát từ tình mẫu tử, lòng yêu con tha thiết. Không những thế, người đàn bà tưởng như “khép nép”, “sợ sệt” lại là một người thấu hiểu lẽ đời, tình người.

Trong khi Phùng và Điểu kết tội gã đàn ông là kẻ độc ác nhất thế gian thì chị lại lí giải những trận đòn kia bằng nỗi khổ vật chất đè nặng lên vai người đàn ông. Qua câu chuyện đời tự kể của chị, Phùng và Đẩu mới dần cảm nhận được lẽ đời và nhân tình thế thái một cách chân thực. Sử dụng biện pháp đối lập (giữa hình thức và tâm hồn), đặt nhân vật trong tình huống nhận thức độc đáo, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc khám phá “… ẩn giấu” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài.

Viết về hai người đàn bà trong hai bối cảnh khác nhau nhưng các nhà văn đều dồn tâm sức khai phá vẻ đẹp tiềm ẩn, khó thấy, khuất lấp của người phụ nữ bên cạnh số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng. Người vợ nhặt hay người đàn bà hàng chài đều là những nhân vật không tên tuổi, trở thành những khái quát nghệ thuật đặc sắc. Họ mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.Khám phá vẻ đẹp của người phụ nữ, cả hai nhà văn đều thể hiện niềm tin vào phẩm chất của con người dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhất.

Đặt nhân vật trong bối cảnh nạn đói nên tâm điểm nghệ thuật của Kim Lân là khát vọng sống mãnh liệt, là những căn tích tốt đẹp bấy lâu bị cái đói làm cho chìm khuất. Nguyễn Minh Châu lại xây dựng hình tượng người đàn bà trong bối cảnh xã hội sau năm 1975, khi chiến tranh đã đi qua nhưng cái nghèo, cái lạc hậu vẫn chưa hết, vì vậy nhân vật của ông được khám phá ở vẻ đẹp của nhận thức của sự thấu trải lẽ đời, tình người.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 2: Phân tích vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Ai đó đã từng nói “Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người.

Kim Lân với truyện ngắn “Vợ nhặt” và Nguyễn Minh Châu với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trường hợp như vậy. Nếu như với khả năng viết rất hay về nông thôn và cuộc sống của người dân quê, Kim Lân xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt qua tình huống truyện độc đáo thì với phong cách truyện đậm chất tự sự-triết lí, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra những nghịch lí trong cuộc sống của người đàn bà hàng chài. Qua cả hai tác phẩm, các tác giả đều cho ta thấy được vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn.

Có thể nói, trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhân vật người vợ nhặt tuy không phải là nhân vật chính nhưng vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Tuy là một con người vô danh nhưng nhà văn đã xây dựng cho nhân vật của mình một cá tính đậm nét. Được khắc họa sống động theo lối đối lập giữa bên trong và bên ngoài, ban đầu và về sau, người vợ nhặt hiện lên với đầy đủ những phẩm chất của con người bình dị trong nạn đói thê thảm Từ một cô con gái “ngồi vêu ra ở cửa nhà kho” chao chát, chỏn lỏn đến một nàng dâu hiền hậu, đảm đang, đúng mực là một hành trình đầy bất ngờ với bao biến động trong cuộc đời nhân vật. Nhà văn đã chọn được tình huống truyện thật độc đáo để nhân vật tự bộc lộ giá trị của mình.

Ở đầu tác phẩm, những vẻ đẹp của người vợ nhặt bị che khuất bởi những con số không tròn trĩnh: không quê quán, không nghề nghiệp, không cả một cái tên, không nhan sắc, không lòng tự trọng. Cuộc sống đói khổ càng tô đậm sự xấu xí của thị: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người “gầy sọp”, “trên cái khuôn mặt xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Khi nghe tiếng hò của Tràng, thị “lon ton chạy theo” đẩy xe thóc cùng, hôm sau lại “sầm sập chạy đến”, “cong cớn” đứng trước mặt anh ta để đòi “nợ” rồi “cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Giữa sự lựa chọn nghiệt ngã: hoặc chết đói để giữ sĩ diện hoặc bỏ lòng tự trọng sang một bên để bám víu lấy sự sống, thị đã chọn cách thứ hai.

Song, qua tiến trình của câu chuyện, con người thực sự của nhân vật người vợ nhặt dần hiện ra dưới ngòi bút truyện tài hoa của Kim Lân. Thị “rón rén, e thẹn, đầu cúi xuống, chân bước díu vào nhau” khi đi qua xóm ngụ cư, trên đường về nhà Tràng. Ở đây, ta chỉ thấy một cô gái hiền hậu, biết ý tứ và ngượng ngùng một cách thật dễ thương chứ không còn cái “cong cớn” vô duyên lúc trước. Buổi sang sau khi về làm vợ Tràng, thị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp, nấu cơm và cư xử, nói năng đúng mực khiến ngay cả Tràng cũng ngạc nhiên vì sự thay đổi ấy.

Thị đã trở thành người vợ đảm, người con dâu đảm đang biết lo toan việc nhà. Phải chăng đây mới chính là bản chất tốt đẹp của con người vợ nhặt? Ngay cả trong chi tiết theo không Tràng về làm vợ của thị, nếu xét kĩ, ta sẽ thấy hành động ấy thực chất xuất phát từ khao khát tình yêu, hạnh phúc và tổ ấm gia đình cháy bỏng của những người nông dân bình dị. Tóm lại, với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt với những vẻ đẹp tâm hồn đáng được trân trọng và ngợi ca.

Bên cạnh người “vợ nhặt”, nhân vật người đàn bà hàng chài trong “CTNX” cũng để lại ấn tượng sâu sắc. Là nhân vật chính, nhân vật này có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc thể hiện giá trị tư tưởng của tác phẩm. Nguyễn Minh Châu đã khắc họa nhân vật khá sắc nét bằng bút pháp hiện thực theo lối tương phản giữa bên ngoài và bên trong, giữa than phận và phẩm chất. Xuất hiện trong tình huống đầy nghịch lí dưới khám khá của nhân vật Phùng, nhân vật người đàn bà hàng chài hiện lên với những vẻ đẹp khuất lấp khiến ta xót xa, lo âu và không khỏi trăn trở.

Xuất hiện trước mắt độc giả, người đàn bà hàng chài hiện lên với ngoại hình xấu xí, thô kệch: than hình cao lơn, “khuôn mặt mệt mỏi”, “tái ngắt”, “tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới”. Cuộc sống của chị là một chuỗi những tháng ngày vừa lao động vất vả, vừa phải chịu đòn roi của chồng: “ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Độc giả có thể thông cảm với hoàn cảnh bất hạnh nhưng rất dễ bất bình với sự nhẫn nhục, cam chịu quá đáng của nhân vật khi im lặng chấp nhận trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình.

Nhưng phía sau ngoại hình xấu xí và sự nhẫn nhục ấy là cả một tấm lòng vị tha, độ lượng, đức hi sinh cao cả và sự cứng cỏi, can đảm hiếm có của người phụ nữ. Chị chấp nhận cuộc sống ấy bởi lẽ chị yêu thương các con, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ tổ ấm gia đình. Đối với chị thì “đàn bà ở thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Và dù bị đánh đập, hành hạ bao nhiêu thì người đàn bà ấy vẫn cảm thông với những khó khăn của chồng, vẫn cứ chắt chiu từng giây phút hạnh phúc trong cuộc sống. Phía sau sự thất học, quê mùa, người đàn bà hàng chài vẫn là người phụ nữ sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Lí lẽ của chị là lí lẽ của con người từng trải bao sóng gió, khó khăn, không chỉ khiến chánh án Đẩu, nhiếp ảnh gia Phùng mà còn khiến tất cả chúng ta phải ngạc nhiên, cảm phục.

Có thể thấy, cả hai nhân vật đều là những thân phận nhỏ bé, là nạn nhân của hoàn cảnh nhưng vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện. Vẻ đẹp ấy, trong những lam lũ của đời thường, trong những khoảnh khắc khó khăn của cuộc sống có thể bị che lấp đi nhưng không bao giờ biến mất. Cả Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đều thành công ở điểm này, khi miêu tả nhân vật bằng những chi tiết chân thực vô cùng, vừa làm toát lên số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng của họ, vừa khám phá ra vẻ đẹp khuất lấp bên trong những con người ấy.

Tuy nhiên, giữa hai nhân vật cũng có nhiều điểm khác biệt. Vẻ đẹp của người vợ nhặt được khắc họa qua những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh trong nạn đói thê thảm. Thị như một luồng gió mới “lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của những người dân xóm ngụ cư cũng như gia đình Tràng. Trong khi đó, vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu lại là phẩm chất của người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính trong tình trạng bạo lực gia đình.

Nhân vật này không khỏi khiến ta băn khoăn, trăn trở về cách nhìn nhận con người cũng như mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Sở dĩ có sự khác biệt ấy là do phong cách nghệ thuật và thời điểm sáng tác của hai nhà văn. Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển biến đổi từ thấp đến cao, mang cảm hứng lãng mạn, tiêu biểu cho văn học thời kì kháng chiến. Trong khi đó nhân vật người đàn bà hàng chài lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại. Nhân vật này thể hiện rõ cảm hứng thế sự-đời tư trong ngòi bút truyện của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Tóm lại, người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài là hai nhân vật được xây dựng rất thành công của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu. Tuy có nhiều điểm khác nhau trong phong cách nhưng với tinh thần nhân đạo cao cả, hai nhà văn đều khám phá và nâng niu trân trọng những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Qua hai tác phẩm, các tác giả còn cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự bất diệt của những phẩm chất tốt đẹp trong con người dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Với tất cả giá trị về nội dung và nghệ thuật ấy, chắc chắn cả hai nhân vật cũng như tên tuổi của Kim Lân và Nguyễn Minh châu sẽ có sức sống lâu dài trong kho tàng văn học dân tộc.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 3: Nhân vật vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Chân dung người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất vô cùng cao quý đã đi vào biết bao câu văn, vần thơ. Ta không thể quên hình ảnh bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân( 1962). Và người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Họ bước ra với những cuộc đời rất khác nhưng gặp gỡ ở trái tim với tám chữ vàng: kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Kim Lân – người “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn ngày trước”. Viết về cuộc sống, số phận, cảnh ngộ của những con người trong những năm xảy ra nạn đói năm Ất Dậu, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu cho những khám phá của nhà văn với hình ảnh người vợ nhặt với khát vọng sống mãnh liệt.

Đến với Nguyễn Minh Châu là đến với người luôn truy tìm “hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn con người, người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam sau năm 1975”. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được kể lại từ điểm nhìn trần thuật của người nghệ sĩ mang tên Phùng – một nghệ sĩ trên hành trình khai phá mới mẻ của nhà văn về hiện thực và về con người.

Trước tiên là nhân vật Vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Kim Lân. Dưới ngòi bút của Kim Lân, chân dung Thị hiện lên như một con ma đói, áo quần luộm thuộm, gương mặt lấm lem với “cái ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”,  không có nổi cái tên mà vỏn vẹn chữ “Thị”.

Cô gái đói đến độ phải nhặt đồ rơi vãi, nghe ba câu hò mà vội chạy đến đẩy xe bò. Thị gặp Tràng nhưng không ăn trầu mà ăn bánh đúc rồi quẹt đũa ngang miệng “chà ngon”. Ta chỉ thấy chân dung Thị chao chát, chỏng lỏn. Vậy nhưng qua ngòi bút đầy tài năng của tác giả, người vợ anh Tràng hiện lên có cong cớn, rất cong cớn nhưng không nanh nọc và tính cách ấy phải chăng do dốt nát, đói nghèo, tăm tối chứ tuyệt nhiên không sinh ra từ cái ác, cái xấu.

Nhân vật Thị hiện lên chua xót hơn khi cuộc hôn nhân cả đời người cũng chỉ bắt đầu bằng vài ba câu tầm phào của Tràng mà khiến người đàn bà quên hết sĩ diện, nết na, đức hạnh để xà xuống ăn hết bát bánh đúc, theo Tràng về làm vợ mà không dò hết ngọn ngành nguồn sông. Chính cái đói đã khiến thân phận con người bọt bèo, rẻ mạt đến vậy.

Khi gặp Tràng thì đanh đá, chỏng lỏn nhưng khi về làm dâu, Thị lại là người vợ đảm đang, con dâu hiếu thảo. Thị theo Tràng về như đến một chốn có thể nương tựa trong cái đói đang rình rập. Trên con đường về nhà Tràng, cô Thị đanh đá bỗng trở nên dịu dàng, e dè, ngượng ngập. Đôi mắt tư lự khi bỡ ngỡ đặt chân đến ngôi nhà mới, dáng điệu khép nép ngồi và câu chào lúng túng…tất cả làm cho Thị có cảm giác của một nàng dâu mới.

Từ khi làm vợ, Thị đảm đang và dịu dàng hơn cả, cô cùng mẹ sửa sang cửa nhà, dọn dẹp vườn tược và vui vẻ trong bữa ăn loãng thếch, đắng chát. Thị kể về câu chuyện những người cướp kho thóc Nhật với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới. Chính nó làm lóe lên ánh sáng tia hy vọng về tương lai mới, mở ra con đường đấu tranh đi đến Cách mạng. Rõ ràng, Thị dần dần nhận được đủ đầy cảm xúc từ chữ “tình”, có ý thức về bổn phận và trách nhiệm của mình. Quả đúng, dù trong túng đói tột cùng thì tình cảm vẫn quý hơn manh áo bởi nó khiến con người được sống là chính mình, được nên người.

Người đàn bà hàng chài coi nỗi khổ vận vào đời mình như một lẽ đương nhiên. Chị chấp nhận để chồng đánh chỉ xin chồng là “đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy”. Ở đây, lẽ đời đã chiến thắng. Nó là chất xúc tác để Phùng và chánh án Đẩu hiểu về lẽ thiệt hơn ở đời.

Thức nhận được ở người phụ nữ ấy chứa đựng mẫu tính sâu xa như một bản năng: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”, những lời lẽ ấy của người đàn bà hàng chài được thốt lên từ một niềm tin đơn giản mà vững chắc vào cái thiên chức mà trời đã giao phó cho để cảm nhận hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi trong cuộc sống đầy khó khăn. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu cũng khẳng định: gian lao không làm mất đi ở người phụ nữ tấm lòng yêu thương, nhân hậu bao dung, vị tha. Và với họ, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên cho dù đây đó vẫn có những tính cách chưa hoàn thiện.

Rõ ràng, hai nhà văn với hai ngòi bút khác nhau, hai cá tính khác nhau nhưng khi viết về hai người đàn bà trong hai bối cảnh khác nhau đều đặt ngòi bút nơi trái tim để tìm, phát hiện và ngợi ca người phụ nữ bên cạnh số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng. Họ là những người không tên tuổi mà trở thành những khái quát nghệ thuật đặc sắc. Từ vẻ đẹp của họ để thể hiện niềm tin vào phẩm chất của con người dù trong hoàn cảnh khốn cùng nhất.

Leonit Leonop từng nói “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Quả đúng, mỗi nhà văn đã đặt nhân vật của mình trong những hệ quy chiếu khác nhau thể hiện sự sáng tạo và dấu ấn của riêng mình. Nếu Kim Lân chọn bối cảnh nạn đói là tâm điểm nghệ thuật làm đòn bẩy cho  là khát vọng sống mãnh liệt, là những căn tích tốt đẹp bấy lâu bị cái đói làm cho chìm khuất thì Nguyễn Minh Châu lại xây dựng hình tượng người đàn bà trong bối cảnh xã hội sau năm 1975 với vẻ đẹp của nhận thức của sự thấu trải lẽ đời, tình người khi chiến tranh đã đi qua nhưng cái nghèo, cái lạc hậu vẫn chưa hết.

Như vậy, hai nhà văn đã vô cùng thành công khi xây dựng hình tượng các nhân vật và đặt trái tim nơi ngòi bút để thấu hiểu, chia sẻ và cảm thông cho những số phận bất hạnh trong xã hội. Họ xứng đáng là nhà văn chân chính với những tác phẩm chân chính như Aimatop  từng khẳng định “Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu chuyện về các nhân vật đã kết thúc. Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật.”

Số 4: So sánh vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Trong kho tàng văn học Việt Nam, đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ dùng ngòi bút của mình để bảo vệ cho những thân phận người phụ nữ bé nhỏ, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Với nhà văn Kim Lân và Nguyễn Minh Châu cũng vậy, ta bắt gặp hình ảnh người vợ nhặt trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân với vẻ bề ngoài rách rưới, người đàn bà hàng chài với vẻ ngoài thô kệch xấu xí nhưng ở họ đều hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường và tinh anh nhất của văn học hiện đại Việt Nam sau 1975. Ông là nhà văn luôn đi tìm “hạt ngọc” ẩn sâu trong tâm hồn con người. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được ông sáng tác năm 1987 và là một trong những tác phẩm thể hiện triết lí nhân sinh quan sâu sắc của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Cũng là một trong những nhà văn của nền văn học hiện đại, nhà văn Kim Lân lại có sở trường về truyện ngắn, nổi bật trong những tác phẩm của ông là vẻ đẹp tâm hồn người Việt Nam, những người sống cực nhọc, lam lũ, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, chất phác và lạc quan. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân và được rút từ tập truyện “Con chó xấu xí”.

Người vợ nhặt là một nhân vật đặc biệt, nhân vật này không có tên mà được gọi là “thị”, “người đàn bà”, “người con dâu”. Thị chỉ là một trong muôn vàn người đàn bà rơi vào cảnh ngộ đáng thương như thế. Không ai biết gốc tích của chị, chị “ngồi vêu ra ở cửa kho, nhặt hạt rơi, hạt vãi hay ai có việc gì thì làm”.

Thị cũng giống như bao kẻ đói khát khác, ngoại hình trông rất tiều tụy, “cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”. Trong lần đầu gặp mặt, khi nghe lời bông đùa của Tràng, thị đã “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng” – một người đàn ông mà chị không hề quen biết và đã đùa giỡn với anh. Lần gặp thứ hai, thị lớn tiếng trách móc anh Tràng vì đã thất hứa “điêu, người thế mà điêu” làm cho Tràng không hiểu chuyện gì.

Cái đói, cái khát đã khiến cho thị trở nên trơ trẽn, táo tợn, không cần đến danh dự để có được miếng ăn. Khi được Tràng mời ăn thì “hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên”, “thị ngồi sà xuống, ăn thật”. Liều lĩnh hơn, thị đã chấp nhận theo không Tràng về làm vợ vì một câu nói đùa. Người vợ nhặt biến lời rủ rê thành lời cầu hôn chính thức, biến tất cả sự bông đùa thành sự thật, chị theo người đàn ông lạ về nhà mà không hề biết gia cảnh, tính tình của người ấy.

Những vẻ đẹp của người vợ nhặt bị cái đói tha hóa, che khuất nhưng trong tâm hồn người phụ nữ ấy vẫn ánh lên những phẩm chất đẹp đẽ của lòng ham sống mãnh liệt, thị khát khao hạnh phúc gia đình, ý tứ hiền hậu đúng mực và lạc quan tin tưởng vào tương lai tốt đẹp. Khi theo Tràng về nhà làm dâu thì người vợ nhặt trở nên nữ tính, dịu dàng, đúng mực. Khi về đến nhà anh Tràng, “thị ngồi mớm ở mép giường” là tư thế e thẹn, ngượng ngùng đầy rụt rè, lo âu của người con gái lần đầu tiên bước về nhà chồng. Thị “hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”, trong đầu là bao suy nghĩ ngổn ngang, lo lắng, e ngại và cả sự xót xa, nỗi tủi nhục cho phận mình.

Thế nhưng, người vợ nhặt ấy đã vượt lên trên hoàn cảnh để vun vén cho hạnh phúc mới của mình. Thị chủ động hỏi thăm, trò chuyện với bà cụ Tứ. Sáng hôm sau, thị dậy sớm làm đủ mọi việc như một người vợ hiền tần tảo, đảm đang, thị cùng với bà cụ Tứ dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân vườn sạch sẽ. Người phụ nữ này thay đổi đến mức chính Tràng cũng phải ngạc nhiên “Tràng nom thị hôm nay khác lắm”. Người vợ nhặt ấy đã đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người. Đối với người dân xóm ngụ cư thì người vợ nhặt đã đem đến cho họ niềm tin vào sự đổi thay.

Đối với bà cụ Tứ, người vợ nhặt chính là niềm an ủi, hạnh phúc lớn lao. Người vợ nhặt đã đem đến niềm hạnh phúc thực sự cho Tràng, mái ấm gia đình đã khiến cho Tràng thay đổi từ một người đàn ông thô kệch vụng về nay bỗng trở thành người có ý thức, có trách nhiệm với gia đình. Chính thị là người đầu tiên kể cho cả nhà nghe truyện trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang và làm nảy sinh trong Tràng hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc với lá cờ đỏ tung bay phấp phới, nó gợi lên trong Tràng niềm khát khao về sự đổi đời.

Người vợ nhặt được nhà văn khắc họa độc đáo ở việc chú trọng khắc họa những hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để giúp cho người đọc hiểu tâm tâm lí của người phụ nữ. Người vợ nhặt đã góp phần to lớn trong việc thể hiện giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Cùng viết về người phụ nữ, về những mảnh đời cơ cực nhưng nhà văn Nguyễn Minh Châu lại có cách xây dựng nhân vật khác so với nhà văn Kim Lân. Nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là hiện thân cho những mảnh đời tăm tối, cơ cực trong cuộc sống của chúng ta. Người đàn bà hàng chài cũng không có tên gọi giống như người vợ nhặt là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, chị cũng giống như bao người đàn bà vùng biển khác đều nhỏ bé, vô danh.

Người đàn bà vùng biển ấy có ngoại hình xấu xí, thô kệch, “trạc ngoài bốn mươi” và thường xuyên phải chịu cảnh bạo lực gia đình “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Những trận đòn roi cứ trút lên người chị thật tàn bạo “lão dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, “hai hàm răng nghiến ken két”. Để tránh những tổn thương cho các con khi chứng kiến cảnh bố đánh mẹ nên chị đã xin chồng đưa lên bờ để đánh, chị đã cố gắng hết sức để che chắn nhưng những đứa con hiểu chuyện cũng biết sự thật, nó đánh bố để bênh vực mẹ. Đối với chị, nỗi đau về tinh thần lớn hơn nỗi đau về thể xác.

Người đàn bà hàng chài thất học, phải chịu nhiều đau khổ nhưng có lẽ những trận đòn roi hành hạ cả về thể xác lẫn tâm hồn cũng không khiến cho “hạt ngọc” bên trong tâm hồn chị bị khuất lấp. Người đàn bà hàng chài giàu đức hi sinh và yêu thương con vô bờ bến cho nên thị thường xuyên bị chồng đánh nhưng vẫn quyết không bỏ chồng. Chị có một tôn chỉ sống thiêng liêng rằng: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Đây là sự giãi bày thật tình cho thấy nguồn gốc của tất cả sự chịu đựng, hi sinh ở vào hoàn cảnh đông con. Cuộc sống đầy bất chắc, nỗi lo cơm áo đeo đẳng nhưng vì sống cho con nên người đàn bà ấy đã tự nguyện sống với lão chồng thô lỗ.

Cả cuộc đời chị vui nhất đó chính là khi “được nhìn thấy đàn con được ăn no”. Có thể thấy, đây là niềm vui giản dị, thiêng liêng bởi chúng được chắt chiu từ nước mắt, từ đau khổ và đắng cay. Khi cảnh bạo lực gia đình bị đứa con phát hiện thì chị cảm thấy vô cùng đau đớn, “miệng mếu máo”, “ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé”, “chắp tay vái lấy vái để” là hành động giống như lời tạ lỗi của một trái tim yêu thương con vô bờ. Khi bị chồng đánh, chị không khóc nhưng khi ôm con chị lại “giỏ xuống những dòng nước mắt” bởi chị cảm thấy có tội khi làm tổn thương tâm hồn trẻ thơ của những đứa nhỏ.

Người đàn bà hàng chài là người có tấm lòng bao dung, giàu lòng vị tha nên thị hiểu được nguồn gốc cơn giận của chồng. Chị đã chịu đựng “cơn giận như lửa cháy hàng ngày của chồng” và cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng và cũng không tìm cách trốn chạy. Chị biết Phùng và Đẩu là người có tấm lòng tốt nhưng không hiểu được công việc của người làm ăn khó nhọc nên chị đã kể cho hai người biết về người chồng của mình là một người có bản chất lương thiện, hiền lành nhưng cục tính. Chính cuộc sống đói nghèo đã khiến anh trở thành một người chồng vũ phu độc ác, chị hiểu rằng chồng chị đánh chị như một phương án để giải tỏa hồn.

Giống như tất cả những người phụ nữ bao dung khác, chị tự nhận lỗi về mình rằng “giá như tôi đẻ ít đi”. Người phụ này không lạnh lùng, vô cảm trước những đau đớn về thể xác, không phải chị không ý thức được quyền sống của mình bị xâm phạm mà chị ý thức được nguyên nhân dẫn đến hành động bạo lực của chồng nên chị đành phải nhẫn nhục để bỏ qua. Khi cái đói chưa được giải quyết thì chị vẫn cam chịu bị chồng đánh, đó là sự bế tắc cùng quẫn đến tuyệt vọng bộc lộc sức chịu đựng phi thường của người phụ nữ.

Người đàn bà hàng chài còn có nghị lực sống phi thường và rất thấu hiểu lẽ đời. Khi xuất hiện ở Tòa án huyện, lúc đầu người đàn bà tỏ vẻ lúng túng, sợ sệt khi kể lại câu chuyện về cuộc đời mình nhưng thực chất là bảo vệ quan điểm của mình nên người đàn bà ấy đã mất đi vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt. Người đàn bà đã khiến cho Phùng và Đẩu thay đổi về cách nhìn nhận cuộc đời từ chỗ thất vọng ngạc nhiên đến thông cảm, sẻ chia.

Khi nghe Phùng và Đẩu nói, người đàn bà hiểu ngay hai người đối thoại với mình là tốt cho mình. Chị hiểu được tâm trạng tha hóa của chồng, chồng bị cuộc sống khốn khổ đẩy đến chỗ tha hóa. Câu chuyện của chị đã chứa đựng những nỗi thương cảm, ta thấy người chồng cũng là một người đáng thương và người đọc cũng hiểu được rằng người đàn bà hàng chài chọn như vậy là hợp lí.

Nhà văn đã xây dựng nhân vật bằng thủ pháp đối lập giữa ngoại hình và nội tâm, giữa số phận bất hạnh và phẩm chất nhân hậu, bao dung, thấu hiểu lẽ đời khiến cho nhân vật hiện ra rất chân thực. Nhân vật người đàn bà hàng chài hiện lên với số phận cay đắng, tủi nhục nhưng cũng rất đáng trân trọng ở vẻ đẹp của tình mẫu tử, ở sự bao dung độ lượng và có nghị lực sống phi thường.

Cả hai nhân vật đều là hiện thân của những mảnh đời bất hạnh, phải chịu nhiều cơ cực trong cuộc sống. Cũng vì cái đói, cái nghèo đã khiến cho người vợ nhặt không còn quan tâm đến danh dự mà theo không Tràng về làm vợ, người đàn bà hàng chài thì phải gánh chịu những cú đánh từ người chồng vô trách nhiệm. Thế nhưng, dù hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn nhưng ở hai nhân vật đều ẩn chứa những phẩm chất tốt đẹp và nghị lực sống phi thường đáng được trân trọng.

Tuy hai nhân vật người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài có những điểm chung nhất định nhưng ở họ vẫn có những nét đẹp riêng biệt thể hiện phong cách sáng tác của mỗi nhà văn. Nhà văn Kim Lân thường tập trung miêu tả vẻ đẹp của những con người lao động xung quanh chúng ta cho nên nhân vật người vợ nhặt chủ yếu được khắc họa ở khía cạnh nàng dâu mới về nhà chồng với những cử chỉ, điệu bộ đúng mực và hóm hỉnh.

Còn nhà văn Nguyễn Minh Châu lại đi tìm thứ được gọi là hạt ngọc ẩn chứa bên trong tâm hồn con người nên nhân vật người đàn bà hàng chài được khắc họa nổi bật ở tình yêu thương con và thấu hiểu lẽ đời. Ông đã đặt nhân vật người đàn bà hàng chài vào một tình huống nghịch lí để mang đến cho người đọc những nhận thức ngang trái về thực tế đời sống éo le đáng sợ.

Nhân vật người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài đã đem lại giá trị nhân đạo sâu sắc cho hai tác phẩm. Mỗi nhà văn đều có phong cách nghệ thuật độc đáo riêng biệt trong việc khắc họa hình tượng nhân vật đã giúp cho người đọc có cái nhìn đồng cảm với những số phận bất hạnh. Hai nhân vật trên đều có những phẩm chất tốt đẹp ẩn chứa bên trong tâm hồn cho dù hoàn cảnh có đẩy họ xuống những cái đáy của sự đau khổ, tuyệt vọng.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 5: So sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt

Kim Lân là nhà văn chuyên viết về người nông dân, viết về cuộc sống ở nông thôn đầy những cơ cực bày ra trước mắt. Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc tại đây đã khắc họa thành công tình huống “nhặt vợ” độc đáo. Cùng gặp gỡ số phận người phụ nữ, ta gặp Nguyễn Minh Châu, phía sau con người nghèo khổ ông cũng thể hiện một tấm lòng của mình với nhân vật người phụ nữ. Thị, và người đàn bà hàng chài đã để lại cho ta nhiều ấn tượng khó phai mờ..

Nhân vật người vợ nhặt xuất thân trong truyện ngắn vợ nhặt và được xây dựng với những tính cách qua ngòi bút góc nhìn của Kim Lân. Tại đây ông đã cho ta thấy một vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ, dù có trải qua khốn khổ vẫn đẹp sáng một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện.

Phía sau cảnh tình bị trôi dạt trong đói nghèo là một trái tim ham sống đến mãnh liệt và tột cùng. Người đàn bà ấy đã chỉ vì “cơm trắng mấy giò” vì “bốn cái bát bánh đúc” đã theo Tràng về làm vợ. Phía sau cái nhếch nhác và đói khổ lại là một tâm hồn có hiểu biết có ý tứ biết bao. Khi mới về nhà Tràng thị rất ý tứ, chỉ dám ngồi mép giường, những hành động ngại ngùng thật nữ tính.

Bên trong cái chao chát, chỏn lỏn lúc gặp Tràng, lại là một tâm hồn cực kì hiền lành và hiền hậu, đúng mực biết lo toan cho gia đình. Sáng sớm Tràng thức dậy đã thấy nhà cửa sạch tinh tươm, là cô vợ mới của Tràng đã giúp Tràng đó.

Còn, đối với người đàn bà hàng chài. Cuộc sống mưu sinh đã nhấn chìm bà thành một con người xấu xí, nghèo đói. Người đàn bà là nhân vật chính trong câu truyện, giữ vai trò quan trọng thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm. Qua nhân vật này ta thấy được sự khắc họa rõ nét và sinh động của nhà văn, theo lối tương phản giữa vẻ bên ngoài và tâm hồn đẹp bên trong. Giữa ngoại hình và phẩm chất của bà.

Người đàn bà hàng chài có vẻ bề ngoài không mấy ưa nhìn. Khi ngoại hình xấu xí, thô kệch, nhưng lại là một người mẹ hi sinh, nhân hậu và bao dung. Trái tim không khi nào vơi tình yêu dành cho con cái của mình. Chỉ cần nhìn thấy chúng ăn no bà đã thấy hạnh phúc. Phía sau vẻ thất học, quê mùa thì ấy lại là một người hiểu biết sâu sắc lẽ đời.

Chính bà đã khiến đẩu và Phùng nhận thức lại được hoàn cảnh và cảm thông sâu sắc trân trọng hơn đối với người phụ nữ ấy. Hóa ra đằng sau đó lại là một con người khác hẳn, đẹp đẽ quá, đáng quý đáng trân trọng.

Cả hai nhân vật đều có nét tương đồng, là những người nhỏ bé, nạn nhân của cuộc sống, nhưng trong họ đều có những vẻ đẹp đáng trân trọng, ngợi ca. Cả hai đều được khắc họa chân thực. Nhưng cũng có khác biệt, vẻ vợ nhặt chủ yếu là hình ảnh của cô con dâu mới. Còn người đàn bà hàng chài được khắc họa chủ yếu thông qua phẩm chất của người mẹ mưu sinh, qua các chi tiết kịch tính, qua nạn bạo lực gia đình.

Cả hai nhà văn đã làm nổi bật lên vẻ đẹp người phụ nữ, họ sống trong hoàn cảnh khác nhau nhưng đều hiện lên vẻ đẹp và một đời sống tâm hồn đáng quý. Từ đó khẳng định tư tưởng nhân đạo và ngòi bút hiện thực sâu sắc của nhà văn.

Số 6: Phân tích vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Người phụ nữ Việt Nam ta từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng với nhiều phẩm đạo đức chất vô cùng tốt đẹp, đặc biệt là càng trong những hoàn cảnh khó khăn đọa đày, ta lại càng nhìn rõ những phẩm chất ấy. Trong các tác phẩm văn học xưa và nay cũng không dưới một lần người ta ngấm ngầm hoặc công khai bày tỏ, đề cao phẩm chất của người phụ nữ Việt để thể hiện tính nhân văn sâu sắc.

Đặc biệt là trong các tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội, những năm hoàn cảnh đất nước còn nhiều khắc nghiệt, thì hình ảnh những người đàn bà tảo tần mưa nắng, nhẫn nhục, chịu đựng lại càng hiện lên rõ nét. Tiêu biểu có thể kể đến Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, người mẹ Tà-ôi trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm, hay hình ảnh người bà trong Đò lèn của Nguyễn Duy,… cùng vô số những tác phẩm khác nữa.

Và trong số những tác phẩm ấy người ta vẫn ấn tượng với hình ảnh người phụ nữ với tình mẫu tử sâu sắc trong hai tác phẩm Vợ nhặt và Chiếc thuyền ngoài xa. Có một nhận xét rất chính xác rằng: “Cùng yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời nhưng nếu ở bà cụ Tứ (Vợ nhặt – Kim Lân) là sự vị tha, bao dung, lạc quan thì ở người đàn bà làng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) là sự chịu đựng, hy sinh, nhẫn nhục”.

Trước hết nói về bà cụ Tứ, là người phụ nữ sinh ra và lớn lên trong buổi đất nước có nhiều biến chuyển, thực dân Pháp xâm lược, chế độ phong kiến tàn lụi thối nát, đặc biệt nhất là đến thuở gần đất xa trời cứ ngỡ là sẽ được an hưởng tuổi già thì phát xít Nhật lại đem đến cái nạn đói khủng khiếp, hành hạ con người ta đến độ khốn khổ. Bà lão là người nghèo khó, chồng cụ có lẽ đã chết từ lâu, vì nạn đói, bệnh tật hay phu dịch gì đó, một mình bà vất vả nuôi lớn Tràng.

Tài sản cũng chẳng có gì ngoài căn chòi rách nát, hai mẹ con nương tựa vào nhau qua ngày đoạn tháng. Nhân vật này không xuất hiện ngay từ đầu, bà chỉ bắt đầu có vai sau khi Tràng dẫn Thị về nhà làm vợ. Ấn tượng của độc giả về cụ Tứ chính là cái tiếng ho “húng hắng”, cái dáng người “lọng khọng” tưởng chừng đã già yếu lắm rồi, tuy nhiên vẫn còn rất minh mẫn khi “vừa đi vừa lẩm bẩm tính gì trong miệng”.

Chỉ đôi chi tiết ấy thôi người ta cũng đủ biết cụ Tứ là người đàn bà cả đời vất vả nên mới có cái dáng bộ như thế. Cụ Tứ đã sống gần hết đời người, trải qua nhiều gian khó, nên bà yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời sâu sắc. Khi thấy người đàn bà lạ lẫm ngồi trong căn nhà nhỏ bé của mình bà cụ ngạc nhiên lắm, biết bao nhiêu câu hỏi cứ thế tuôn ra trong lòng, nhưng cụ không tỏ ra bối rối mà cụ chỉ quay ra “nhìn con tỏ ý không hiểu”. Cụ thương và hiểu Tràng nên cụ để con tự nói mà không cần phải dò hỏi xét nét, đó là biểu hiện đầu tiên của sự hiền dịu yêu thương dành cho con mình của bà cụ.

Rồi đến khi cụ biết Thị là người vợ mà con mình nhặt về, thì lòng bà lặng lại, bà lão lập tức “hiểu ra bao nhiêu là cớ sự”, con trai mình cũng đến tuổi dựng vợ gả chồng, âu cũng là chuyện tất yếu cả. Thế nhưng tấm lòng yêu con của người mẹ cũng từ lúc đó lại diễn ra bao mối lo khác, bà “ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình” cũng là xót xa cho kiếp làm mẹ, nuôi con đến từng này tuổi đầu nhưng không có nổi cho con một nhúm trầu cau để hỏi vợ, khiến nó phải tự đưa một người phụ nữ về nhà nhận làm vợ.

Bà lão vì thương con mà xúc động “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt”, con trai có vợ bà vui một nhưng buồn mười, trước cái cảnh đói kém, mạng người như rơm rác, cứ lâu lâu lại có một ai đó ngã xuống vì đói thì cái bà lo nhiều nhất là “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không”. Như vậy có thể thấy rằng, bà cụ Tứ không hề phản đối cuộc hôn nhân chớp nhoáng của Tràng, thậm chí bà đã ngầm chấp nhận Thị làm con dâu, cái khiến bà trăn trở chỉ là gia cảnh khốn khó, bà sợ con khổ, rồi làm khổ cả người khác nữa.

Một người mẹ thương con và thấu hiểu lẽ đời là vậy. Và sự thấu suốt ấy còn thể hiện rõ ràng thông qua phân cảnh bà nhìn Thị mà nghĩ ngợi “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?”. Thật tình chẳng mấy người mẹ có thể nghĩ được như bà cụ Tứ, cứ nhìn cái cảnh rách rưới, lại theo không về làm vợ người ta của Thị không khéo chắc chẳng ai muốn nhận.

Nhưng cụ Tứ lại khác, bà thậm chí biết ơn Thị, thấu hiểu cho hoàn cảnh của Thị, cũng ý thức rõ được hoàn cảnh của con mình, thế nên bà chọn cách tác hợp, với hy vọng về một mối lương duyên tốt đẹp cho con trai. Bởi lẽ, ngăn cấm chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí khiến cả con trai lẫn Thị khổ sở. Bà hiền từ, đối đãi với người con dâu mới một cách khéo léo, không muốn để Thị phải buồn lòng, trong lời với hai vợ chồng là lời khuyên lời dạy bảo với một niềm tin, niềm hy vọng vững chắc vào tương lai “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?” khiến lòng đôi tân nhân cũng thêm phần phấn khởi.

Mặc dù lòng bà cụ lúc nào cũng vẫn còn nhiều tối tăm, bà nhìn ra “cánh đồng tối”, “bóng tối bao trùm lấy đôi mắt”, “bà nghĩ đến cuộc đời khổ cực dài đằng đẵng của mình”. Trong nỗi lòng thương con vô bờ bến bà chỉ hy vọng rằng vợ chồng Tràng được khấm khá hơn cuộc đời khốn khổ của mình. Nghĩ đến đời mình bà lão lại càng thấu cảm cho cuộc đời Thị, bà nhìn Thị “lòng đầy thương xót”, cố thân mật với con dâu để Thị đỡ cảm thấy lạnh lẽo, buồn tủi, trước cảnh cưới xin lạ lùng như này.

Sau đêm tân hôn, cả căn nhà vốn tơi tả, u ám bỗng trở nên có không khí hẳn, thấy sự chu đáo tươm tất của Thị bà lão như trút được gánh nặng trong lòng “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Dẫu bữa cơm có thảm hại chỉ toàn rau chuối, cháo và muối nhưng cả nhà vẫn ăn rất ngon lành, bà cụ kể toàn những chuyện vui, thắp nên niềm tin vào tương lai cho vợ chồng Tràng, nào là nuôi gà, nào là chuyện làm ăn, không khí đầm ấm hẳn lên. Nồi cháo cám của bà cụ Tứ có lẽ chính là chi tiết đắt giá nhất của câu chuyện này, đó là món “chè khoán” mừng cặp vợ chồng mới cưới, thể hiện tấm lòng của bà cụ Tứ.

Dẫu cuộc sống có khó khăn, kiệt quệ nhưng bà vẫn cố bòn cho được nồi cháo cám để làm giàu bữa ăn gia đình. Có lẽ rằng bà cụ Tứ thương vợ chồng Tràng không muốn họ phải chịu thiệt khi tân hôn mà vẫn phải ăn rau chuối, cháo kèm muối, nên mới có nồi cháo cám tuy đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng nhưng đó chính là tình thương sâu sắc của người mẹ dành cho con. Qua những chi tiết kể trên nhận định về tình thương con của bà cụ Tứ với những nét “vị tha, bao dung, lạc quan” là hoàn toàn chính xác.

Về người đàn bà làng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, ta lại thấy một số kiếp khác, một cuộc đời khốn khổ khác. Cách mạng đã thành công, đất nước đã độc lập, không còn nạn đói khủng khiếp những năm 44, 45, thế nhưng số kiếp người phụ nữ vẫn chưa thể khấm khá hơn được. Phải nói rằng người đàn bà trong truyện có một số phận bất hạnh vô cùng, xấu xí, cuộc sống lam lũ vất vả hơn cả nửa đời người để hy sinh cho gia đình, thế nhưng vẫn bị chồng bạo hành không thương tiếc.

Cũng như bà cụ Tứ, người đàn bà làng chài cũng yêu thương con bằng sự thấu hiểu lẽ đời sâu sắc nhưng sự yêu thương này ngoài lòng bao dung thì điểm nhấn lại chính là tính hy sinh, nhẫn nhục chịu đựng của người phụ nữ. Cảnh người đàn bà làng chài bị chồng dùng thắt lưng da quất tới tấp, vừa đánh vừa mắng như kẻ thù,thế nhưng nghịch lý “người đàn bà với một vẻ nhẫn nhịn, cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu lên tiếng, không hề chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.

Điều ấy khiến người đọc có phần sửng sốt và khó hiểu, là chị đau đớn, nhục nhã đến chết lặng, hay chị cố chịu đựng vì điều gì khác? Thậm chí lúc được Phùng giúp ly hôn chị cũng một mực không chịu, chị van xin “quý tòa bắt tội con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Thực kỳ lạ khi trên đời lại có người phụ nữ muốn chung sống với kẻ hành hạ mình không tiếc tay như thế, nhưng rồi qua cuộc nói chuyện với Phùng và Đẩu, ta mới chợt vỡ lẽ ra nhiều điều.

Có phải rằng chị không thể chống lại những trận đòn roi hay chị không thể ly hôn đâu, nhưng cuộc đời đâu có đơn giản đến thế, đâu có dễ dàng như cái cách mà Phùng vẫn thường tưởng tượng. Những lời bộc bạch sắc bén của chị đã khiến cả Phùng và Đẩu phải nín lặng, phải đổi cách nghĩ về cuộc đời, chị nói một câu “Là bởi vì các chú không phải đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của một người đàn bà trên chiếc thuyền không có đàn ông”. Hóa ra chị nhẫn nhục, chịu đựng mọi sự bạo hành của chồng mà vẫn không chịu ly hôn là vì gần chục đứa con của mình.

Phải nói rằng chẳng có gì có thể thiêng liêng và rộng lớn hơn tình mẹ cả, chị đã nguyện hy sinh cuộc đời, hy sinh sức khỏe, lòng tự trọng để mong cho những đứa con bé bỏng được khôn lớn trong một gia đình đầy đủ. “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”, chị cũng tự ý thức cho mình trách nhiệm cao cả của người phụ nữ với hơi hướng rất truyền thống “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khôn lớn nên phải gánh lấy cái khổ”.

Có thể nói rằng mỗi câu chữ của người đàn bà làng chài tuy mộc mạc giản đơn vậy, nhưng lại đều có lý lẽ riêng cả, trong đó chứa đựng sự thấu hiểu và từng trải sâu sắc của một người đàn bà đã quá nửa đời người. Là những cái lý mà Đẩu và Phùng không thể nào phản bác, bởi vì nó thật sự đúng, ông bà ta đã nói “Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh” là vậy, đời nay đâu ai có thể giống ai mà phán xét hay thay nhau quyết định. Nhưng cái thấu hiểu của người đàn bà làng chài không chỉ dừng lại ở sự hy sinh, nhẫn nhục và chịu đựng mà còn là tấm lòng bao dung, vị tha vô cùng.

Chị lý giải việc lão chồng mình trở nên nóng nảy và cục cằn là bởi chị đẻ nhiều quá, bấy nhiêu miệng ăn khiến cuộc sống khó khăn đè nặng lên vai của người chồng, khiến ông ta trở nên đổi tính. Chị vẫn luôn nghĩ về người chồng đã cứu vớt chị khỏi những tháng ngày tăm tối nhất của cuộc đời, nghĩ về người con trai hiền lành như cục đất độ hơn chục năm về trước. Những ký ức đẹp đẽ và cả lòng biết ơn đã tiếp thêm sức mạnh khiến chị cố gắng trụ vững, nhẫn nhịn để nhà cửa được êm ấm, con cái được ăn no, mặc ấm thì bao nhiêu khổ cực chị cũng chịu được.

Cả bà cụ Tứ và người đàn bà làng chài đều là những hình ảnh đại diện cho một thế hệ phụ nữ Việt Nam ta những năm trước cách mạng và những năm đầu đất nước được độc lập. Ở họ tồn tại những nỗi niềm, những bất hạnh, khốn khổ riêng nhưng lại luôn có những cái chung nhất ấy là tình yêu thương con vô bờ bến, là tấm lòng thấu hiểu lẽ đời, với bà cụ Tứ nổi bật là tấm lòng bao dung, vị tha còn ở người đàn bà làng chài là sự hy sinh, nhẫn nhục vì con cái. Nhưng nói thế không có nghĩa rằng bà cụ Tứ không có sự hy sinh, hay người đàn bà làng chài không có sự bao dung, ở họ đều có tất cả những đặc điểm ấy, chỉ là nó không được bộc lộ rõ nét trong tác phẩm mà thôi.

Bà cụ Tứ trong Vợ nhặt và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa là những nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh đói nghèo, thế nhưng trong bóng tối của đói nghèo, trong nghịch cảnh của số phận ở họ vẫn tỏa sáng những phẩm chất sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 7: Nhân vật vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Đều là những người phụ nữ trong những hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, khó khăn, khổ đau nhưng cả người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài đều bộc lộ những vẻ đẹp riêng của mình. Đây đều là những người phụ nữ bất hạnh nhưng vẻ đẹp trong tâm hồn và nhân cách của họ đều là những điểm sáng cho hai tác phẩm.

Người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Kim Lân không được ưu ái về ngoại hình xuất thân đồng thời khi thị xuất hiện trong tác phẩm, đến cả tính cách của thị cũng khiến người đọc phải ngã ngửa. Đó là một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn, là một con người khá vô duyên, xấu xí. Khi Tràng hò bông đùa một câu hò thị cũng xấp mải chạy đến đẩy xe bò cho anh.

Sau đó mấy hôm, thị xuất hiện trước mặt Tràng lần nữa và khiến Tràng phải giật mình vì vẻ ngoài của mình. Sự đen đúa, xám xịt vì đói khiến thị trở nên khó nhận dạng, thế nhưng vẫn cái tính cách trơ trẽn ấy, thị chạy lại đòi Tràng mời ăn và khi được Tràng mời ăn bánh đúc thì thị cúi đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc chẳng nhìn ai. Mãi đến khi đánh chén xong xuôi thị mới ngẩng đầu lên, cầm đôi đũa quẹt ngang miệng và chép miệng khen ngon.

Ở người vợ nhặt lúc này, người ta không tìm thấy một chút biểu hiện của sự nhẹ nhàng, duyên, dáng, tinh tế của những người phụ nữ. Chỉ có ở đây một người đàn bà cố phần thô thiển, trâng tráo. Thế rồi không đợi Tràng phải mở lời lần thứ hai thị đã gật đầu cái rụp theo Tràng về nhà đồng ý làm vợ anh. Người vợ nhặt ở phần đầu câu chuyện càng bỗ bã, vô duyên bao nhiêu thì đến phần sau thị lại khéo léo, tế nhị bấy nhiêu. Thị biết thẹn thùng khi theo Tràng về nhà, biết ý tứ ngồi mớm ở mép giường. Biết gia cảnh nhà Tràng, thị cũng chỉ nén một tiếng thở dài chứ không sừng sộ, bỏ đi.

Thị còn rụt rè, lo sợ khi gặp mẹ chồng. Sáng hôm sau, thị dậy thật sớm cùng mẹ dọn dẹp nhà cửa, phát quang ruộng vườn. Thị bỗng hóa thân thành một nàng dâu hiền thảo, một cô Tấm giữa đời thực. Khi mẹ chồng bưng ra mời cô con dâu mới nồi cháo cám, thị cũng không hề có những phản ứng thô thiển như lúc trước mà chỉ lặng lẽ và miếng cháo chát nghẹn vào miệng. Rồi thị kể cho Tràng và mẹ nghe những câu chuyện về những người đi phá kho thóc, gieo vào lòng họ những niềm tin về một tương lai tươi sáng.

Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu thì ban ban đầu khi nghệ sĩ Phùng gặp gỡ và chứng kiến lần đầu tiên đã cho thấy đây cũng là một người đàn bà có ngoại hình không lấy gì làm đẹp đẽ. Đã vậy, chị lại cam chịu, cam chịu một cách hèn mọn, để chồng đánh mình, con xông vào can thì chị ngăn cản.

Khi Phùng và Đẩu gọi chị đến tòa án và khuyên chị li hôn chị lại một mực từ chối. Người phụ nữ ban đầu bước vào tòa án với vẻ ngoài rụt rè, nhút nhát bỗng dưng chuyển mình thay đổi thành một con người làm chủ, chủ động giải thích về hoàn cảnh của mình. Hóa ra chính chị lại là người chu đáo, tỉ mỉ. Chị biết nghĩ cho từng thành viên trong gia đình, biết cân nhắc nặng nhẹ lớn nhỏ, biết nhìn xa trông rộng.

Chị hiểu rằng li hôn không phải là cách giải quyết tốt nhất ngược lại còn khiến cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Sau khi nghe chị giải thích cả Phùng và Đẩu mới ngộ ra được nhiều điều, hóa ra họ cũng chỉ hiểu được phần nổi của câu chuyện, chỉ nắm được lí thuyết suông mà không biết rằng, thực tế cuộc sống còn rất nhiều khía cạnh, rất nhiều điều mà họ không biết tới. Chính người đàn bà hàng chài lúc này mới là người dạy cho họ những bài học về đường đời sâu sắc, thấm thía và thực tế.

Cả hai người phụ nữ đều là những con người chăm chỉ, dịu dàng, nhu mì. Họ biết chịu đựng, biết nhẫn nhịn và biết hi sinh. Dù cuộc sống đã đẩy họ vào những hoàn cảnh tăm tối nhưng họ luôn cố gắng vươn lên, nhìn về tương lai phía trước chứ không bi lụy vì thực tại, vì quá khứ. Thực ra chính họ mới chính là những người phụ nữ tốt đẹp nhất, mang trong mình những vẻ đẹp đáng quý của con người Việt Nam.

Số 8: So sánh vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu – hai truyện ngắn thật dung dị nhưng đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu sắc về hình ảnh hai người đàn bà: người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài. Họ cũng là những người phụ nữ nghèo khổ, lam lũ nhưng trong học đều ẩn chứa “những vẻ đẹp khuất lấp” tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Nhìn hình thức bên ngoài mỗi con người chưa chắc đã phản ánh hết những gì khuất lấp bên trong. Có thể cái xấu xa, thấp hèn núp đằng sau vẻ đẹp cao sang, lịch lãm bên ngoài; có thể cái đẹp, cái cao thượng nấp sau vẻ thô kệch, xấu xí, lấm láp bề ngoài… Nguyễn Minh Châu luôn tâm niệm: thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn để nâng đỡ, ca ngợi.

Hình ảnh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài đã chứa đựng những mâu thuẫn giữa bên ngoài và bên trong như thế. Nếu chỉ nhìn nhận họ với con mắt hời hợt thì không thể thấy được những vẻ đẹp tiềm ẩn, chứa bên trong tâm hồn mỗi con người. Cái đẹp chung của họ đều là những con người vô danh tính, xấu xí, nhạt nhòa trong bao số phận nghèo khổ, thua thiệt, bị cuộc sống dồn đẩy vào những hoàn cảnh trớ trêu, éo le nhưng họ vẫn vẫn luôn giữ được phẩm chất đẹp đẽ mang tính truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Chị xuất hiện trước mặt Tràng lần thứ hai với “thân hình gầy sọp, quần áo tả tơi như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt”. Chị ăn nói cong cớn, chỏng lỏn, trơ trẽn. Tràng mời ăn giàu, chị không ăn mà nói thẳng: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”. Và chỉ chờ Tràng nói: “Đấy, muốn ăn gì thì ăn”thì mắt chị sáng lên rồi ngồi sà xuống “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Ăn xong cầm doc chiếc đũa quệt ngang miệng thở: “Hà, ngon!”. Thế rồi Tràng nói đùa: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. “Ai ngờ thị về thật”, chấp nhận theo không người đàn ông về làm vợ mà chẳng rõ ngọn ngành. Người đọc có thể dễ dàng cảm nhận thấy, đó là người đàn bà chẳng còn lòng tự trọng, chẳng còn nhân cách.

Rõ ràng sâu thẳm trong mỗi con người, có biết bao điều đẹp đẽ mà ta mới nhìn không thấy. Nếu đặt chị vợ nhặt vào một hoàn cảnh sung sướng đầy đủ khác, có lẽ chị chẳng thể có những vẻ lấm láp về nhân cách như thế.

Nhà văn không đặt cho nhân vật của mình một cái tên cụ thể, có lẽ hình ảnh của bà nhạt nhòa trong bao hình ảnh những người phụ nữ cùng cảnh ở vùng biển này: đông con, đói khổ, lam lũ mà còn phải chịu cảnh bạo hành của người chồng vũ phu, độc ác.

Xuất hiện trước mắt người đọc là hình ảnh một người đàn bà thân hình cao lớn, đường nét thô kệch, rỗ mặt, dàng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già… Hình ảnh ấy là hiện thân của sự nghèo khổ, vất vả nhưng chưa đủ, bà còn luôn bị người chồng đánh đập tàn bạo bằng thắt lưng da của lính ngụy ngày xưa, cứ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Vậy mà bà vẫn nhẫn nhục chịu đựng, cam chịu: không kêu la, không chống trả, không tìm cách trốn chạy. Khi được tòa huyện khuyên bỏ người chồng độc ác lên bờ sinh sống thì bà xin: “Con lạy quý tòa. Quý tòa bắt tội con cũng được< phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Qua thái độ nhẫn nhục, cam chịu và cách xưng hô khiến người ta sẽ nghĩ đây là người đàn bà không bình thường.

Nhưng đi sâu khám phá mới thấy chiều sâu trong tâm hồn người đàn bà ấy ánh lên vẻ đẹp lấp lánh của đức hi sinh, lòng vị tha của một người vợ, người mẹ. Vì sao mỗi lần bị đánh đau đớn, tàn bạo như vậy mà bà vẫn cam chịu? Chỉ có bà mới thấu được hoàn cảnh của chính mình: đông con, nghèo khó, vất vả lại làm nghề đặc trưng: nghề biển. Con người đã quen với sóng gió, biển cả thì dù có gian lao, nguy hiểm nhưng vẫn phải bám biển để sống. Bà hiểu thiên chức của một người mẹ, sinh con ra phải có trách nhiệm với con, sống cho con chứ không phải sống cho mình. Bà tự trách mình: “Cái lỗi là chính đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”; “giá mà tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn” thì sẽ đỡ khổ.

Bà hiểu chồng cảm thông, dung tha cho những hành động tàn độc của lão. Trước kia lão là anh con trai hiền lành, cục tính nhưng chưa đánh vợ bao giờ. Về sau, chỉ vì lão đông con, cuộc sống cơ cực vất vả trút lên đầu lão, lúc nào thấy cơ cực quá thì lão xách vợ ra đánh cho hả giận. Bà hiểu tính khí lão cũng như biển khi giông bão, khi hiền hòa. Bà hiểu bà cũng như bao người phụ nữ trên biển rất cần có người đàn ông để chèo chống phong ba bão táp, dù người đàn ông ấy có đọc ác, tàn bạo thì vẫn phải chấp nhận để cùng nhau nuôi đặng sắp con, vì nhà nào cũng chục đứa. Bà chắt chiu niềm vui bé nhỏ trong cuộc sống để mà sống: lúc vui nhất là lúc nhìn thấy đàn con được ăn no và vợ chồng cũng có lúc vui vẻ, hòa thuận.

Bà tỏ ra thông cảm với Đẩu- ông Bao Công phố biển phần nào còn “trẻ người non dạ” chưa có kinh nghiệm trong cuộc sống, mà chỉ có lòng tốt và kiến thức sách vở. Bà càng nói, càng “để lộ ra vẻ sắc sảo”, “con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình”. Nhắc đến con bà lại khóc, mỗi lần bị đánh bà lại xin lão chồng đưa lên bờ mà đánh để tránh cho những đứa con khỏi bị tổn thương khi phải chứng kiến cảnh đau lòng ấy, lớn lên rồi chúng sẽ ra sao? Chúng sẽ gặp phải cảnh như mẹ để rồi nhẫn nhục, cam chịu, hay vũ phu như người cha của chúng? “Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc thấu hiểu cái lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài”.

Thế ra, nhìn bề ngoài của người đàn bà xấu xí tưởng như dở hơi, đần độn ấy lại chứa chất bao điều uẩn khúc với những đức tính cao đẹp mà nhiều người khác khó có thể có được. Bà đem lại một bài học cho Đẩu và Phùng về cách nhìn đời: không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá bên trong, phải biết phát hiện cái thực chất sau cái bề ngoài của hiện tượng. Không thể nhìn sự vật một cách đơn giản, dễ dãi mà phải thâm nhập vào mạch ngầm của cuộc sống để khám phá, phát hiện ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong

Hai nhân vật có những nét riêng trong số phận, có những nét phẩm chất đậm nhạt khác nhau, nhưng ở họ đều toát lên vẻ đẹp của một tâm hồn nhân hậu, hiền thục, bao dung, vị tha. giàu lòng yêu thương và đức hi sinh – biểu hiện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Nhìn ra những vẻ đẹp khuất lấp ấy tiềm ẩn trong tâm hồn của con người lao động bình dị, lam lũ, hai nhà văn đã góp phần tạo nên những giá trị nhân đạo mới mẻ và sâu sắc cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 9: So sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam bao đời nay vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận của văn chương trong cả thời đại cũ và mới. Như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, số phận long đong đấy đáng thương như cánh hoa trôi đều là cánh cửa để chúng ta tìm hiểu thế giới nội tâm đầy sống động với những vẻ đẹp tâm hồn sáng ngời.

Hình ảnh “người vợ nhặt thị” trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân cùng “người đàn bà làng chài” trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đều thành công trong việc xây dựng về hình ảnh người phụ nữ với vẻ đẹp bên trong sâu sắc. Dù số phận đưa đẩy họ đến những hoàn cảnh khác nhau nhưng giữa những bề bộn tầm thường, vẻ đẹp của họ vẫn được Kim Lân và Nguyễn Minh Châu khắc họa sâu sắc. Sau tất cả, các phẩm chất đó vẫn sáng mãi và bất tử trong lòng độc giả.

Họ đều là hiện thân của những bất hạnh người phụ nữ thời đại mới. Hoàn cảnh an bài họ gặp bao trớ trêu, bi kịch, tủi hờn, là đại diện của những chiếc bánh trôi nước “bảy nổi ba chìm với nước non”. Người vợ nhặt thị trong “Vợ nhặt” được Kim Lân xây dựng hình ảnh là một người phụ nữ vô danh trôi dạt trong nạn đói 1975. Nàng lâm vào tình cảnh phải giành giật sự sống và cái chết, sống như một con ma vật vờ trong nạn đói khủng khiếp.

Cái nghèo, cái đói đeo bám đã khiến thị lâm vào bước đường cùng, trở thành một người chẳng còn gì. Kim Lân khắc họa hình ảnh người vợ nhặt “gầy vêu rách như tổ đỉa”, héo úa với “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” cùng “hai con mắt trũng hoáy”. Còn lại chẳng còn gì nữa cả: không tên, không tuổi cũng chẳng có gốc gác, quê hương. Tất cả các chi tiết đó không khiến chúng ta bàng hoàng và xót thương.

Người vợ nhặt đúng nghĩa chính là một người vợ nhặt. Thị theo Tràng về chỉ bằng bốn chén bánh đúc mà chẳng hề nghĩ suy. Cứ thế theo không người ta về làm vợ, tựa như một món đồ được nhặt bên đường. Nàng đâu còn tương lai, cái đói khiến nàng túng quẫn, chỉ còn biết bấu víu Tràng. Không chỉ vậy, đói nghèo còn tàn phá cả tính cách của nàng, nàng trở nên “chao chát”, “chua ngoa, đanh đá”. Tự trọng của người phụ nữ chẳng còn là gì trước miếng ăn. Thầy đồ ăn, chẳng chần chừ, nhân vật thị “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Số phận vùi dập người phụ nữ chẳng còn lại gì, kể cả chút tự tôn.

Cũng giống như người vợ nhặt, “người đàn bà làng chài” được Nguyễn Minh Châu khắc họa là một người phụ nữ không tên. Cô là một người vô danh, ở đâu cũng có thể bắt gặp, là số phận tiêu biểu cho một đời nhọc nhằn, gian khó, lam lũ như bao người phụ nữ Việt Nam thời đó. Nguyễn Minh Châu dù chẳng hề gọi tên, nhưng hình ảnh về người đàn bà làng chài cơ cự khốn đốn lại hiện lên và in dấu rõ nét trong lòng người đọc. Cô “cao lớn với những nét thô kệch”, khuôn mặt thì rỗ và hằn lên sự “mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt”. Một dáng vẻ đầy khổ sở, nhọc nhằn khiến bao người thương cảm.

Người đàn bà bất hạnh ấy không chỉ phải chịu thiệt thòi về ngoại hình mà tạo hóa mang lại mà dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương, đau xót cho chị. Ai mà lại chẳng thầm tặc lưỡi xót thương cho “tấm áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng” của chị? Chỉ vài nét phác thảo nhưng lại gợi lên sự chua xót, khốn khổ đến tận cùng của chị.

Trước những trận đòn roi, muôn lời cay đắng của người chồng, chị chẳng hề phản kháng, chỉ lộ ra vẻ cam chịu và nhẫn nhục đến ngu ngốc. Dẫu cho là “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, dẫu là đôi mắt cô ánh lên sự ai oán và xót thương cho chính đời mình, nhưng người phụ nữ ấy vẫn “không hé răng một lời”. Dáng hình “mụ ngồi ghé vào mép ghế và cố thu người lại” như một chú chim cô độc. Có lẽ cuộc đời của cô đã quá nặng nề, quá thê lương rồi.

Nhưng đằng sau số phận hẩm hiu cùng vẻ ngoài bị số phận vùi dập lại là khát vọng và niềm tin vào cuộc sống. Dẫu có đớn đau và tuyệt vọng, khát vọng được sống, được hạnh phúc vẫn được thể hiện sâu sắc qua hình ảnh người vợ nhặt cùng người đàn bà làng chài. Ngòi bút hiện thực của Nguyễn Minh Châu và Kim Lân tái hiện sâu sắc sức sống mãnh liệt trong họ.

Phía sau tình cảnh túng quẫn vì đói, khát vọng sống của nhân vật vợ nhặt Thị vẫn cháy. Thị “đánh một canh bạc” bằng cả đời mình bằng việc theo Tràng làm vợ âu cũng chỉ là để được sống. Dù là sẽ bị chê cười, là đánh mất tự trọng, nhưng ở tình cảnh đó, đó chính là điều nỗ lực nhất nhân vật có thể làm vì chính mạng sống của mình. Dẫu có rẻ mạt và tầm thường, chỉ với bốn bát bánh đúc, hai hào dầu, một thúng con là bán rẻ bản thân, nhưng để tồn tại thì còn ý chí nào mạnh mẽ, quật cường hơn thế?

Kể cả lúc nhìn thấy “ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, nàng cũng chỉ “nén một tiếng thở dài” chứ chẳng hề thái độ nặng nhẹ. Dù là vớ một chiếc “phao rách” là Tràng nhưng Thị vẫn biết trước biết sau, ý tứ. Tiếng thở dài đó còn ẩn chứa việc nhân vật là người biết lo nghĩ về tương lai, có trách nhiệm lo toan cho gia đình nhỏ mới hình thành của mình. Đằng sau vẻ ngoài chua chát, đanh đá, Thị vẫn là một vợ hiền hậu, đảm đang, một người con dâu biết lo toan, chăm chút cho mái ấm của mình.

Nàng e thẹn, đối diện với bà cụ Tứ – mẹ chồng mới của mình thì chỉ dám “ngồi mớm” vào mép giường. Thậm chí còn rất ý tứ, cung kính chào hỏi. Trong bữa cơm đạm bạc chỉ có vỏn vẹn “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn” nhưng nàng vui vẻ, chẳng hề thái độ, nhăn nhó. Có lẽ chính bao điều đẹp đẽ nơi tâm hồn thị đã như sưởi ấm gia đình nhỏ khỏi những tháng ngày lao đao bị cái đói làm héo úa.

Số phận của người đàn bà làng chài với bao sự éo le, lay lắt của cuộc sống cơm áo gạo tiền cũng chẳng thể xóa đi sự đẹp đẽ trong tâm hồn cô. Bên trong vẻ ngoài nhẫn nhục đến vô nghĩa, đến ngu ngốc ấy lại là một thế giới nội tâm đầy sự vị tha, độ lượng và giàu đức hi sinh của một người mẹ. Cô không chịu bỏ người chồng vũ phu, cô chấp nhận một cuộc đời địa ngục chỉ vì muốn những đứa con có một mái ấm đủ đầy, được ăn no được ngủ ấm.

Cô hiểu được cái khắc nghiệt của một cuộc đời mưu sinh trên biển nếu thiếu đi bàn tay gồng gánh của người đàn ông. Thậm chí cô còn hiểu sâu sắc người chồng của mình với cái nhìn đầy vị tha, rằng bản chất ông ta chẳng hề xấu xa, đê hèn như vậy. Chỉ là cuộc đời hắn ta cũng khổ sở đến bí bách dẫn đến sự bạo tàn, vô tình như thực tại mà thôi.

Người đàn bà hàng chài đã coi bể khổ đời mình là một lẽ đương nhiên. Bao đánh đập đòn roi cô chẳng than, chỉ xin  “đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy”. Sự nhẫn nhịn ấy thực chất cũng chính là tình mẫu tử vĩ đại của một người mẹ. Cô thốt lên “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”.

À thì ra cuộc đời cô chịu đựng như vậy cũng chỉ bởi niềm tin vững chắc vào thiên chức làm mẹ mà ông trời đã giao phó. Nó làm cô có thể cảm nhận chút hạnh phúc nhỏ nhoi giữa cuộc đời lắm bi thương này. Cô vẫn chọn sống, chọn tin vào một cuộc đời hạnh phúc ở tương lai, nơi những đứa con cô được lớn lên đủ đầy và mạnh khỏe. Như vậy, có lẽ với cô là quá đủ rồi.

Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đã thành công khi xây dựng hình tượng cho các nhân vật. Họ đã đặt trái tim mình vào nơi ngòi bút để thấu hiểu, sẻ chia cho những số phận người phụ nữ bất hạnh trong xã hội. Dẫu là một người vợ từ bỏ tự tôn để khao khát mưu cầu sự sống hay một người đàn bà cam chịu một đời cơ cực vì những người con thì tất cả đều đáng quý và trân trọng. Đó cũng chính là chủ nghĩa nhân đạo mà cả hai tác giả muốn truyền đạt và gửi nó đến các đọc giả suốt bao thế hệ. So sánh người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài cho ta thấy rõ hơn về số phận người phụ nữ và vẻ đẹp của họ.

Số 10: Phân tích vợ nhặt và người đàn bà hàng chài

Kim Lân là nhà văn có vốn am hiểu sâu sắc về đời sống nông thôn, cuộc sống và số phận của những người nông dân trong xã hội xưa. Trong những tác phẩm của mình, Kim Lân đã hướng ngòi bút đến những con người nghèo khổ, qua đó thể hiện thái độ trân trọng đối với những giá trị tốt đẹp bên trong họ. Vợ nhặt là truyện ngắn như vậy, thông qua tình huống nhặt vợ đầy độc đáo không kém phần lạ lùng, Kim Lân đã thể hiện niềm tin mãnh liệt vào những phẩm chất tốt đẹp ở những con người nghèo khổ bị nạn đói vắt kiệt sự sống.

Nguyễn Minh Châu lại là người tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học trong thời đổi mới sau 1975. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu khi viết về cái nghịch lí trong gia đình hàng chài, qua đó tác giả thể hiện nỗi đồng cảm, xót thương đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Điểm gặp gỡ của nhà văn Kim Lân trong Vợ nhặt và Nguyễn Minh Châu trong Chiếc thuyền ngoài xa là đều hướng đến tái hiện những thân phận nhỏ bé, bất hạnh, những nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh. Đó là người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” và người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.

Người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài hiện lên với vẻ ngoài xấu xí, thê thảm, họ là nạn nhân của xã hội đói nghèo, cơ cực bị cuộc sống mưu sinh vắt kiệt sự sống. Người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt tuy không được miêu tả nhiều nhưng vẫn hiện lên với những vẻ đẹp đáng trân trọng. Với tài năng miêu tả bậc thầy, Kim Lân đã xây dựng nhân vật đầy sống động, gây bất ngờ với những thay đổi ban đầu và về sau, trong cái đối lập giữa vẻ bề ngoài với những giá trị bên trong.

Người vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói, đứng trên ranh giới của sự sống và cái chết, chị ta sống lang bạt, vất vưởng. Đây cũng là cơ duyên để chị ta gặp gỡ và nên vợ nên chồng với anh Tràng. Tuy nhiên đối lập với cảnh trôi dạt, vất vưởng ấy lại là lòng ham sống mãnh liệt, chị ta chấp nhận theo không anh Tràng – một người đàn ông xấu xí, nghèo khổ về làm vợ vừa là con đường chạy trốn với cái đói, cái chết vừa thể hiện khát khao hạnh phúc mãnh liệt ở người đàn bà ấy.

Người vợ nhặt hiện lên trong trang văn của Kim Lân với dáng vẻ thê thảm, rách rưới cùng thân hình gày gò xanh xao, bị vắt kiệt sức sống bởi nạn đói. Không chỉ xấu xí, rách rưới mà ấn tượng đầu tiên chị ta mang đến cho độc giả là sự chao chát, chỏng lỏn, một người phụ nữ vô duyên có thể lớn tiếng mắng mỏ và đòi trả công bằng bữa ăn với người đàn ông mà mình từng đẩy xe bò hộ. Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong vẻ ngoài nhếch nhác, chỏng lỏn ấy lại là người đàn bà biết điều, một người phụ nữ hiền hậu, một người vợ đúng mực.

Khi theo anh Tràng về nhà, trước sự bàn tán của người dân xóm ngụ cư chị ta dù không thoải mái nhưng cũng chỉ dám lầm bầm trong miệng. Trước ngôi nhà lụp xụp của mẹ con anh Tràng, dù thất vọng nhưng chị ta cũng không bỏ đi hay mắng chửi anh Tràng như trước đó mà chỉ cố nén thất vọng trong tiếng thở dài cố nén, trong ánh mắt tối lại. Khi bà cụ Tứ về, người đàn bà ấy đã chủ động làm quen, buổi sáng đầu tiên về nhà chồng chị ta cũng chủ động dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, chuẩn bị mâm cơm gia đình. Như vậy, ấn tượng về người vợ nhặt hoàn toàn thay đổi khi chị ta theo anh Tràng về làm vợ, đó chính là vẻ đẹp tâm hồn, bản chất đáng quý bên trong cái xù xì, xấu xí bên ngoài.

Người đàn bà hàng chài là nhân vật chính trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng là nạn nhân của đói nghèo, của những trận bạo lực gia đình. Nhân vật người đàn bà được Nguyễn Minh Châu tái hiện rõ nét theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất.

Bên trong vẻ ngoài cam chịu, nhẫn nhục vô nghĩa lí khi chấp nhận chung sống với người chồng vũ phu, chấp nhận cuộc sống như địa ngục lại là một tấm lòng vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh của một người đàn bà hiểu biết. Người đàn bà hàng chài không chịu bỏ chồng vì muốn các con có một mái ấm với cả bố và mẹ, được ăn no, chị ta hiểu được cái khắc nghiệt của cuộc sống mưu sinh trên biển không thể thiếu bàn tay chèo lái của người đàn ông, và trên hết là người đàn bà ấy hiểu bản chất của người chồng không xấu, hắn ta bạo tàn, vô tình như thực tại cũng vì quá nghèo khổ.

Thông qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, ta mới vỡ nhẽ ra rằng người đàn bà ấy không cam chịu một cách vô nghĩa lí, không nhẫn nhục một cách mù quáng, chị ta chấp nhận hi sinh bản thân để bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ những điều tốt đẹp mà chị ta trân trọng. Như vậy phía sau vẻ thô kệch, quê mùa lại là người phụ nữ thấu hiểu lẽ đời, một người giàu tình thương.

Như vậy, cả người vợ nhặt và người đàn bà đều là đối tượng mà Kim lân và Nguyễn Minh Châu đồng cảm và trân trọng, bên trong vẻ ngoài xấu xí, thô kệch lại là những vẻ đẹp khuất lấp đáng trân trọng. Tuy nhiên, nếu người vợ nhặt hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp của nàng dâu mới thì người đàn bà hàng chài lại hiện lên với những phẩm chất của người mẹ nặng gánh mưu sinh. Nét khác biệt của mỗi nhân vật làm nên cái đặc sắc của mỗi tác phẩm.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu so sánh người đàn bà hàng chài và vợ nhặt chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.