Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau chi tiết nhất

365
Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau chi tiết nhất
Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau chi tiết nhất
4.8/5 - (14 votes)

Tổng hợp các bài mẫu Phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau trong bài Vợ nhặt của tác giả Kim Lân một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Đọc thêm:

Dàn ý phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau

I. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm, nhân vật: Thông qua tình huống nhặt vợ lạ lùng, nhà văn im Lân đã bộc lộ được quan niệm nhân đạo sâu sắc khi phát hiện ra vẻ đẹp của con người ngay trong sự túng đói quay quắt, ám ảnh. Nhà văn đã chú ý miêu tả đến tả tâm trạng và những cảm nhận của Tràng trong buổi sáng hôm sau để thể hiện sức mạnh của tình thương, của hạnh phúc có thể làm đổi thay con người

II. Thân bài

Trong buổi sáng hôm sau, anh Tràng đã có những cảm xúc mới mẻ cùng những cảm nhận lần đầu có

Tràng nhận ra mọi thứ xung quanh cũng đổi khác có cái gì vừa thay đổi mới lạ

Nhìn cảnh mẹ và vợ đang lúi húi dọn dẹp Tràng, hình ảnh bình dị nhưng lại khiến cho Tràng xúc động, Tràng thấy cuộc sống của mình thau đổi hẳn:

+ Những suy nghĩ của hắn cũng trở nên trưởng thành, chín chắn hơn.

+ Tràng cảm thấy mình phải có trách nhiệm với vợ con, với gia đình nhỏ của mình Bỗng nhiên ắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.

+ Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.

Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng.

III. Kết bài

Ý nghĩa của những thay đổi trong suy nghĩ của Tràng: Sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện, đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau

Số 1: Phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau

Kho tàng văn học Việt Nam đã ghi dấu ấn của bao nhà văn, nhà thơ. Một trong số đó phải nhắc đến nhà văn Kim Lân. Với đề tài người nông dân, ông đã sáng tác ra nhiều tác phẩm gây được tiếng vang lớn. Một trong số đó phải kể đến truyện ngắn Vợ nhặt và nhân vật Tràng. Hình ảnh của Tràng được khắc họa rõ nét nhất khi Tràng lấy cô thị về làm vợ.

Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê để nuôi thân và nuôi mẹ già. Chính vì thế, anh bị mọi người coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Anh có ngoại hình xấu xí, thô kệch, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch.

Tuy nhiên, anh chàng lại là người có tấm lòng nhân hậu, phóng khoáng. Giữa cái nạn đói khủng khiếp ấy, anh đã không toan tính mà đón cô thị về làm vợ, nuôi thêm một miệng ăn. Nhưng cũng chính vì có vợ mà tâm lí của Tràng cũng có nhiều thay đổi.

Buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi. Niềm vui lâng lâng trong người khi hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinh tươm. Mẹ Tràng đang nhổ cỏ vườn. Vợ đang quét sân tiếng chổi vang lên đều đều. Bỗng nhiên, anh cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của mình một cách lạ lùng. Thế là từ đây Tràng đã có một gia đình, sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây.

Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng anh. Một nguồn sung sướng và phấn chấn dâng lên trong lòng Tràng. Lúc này, Tràng cũng biết bổn phận của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Anh cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình.

Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng. Qua hình ảnh ấy đã mang cho người đọc một niềm tin rằng một ngày nào đó anh Tràng sẽ đi theo cách mạng, theo đoàn người đói để đứng lên đấu tranh, đổi thay cuộc sống.

Nhiều năm tháng qua đi nhưng hình ảnh anh Tràng với những đức tính tốt đẹp vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Đồng thời, nhà văn Kim Lân cùng tác phẩm Vợ nhặt đã góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam giàu đẹp và ý nghĩa hơn.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 2: Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng sáng hôm sau

Vợ Nhặt” là truyện ngắn được trích trong tập truyện “Xóm ngụ cư” của nhà văn Kim Lân. Câu truyện kể về nhân vật anh cu Tràng một người nông dân hiền lành chất phác trong nghịch cảnh lại có được hạnh phúc lứa đôi. Không chỉ xây dựng nhân vật thành công qua nét tính cách và ngoại hình, Kim Lân còn khắc họa rất thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật này. Đặc biệt thông qua đoạn trích:

“…Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.

(….)

Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà…”.

Vợ Nhặt được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945 khi mà đất nước ta óc đến 2 triệu người chết đói. Nhân dân ta chịu cảnh áp bức một cổ hai tròng. Ở miền Bắc, phát xít Nhật bắt dân ta phải nhổ lúa trồng đay. Thực dân Pháp thì ra sức vơ vét thóc gạo của người nông dân. Hậu quả là đến cuối năm 1945, người dân rơi vào thảm cảnh bi thương khi hàng triệu người bị chết đói. Đây được xem là nạn đói lớn nhất trong lịch sử. Nhưng kì lạ thay ngay cả trong hoàn cảnh đói khát tăm tối nhất khi người ta cận kề bên miệng vực của cái chết thì những con người lao động Việt Nam vẫn lạc quan hướng về tương lai hạnh phúc hơn.

Nhân vật Tràng trong truyện ngắn được miêu tả là một gã trai nghèo khổ. Nghèo đến tột cùng cái nghèo đấy được thể hiện qua “chiếc áo nâu tang”, ngôi nhà thì “vắng teo đứng rúm ró bên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”. Và Tràng chỉ là một gã kéo xe bò thuê. Đến cái tên của hắn cũng thể hiện sự thô kệch nghèo khó. Ngòi bút của Kim Lân đã khắc họa nhân hình của Tràng một cách rất sống động: “hai mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra”.

Bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạm vỡ, cái đầu thì trọc lốc… Dưới ngòi bút của Kim Lân, hắn chỉ như một bức chân dung vẽ vội một hình hài được tạo hóa đẽo gọt quá ư sơ sài, cẩu thả. Không chỉ xấu xí mà cái sự nghèo khổ còn khiến cho hắn bị dở tính có tật “vừa đi vừa nói”. Hắn hay “lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ” thỉnh thoảng còn “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”.

Trong cái cơn thóc cao gạo kém đó, một người vừa xấu xí lại nghèo như Tràng không ai có thể hình dung được là hắn có thể có vợ. Mà hoàn cảnh lấy được vợ cũng hết sức thú vị. Hắn nhặt được vợ trên đường đi đẩy xe bò trở thóc về nhà. Thị đã theo hắn về nhà sau lời mời chào tưởng như bông đùa và bốn bát bánh đúc ở chợ huyện.

Kim Lân đã dành rất nhiều trường đoạn để miêu tả diễn biến của nhân vật Tràng sau khi nhặt được vợ. Đầu tiên khi nghe những lời hàng xóm xì xầm, bàn tán chê bai:”chao ôi, thời buổi nào còn rước cái của nợ ấy về, có nuôi nổi nhau sống qua ngày không?” Nhưng Tràng nghe thấy thế cũng chỉ “Chậc. Kệ” giờ đây hắn chỉ còn “tình nghĩa với người đàn bà đi kế bên”. Hắn tủm tỉm cười hai mắt sáng lấp lánh mơ về niềm hạnh phúc tương lai.

Buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi. Niềm vui lâng lâng trong người khi hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinh tươm. Mẹ hắn đang nhổ cỏ vườn. Vợ đang quét sân tiếng chổi vang lên đều đều. Bỗng nhiên, hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạ lùng. Thế là từ đây hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây.

Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng hắn. Một nguồn sung sướng và phấn chấn dâng lên trong lòng Tràng. Lúc này, Tràng cũng biết bổn phận của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Hắn cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình.

Thông qua đoạn trích trên ta thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc của nhà văn Kim Lân. Với những ngôn từ mộc mạc, giản dị dậm chất nông thôn có thêm sự gia công sáng tạo của nhà văn. Cùng lối kể truyện hấp dẫn sinh động giúp chúng ta hiểu thêm phần nào về nhân vật anh cu Tràng. Một người nông dân tuy sống trong hoàn cảnh nghèo khó, khổ cực nhưng chưa bao giờ từ bỏ mơ ước về một cuộc sống hạnh phúc sau này. Đó chính là tư tưởng nhân đạo được nhà văn khéo léo lồng ghép vào trong tác phẩm.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 3: Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng sáng hôm sau

Kim Lân là cây bút tiêu biểu vượt trội của văn học Nước Ta văn minh. Trong cả hai tiến trình sáng tác ( trước và sau Cách mạng tháng Tám ), tuy viết không nhiều nhưng gia đoạn nào ông cũng có những tác phẩm hay. Với tấm lòng của một người vốn là con để của đồng ruộng, Kim Lân đã viết về nông thôn và người nông dân bằng tổng thể sự cảm thông và yêu thương chân thành. Vợ nhặt là truyện ngắn rực rỡ của nhà văn. Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết về đề tài nạn đói năm Ất Dậu 1945, kể lại chuyện một người trẻ tuổi nghèo nhặt vợ giữa lúc đói quay đói quắt.

Nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đã khẳng định chắc chắn một phát hiện của Kim Lân về người lao động : Dù sống trong thực trạng nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao niềm hạnh phúc. Điều đó được biểu lộ rõ qua đoạn trích : Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào … tu sửa lại căn nhà. ” Sự biến hóa của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu truyện, đồng thời biểu lộ sự trân trọng của nhà văn Kim Lân so với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng thâm thúy với những người dân bần hàn nhưng có khát khao sống can đảm và mạnh mẽ .

Tác phẩm lấy toàn cảnh xóm ngụ cư vào đỉnh điểm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ khi nào. Xóm ngụ cư như một bãi tha ma, chẳng còn bóng hình của sự sống. Trong thực trạng ấy, Tràng – một người trẻ tuổi nghèo, kéo xe bò thu nuôi mình và nuôi mẹ già – lại lấy vợ. Việc Tràng nhặt vợ về đã làm điển hình nổi bật khao khát niềm hạnh phúc, yêu thương của con người ngày đói. Trong thực trạng đói khát, tăm tối, khi đang cận kề bên miệng vực của cái chết ấy, người lao động Nước Ta vẫn khát khao niềm hạnh phúc, vẫn sáng sủa hướng tới tương lai. Điều này được biểu lộ rất rõ qua tâm trạng của nhân vật Tràng vào sáng hôm sau, sau khi Tràng nhặt vợ về .

“ Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra ”. Không phải là nỗi lo âu khi đối lập với thực tại đen tối trước mặt. Không phải là cảm xúc hối hận khi đã nhặt vợ về giữa những ngày đói khát. Ta chỉ thấy tâm trạng nhẹ nhõm, khoan khoái của một người đàn ông đang tràn ngập niềm niềm hạnh phúc lứa đôi. Tràng đang niềm hạnh phúc, niềm hạnh phúc lớn và bất thần đến ngỡ ngàng, đến không hề tin được : “ Việc hắn có vợ đến thời điểm ngày hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải ” Nhà cứa thật sạch, tinh tươm : “ Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh .

Càng ngỡ ngàng hơn khi Tràng nhận thấy xung quanh khác lạ, mới mẻ, cửa nhà nhà mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vất ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô ở dưới gốc cây đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác màn tung hoành ngay lối đi đã được hốt đi. Niềm vui dâng lên trong lòng. Toàn là những dấu hiệu vui, những dấu hiệu về một ngày mai tươi sáng hơn. Nếu chỉ nghĩ đến sự sống chết trước mặt, nếu không có niềm tin rằng mình sẽ thoát khỏi cái đói, nếu không khao khát một cuộc sống khấm khá hơn thì họ sẽ để mặc cửa nhà bừa bộn, nhếch nhác.

Một cảnh tượng rất là bình dị hiện ra trước mắt Tràng : “ Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất ”. Hai người phụ nữ của cuộc sống hắn đang cặm cụi quét tước, thu dọn cửa nhà. “ Cảnh tượng thật đơn thuần, thông thường nhưng so với hắn lại ất thấm thía cảm động. Hạnh phúc, quả thực, đến từ những điều rất nhỏ ”. Niềm vui, niềm niềm hạnh phúc đã đem đến sự thay đổi kì diệu trong tâm hồn Tràng : “ Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu dấu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng ”. Nhà không là sự vật hữu hình, đơn cử, nhà còn là mái ấm gia đình, là tổ ấm. Từ giờ trở đi “ Hắn đã có một mái ấm gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy.

Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng – nguồn vui sướng, mừng quýnh bất ngờ đột ngột tràn ngập trong lòng ”. Chỉ trong một đoạn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ giật mình, kinh ngạc cho đến vui sướng tột cùng khi biết mình đã có mái ấm gia đình. Một niềm vui thật cảm động, cả hiện thực như xen lẫn giấc mơ. Niềm vui như nhân đội, bởi bên cạnh niềm hạnh phúc lứa đôi, Tràng còn có thêm một niềm niềm hạnh phúc to lớn nữa – niềm hạnh phúc mái ấm gia đình. Anh chàng cục mịch, khù khờ thường ngày vụt trở nên thâm thúy. Hạnh phúc như khiến con người ta trưởng thành hơn trong cảm hứng .

Hạnh phúc còn khiến con người trưởng thành trong nhận thức. Tràng ý thức được bổn phận, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đàn ông với mái ấm gia đình. Tràng nhận thấy ý nghĩa của cuộc sống chính là yêu thương, gắn bó và chăm sóc cho những người thân trong gia đình. “ Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo ngại cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. Chi tiết hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà ” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt thay đổi cả số phận lẫn tính cách của Tràng : từ khổ đau sang niềm hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây ngô sang nhận thức. Rõ ràng, khát vọng niềm hạnh phúc ở con người lớn hơn cái đói và cái chết. Đó là lí do dẫn đến cái kết “. Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ” của câu truyện .

Nhân vật Tràng trong đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung là một phát hiện của nhà văn Kim Lân về người lao động : Dù sống trong thực trạng nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao niềm hạnh phúc. Khát khao ấy mạnh hơn cái đói, cái chết. Phát hiện này làm ra giá trị nhân đạo cho tác phẩm. So với những tác phẩm viết về người lao động trước Cách mạng, Vợ nhặt mang đến một giá trị mới lạ hơn. Nhà văn không chỉ thấy nỗi khổ của con người và vẻ đẹp tâm hồn của họ mà còn nhìn thấy tương lai và con đường sống tất yếu của họ. Cho dù đang đứng, lao động Nước Ta vẫn tràn trề khát vọng sống, khát vọng niềm hạnh phúc, vẫn tin trường, tin miệng vực của cái đói, cái chết, mặc dầu bị dồn đuối đến bước đường cùng thì người dân vẫn tin vào một tương lai tươi đẹp hơn .

Nhà văn Kim Lân đã nói : “ Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chi nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong thực trạng khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin yêu ở tương lai. Họ vẫn sống, sống cho ra con người. ”

Số 4: Phân tích nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau

Nhắc đến Tô Hoài, ta liên tưởng đến những niềm say mê của ông đối với vùng núi cao Tây Bắc còn Kim Lân lại thiên về cuộc sống hồn hậu nguyên thủy ở vùng nông thôn nghèo khó. “Vợ nhặt” – tác phẩm vừa là bức tranh phản ánh rõ nét hoàn cảnh khốn khó của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Nỗi đau này làm xúc động tới giới văn nghệ sĩ, Nguyên Hồng viết tác phẩm “Địa ngục”, Tô Hoài “Mười năm”, Nguyễn Đình Thi “Vỡ bờ”,… họ đều viết về nạn đói. Bằng nghệ thuật riêng của mình, Kim Lân đã góp phần tạo nên một cái nhìn rất mới mẻ cho dòng văn học Việt Nam qua thiên truyện ngắn mang tên “Vợ nhặt”. Ông đã xây dựng nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau khi mà cảnh nhà có cô dâu mới trong hoàn cảnh rất độc đáo.

“Vợ nhặt” với tiền thân trước đó là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Khi đất nước dành lại hòa bình, Kim Lân đã dựa trên cốt truyện còn còn lại để viết nên tác phẩm. Truyện ngắn được in năm 1962 trong tập “Con chó xấu xí”

Tác phẩm xoay quanh một tình huống truyện đặc biệt, Tràng – người nông dân ngụ cư nghèo khó, bần hàn bỗng dưng lại có vợ theo không về nhà giữa nạn đói tưởng chừng như không thể cứu vớt được. Tuy câu chuyện tưởng chguwngf rất đơn giản nhưng lại có nhiều lý do khiến cho người ta phải có những suy nghĩ về tình người trong nạn đói. Tràng nhân vật tiêu biểu của truyện đã để lại rất nhiều ấn tượng sâu sắc, khó quên trong lòng người đọc.

Tràng hiện lên là một người dân ngụ cư đói khổ, bất hạnh, thậm chí miếng ăn còn không có. Cái tên “Tràng” được hiểu là dụng cụ của đồ mộc, qua đây cho thấy ngay cả tên gọi cũng gợi ra sự thô mộc, lam lũ, vất vả. Tràng là người nông dân xóm ngụ cư – kiểu người bị dân chính gốc khinh rẻ và chẳng có mấy ai chịu gả con cho kẻ ngụ cư. Tất cả những yếu tố trên cho thấy sự nghèo khổ của Tràng đến mức không còn có thể nghèo hơn được nữa. Dù nghèo đói là thế nhưng ở anh ta vẫn hiện lên những phẩm chất đáng quý của một con người Việt Nam.

Hàng ngày, Tràng đẩy xe bò thuê, một nghề nghiệp tạm bợ, bấp bênh kiếm ăn cho qua ngày. Tình cảnh của Tràng cũng nghèo khổ, đói rách như là Thị nhưng chỉ qua đôi lần gặp gỡ, bằng một câu hò vu vơ mà người đàn bà ấy sẵn lòng theo Tràng về nhà:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò,

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

Ban đầu, bản thân Tràng cũng “chậc kệ” và có đôi chút lo lắng, sợ hãi nhưng về sau thấy Thị quyết định theo mình về thì Tràng vui vẻ chấp nhận, hắn cảm thấy sướng vui, yêu đời với cuộc hôn nhân hiện tại không có sự sắp đặt từ trước của mình. Nhà văn đặt nhân vật trong hoàn cảnh độc đáo cho thấy Tràng lấy vợ xuất phát từ lòng đồng cảm về hoàn cảnh khốn khó của mình cũng như của người vợ nhặt ấy.

Sau khi có vợ, Tràng thể hiện mình là một người sống có trách nhiệm với mái ấm gia đình qua tình huống buổi sáng hôm sau khi mà Tràng dẫn Thị về nhà. Buổi sáng hôm ấy, Tràng thức dậy cảm thấy trong người mang một cảm giác rất dễ chịu như vừa bước ra từ giấc mơ. Tràng thấy nhà cửa của mình gọn gàng đến một cách khác thường. Đối với Tràng, căn nhà không còn là nơi để hắn trú chân nữa mà đó còn là tổ ấm nhỏ, nơi đó có mẹ, có vợ và những đứa con sau này.

Tràng nhận ra mình đang có một gia đình cần phải chăm lo, yêu thương hết mực. Khi chứng kiến mẹ và vợ đang dọn dẹp căn nhà, Tràng cảm thấy mình cũng phải góp phần vào việc tu sửa căn nhà của gia đình. Sau đó, hắn chạy thật nhanh ra giữa sân, hành động nhanh nhẹn trong bước chân của Tràng và ẩn sâu trong đó còn là niềm hạnh phúc ở tâm hồn Tràng, là sự biến đổi trong bản chất từ vô tư sang một người biết chăm lo cho gia đình nhỏ của mình.

Lần đầu tiên, Tràng thấy mình nên người, lần đầu tiên hắn thấy mình cần phải sống có trách nhiệm hơn với mẹ già và vợ con sau này. Cái gốc của sự biến đổi ấy là gia đình, nó là nền tảng của xã hội, là căn cốt để Tràng có thể thay đổi nhân tính của chính mình. Trong bưa cơm ngày cưới, khi miếng cháo cám đưa lên miệng đắng chát như hiện thực của cuộc sống lúc bấy giờ, cùng với âm thanh của tiếng trống thúc thuế dồn dập cũng có nghĩa là cuộc sống đã bị dồn đẩy đến bờ vực giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Nghe lời giải thích của người vợ nhặt với mẹ rằng: trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang họ không chịu đóng thuế, họ còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói. Lúc này, Tràng như thất thần, hắn bỗng vỡ lẽ và trong đầu hiện lên hình ảnh lá cờ màu đỏ sao vàng bay phấp phới.

Sự đóng góp của chi tiết nghê thuật này đã mở ra cho câu chuyện một hồi kết khác đẹp hơn. Có nghĩa là số phận của nhân vật vẫn tiếp tục vận động theo hướng lạc quan, đi lên, điều này khác với nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, khác so với chị Dậu, anh Pha,… Các nhân vật ở giai đoạn trước đó đều lâm vào cảnh tượng khốn khó bởi hoàn cảnh nghiệt ngã. Còn “hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới” ở cuối truyện ngắn đã phất lên như một tín hiệu dự báo rằng người dân sắp được đổi đời. Tràng cũng đang liên tưởng tới một tương lai tốt đẹp sắp tới.

Chỉ qua những chi tiết rất đỗi bình thường khi nói về nhân vật Tràng, tác giả đã để nhân vật xuất hiện trong một tình huống truyện độc đáo, éo le và cảm động. Nhân vật được bộc lộ một cách chân thực qua các chi tiết về ngoại hình, lai lịch. Ngôn ngữ nghệ thuật được viết độc đáo, hấp dẫn, làm nổi bật lời ăn, tiếng nói hàng ngày của người nông dân Việt Nam.

Qua kiệt tác mang tên “Vợ nhặt”, Kim Lân rất thành công khi khắc họa hình ảnh nhân vật Tràng qua buổi sáng hôm sau khi anh ta có vợ. Ông không chỉ lý giải về hoàn cảnh khắc nghiệt đang có mà còn hướng tới một hiện thực trong tương lai tốt đẹp hơn khi để cho người dân hướng về phía ánh sáng của cách mạng. Ngoài ra, ông còn bộc lộ nỗi niềm đồng cảm, xót thương, ngợi ca tình người biết yêu thương, sẻ chia, cùng nhau vượt qua khó khăn, trân trọng cuộc sống.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 5: Phân tích tâm trạng Tràng sáng hôm sau

Văn học lấy khởi đầu từ đâu nếu không phải những cảnh ngộ của đời sống, mảnh đời kia sẽ đứng trên trang sách bằng cách nào nếu không được nâng bởi chữ nghĩa, hòn lương tri nóng bóng trong họ cất cao lên nhờ đâu nếu không có đôi cánh của trái tim luôn quặn thắt vì đời ở người cầm bút, và cuối cùng chuyên cơ ngôn từ sẽ đáp xuống nơi nào nếu không phải mảnh đất mang tên triết lí nhân sinh. Thắc mắc trong tôi cứ ngày một nhiều mà chưa có lời giải đáp cho đến một ngày tôi lạc vào miền đất của môn nghệ thuật đầu tiên. Ở đó tôi bắt gặp một anh nông dân nghèo khổ nhưng thắm thiết tình người, dám vượt dậy từ tăm tối đói khát để mơ ước về một mái ấm gia đình. Nhìn kĩ mới biết ấy là anh cu Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, nhân vật đã có những diễn biến tâm lí đầy xúc động vào buổi sáng đầu tiên khi có vợ. Từ trang tâm trạng của anh du khách văn chương ngạc nhiên trước những đổi thay đáng ghi nhận của nhân vật ở phần cuối tác phẩm.

Là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân gây ấn tượng với người đọc bởi dấu ấn riêng biệt trong những thú “phong lưu đồng ruộng”. Tìm về trang viết Kim Lân, độc giả dễ dàng bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo hèn, khổ đau trong xã hội cũ. Tuy nhiên văn nhân cho rằng: họ là những con người chịu nhiều thiệt thòi. Nên ông muốn viết để đòi quyền sống và quyền tự do cho họ. Nhân vật trong sáng tác Kim Lân dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn không đánh mất đi bản chất tốt đẹp của mình, vẫn thật thà, chất phác, vẫn thông minh, hóm hỉnh và đặc biệt vẫn luôn hưởng về sự sống, hướng về tương lai. So với những tác giả văn học đương thời như Tô Hoài hay Nguyên Hồng, “cha đẻ của đồng ruộng” sáng tác không nhiều. Ông là minh chứng cho mẫu nhà văn “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, mang trong mình sự kĩ lưỡng, cẩn trọng và nghiêm túc khi làm nghề.

Ấy vậy mà để điểm lại bốn tác phẩm văn xuôi xếp vào loại gần như “thần bút”, người ta không thể không kể tới kiệt tác “Vợ nhặt” của Kim Lân. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Nhưng do thất lạc bản thảo, tới năm 1954, Kim Lân mới dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết “Vợ nhặt”. Tác phẩm vì thế không chỉ là kết quả của quá trình suy ngẫm, gọt giũa cả về nội dung và nghệ thuật mà còn mang âm hưởng lạc quan của thời đại mới. Thiên truyện miêu tả sức sống kì diệu, bản chất tốt đẹp của con người ngay giữa những tháng ngày tăm tối nhất của nạn đói năm 1945.

Nếu người thầy của văn nhân là Nam Cao để cho Chí Phèo bước vào tác phẩm cùng tiếng chửi đời đầy phẫn uất trong men say thì Kim Lân đã tạo những ấn tượng đầu tiên về nhân vật Tràng qua bức chân dung sơ sài của tạo hóa với “cái lưng to như lưng gấu hai con mắt nhỏ tý, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ gì vừa lý thú, vừa dữ tợn”. Hơn nữa y còn được giới thiệu là dân ngụ cư – thứ dân vốn bị coi khinh và chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Cuộc sống bấp bênh, long đong trong đói nghèo. Cả gia tài của hai mẹ con Tràng chỉ là một ngôi nhà vắng teo đứng “rúm ró trên mảnh vườn xung quanh lổn nhổn những búi cỏ dại”. Thật chẳng sai khi nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận xét về nghệ thuật tạo dựng nhân vật trong sáng tác văn nhân rằng: “Kim Lân là nhà văn của lớp người đầu thừa đuôi thẹo”. Nhưng dường như “những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học”.

Việc văn nhân đặt nhân vật vào giữa những tháng ngày tăm tối nhất của nạn đói, thời điểm người ta lo chắt chiu từng hạt gạo, để bẩy lên tấm lòng sáng rực giữa trời đen của Tràng khi hào phóng chi tiền mời người đàn bà xa lạ “một chặp bốn bát bánh đúc”. Tấm lòng nhân hậu của y mở rộng để sẵn sàng cưu mang những mảnh đời rách nát hơn cả mình. Thậm chí ngòi bút Kim Lân xoáy sâu vào lòng người đọc ấn tượng về niềm khao khát hạnh phúc mãnh liệt trong anh. Một người đàn ông can đảm gạt bỏ nỗi ám ảnh về miếng cơm, manh áo để tiến tới hạnh phúc thiêng liêng nhất ở tuổi trưởng thành. Sự kiện lấy vợ đã tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời anh, mang đến trong anh những cảm xúc rất người. Và sau tất cả người ta nhận thấy sự chuyển biến lớn lao trong tâm trạng Tràng vào buổi sáng hôm sau.

Chợt nhớ thuở trẻ thơ ta bất ngờ về cái vươn vai mạnh mẽ thành hình hài khổng lồ của Gióng thì khi trưởng thành ta lại thấy xúc động về cuộc cách mạng tâm hồn trong một con người. Người đàn ông mấy ngày trước vẫn còn vui đùa với trẻ con nay đã mang trong mình những suy nghĩ chín chắn. Phải chăng cái quyết định gắn hai mảnh đời khốn khó lại với nhau của Kim Lân không chỉ đem tới những thay đổi về vị trí trong gia đình mà còn mang tới những thay đổi về ý thức bổn phận, trách nhiệm trong anh.

Nhà văn Nguyễn Khải đọc chữ nghĩa Kim Lân rồi cất lời tán thưởng gọi ông là “thần viết” một phần bởi bút lực Kim Lân “sâu lắng, cẩn trọng, tỉ mẩn, luôn luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm, tâm trạng của từng con người, từng số phận riêng để từ đó góp một tiếng nói riêng vào trang sử chung về tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam, của văn học Việt Nam hiện đại”. Diễn biến tâm trạng anh cu Tràng trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ là một sự cẩn trọng như thế trong ngòi bút Kim Lân.

Trang tâm trạng của Tràng vào buổi sáng hôm sau biến ảo diệu kì, phong phú những cảm xúc. Trên hành trình của sự đổi thay ấy, người ta thấy điểm khởi đầu tâm trạng trong anh rơi vào nốt ngân của niềm hạnh phúc. Nhà ngôn từ đã thật tỉ mĩ cắt nghĩa cho độc giả thấy niềm hạnh phúc thật đáng yêu ở chàng trai mới cưới – một sự sung sướng đến ngỡ ngàng, không dám tin việc mình có vợ là thật. Trở dậy sau giấc ngủ dài, Tràng thấy thật khoan khoái, dễ chịu: “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”.

Lạ lùng thay câu văn tự sự lại mang đậm cách gieo vần của thơ ca. Một loạt vần “ơ” bắt với nhau trong dòng cảm xúc rất thơ, rất người của Tràng. Những tưởng sự “êm ái” kia là do sự nghỉ ngơi mang đến, sự “lửng lơ” kia được tạo ra do chiêm bao từ cơn mê. Nhưng không đó là chất men say của tình yêu khiến anh lâng lâng, bồng bềnh trong hạnh phúc. Một cảm xúc thật khác lạ chưa từng xuất hiện trước đây trong y “nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Chất điện của tình yêu dường như khiến người ta rơi vào những thứ cảm xúc chẳng thể cắt nghĩa, nhưng không thể không thôi khao khát. Cảm xúc ấy phải chăng giống như Xuân Diệu từng bộc bạch:

“Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”

Tràng thấy mình hạnh phúc như đang ở trong mơ và không thể tin rằng nó có thực: “Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”. Ngẫm thử mới thấy việc Tràng có vợ đâu khác gì một giấc mơ. Câu chuyện nên vợ nên chồng của thị với Tràng tưởng đùa mà hóa thật, chuyện thật mà lại như đùa. Bởi xưa người ta muốn lấy vợ phải cần sính lễ và thủ tục cưới xin. Đến trong cảnh đói kém, nghèo nàn Dần được người ta rước về cũng có lấy hai mươi đồng bạc cưới và bữa cơm của hai bên gia đình. Vậy mà Tràng lại lấy vợ chỉ bởi một câu hò vu vơ, một lời tầm phơ tầm pháo và bốn bát bánh đúc.

Chuyện trọng đại của đời người nhưng diễn ra thật chóng vánh. Hai chữ “ngỡ ngàng” vì thế là một phát hiện rất tinh tế của “thần bút” Kim Lân. Thậm chí diễn đạt “ngỡ ngàng” ấy còn hoàn toàn hợp lí bởi một kẻ ngờ nghệch, “hơi dở” tưởng chừng “ế” nhưng lại có một người đàn bà chịu theo không về. Một dòng tâm trạng rất thật của Tràng, nhưng mang sức tố cáo mãnh mẽ hướng vào xã hội thực dân. Chính chúng đã gieo bao sự khổ cực, đói kém, bao gánh nặng của cơm áo khiến người nông dân không dám nghĩ tới hôn nhân, không dám tin vào hạnh phúc, dù hạnh phúc đang ở trong tầm tay.

Có được một vị trí mới trong gia đình giúp cho Tràng quan tâm hơn ngôi nhà mình. Y bỗng chợt nhận ra những thay đổi “mới mẻ, khác lạ” trong không gian sống của mình. Giống như Chí thấy cuộc đời ngoài kia tươi vui với “mái chèo đuổi cá”, với “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” sau bát cháo giàu tình thương của thị Nở, Tràng để ý tới “nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang… đã kín nước. Đống rác mùn… đã hót sạch”.

Nói về sự thay đổi ấy trong một lần trả lời phỏng vấn, Kim Lân chia sẻ “Cuộc sống thay đổi thực dù không nhiều với gia đình ấy”. Nhưng “một nếp sống khác bắt đầu xuất hiện”. Đó có phải chính là bàn tay săn sóc của mẹ và vợ y nên nhà cửa trở nên gọn gàng, ngăn nắp, không còn cần Tràng phải ngượng ngùng chữa cháy “Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!”. Cảnh vật thật ra vẫn vậy chỉ là ngày thường Tràng chẳng bao giờ để ý. Sáng hôm nay nhờ sự chuyển biến lớn lao trong nhận thức, anh cu Tràng không còn đó những vô tâm, hời hợt nữa. Đôi mắt anh giờ đang quan sát tỉ mẩn về thế giới xung quanh. Đó là sự thay đổi vượt bậc về cái nhìn của người đàn ông ấy.

Nếu xem “văn chương là lịch sử tâm trạng con người” thì cây bút Kim Lân đích thực sâu sắc trong muôn vàn “ý nghĩ” ấy. Nhà văn nhanh chóng để ống kính mình bắt kịp từng đổi thay của nhân vật trong cây đàn muôn điệu. Không chỉ để nhân vật của mình có những đổi mới về cách nhìn mà Kim Lân còn đem chất xúc tác “mới mẻ” về nhận thức trong chính nhân vật, làm lóe lên những dòng cảm xúc hạnh phúc trong anh. “Nếp sống” mới xuất hiện khiến Tràng cảm nhận được không khí đầm ấm, vui vẻ của gia đình mà “thấm thía cảm động”. Người đem tới làn gió ấy chính là thị.

Cô vợ đảm đang “quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. “Cái âm thanh ấy, ngày thường Tràng cũng nghe nhưng chưa bao giờ gợi cảm như thế. Người vợ mới muốn quét mạnh tay để tạo ra những âm thanh rộn rã khẳng định sự có mặt của mình trong ngôi nhà.” Và người mẹ của hắn đang “lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở”. Tất cả dường như muốn sửa sang cho sáng sủa căn nhà để mong chờ một tương lai tươi sáng hơn. Một khung cảnh bình dị nhưng khiến Tràng “thấm thía cảm động”. Phải chăng phải sống quá lâu trong sự trống vắng, trong toan tính về miếng ăn, trong cơ cực, tủi nhục khiến Tràng chưa bao giờ nghĩ về những hạnh phúc giản đơn như vậy. Nay có được hắn càng thấy nâng niu, trân trong trước dòng ánh sáng ấm áp trong cuộc đời.

Hạnh phúc tưởng chừng nhỏ bé kia nhưng lại mang đôi cánh cất cao cái hồn con người. Trên muôn nẻo tâm trạng, nhà cầm bút dõi theo từng bước chân nhân vật để rồi ông nhận thấy: anh cu Tràng từ ngõ hẻm trong thờ ơ, coi ngôi nhà như một chỗ ngủ tạm, trú chân nay bỗng bước lên con đường mênh mông của niềm “thương yêu gắn bó” với tổ ấm nhỏ của mình. Miêu tả ấn tượng trong Tràng về trạng thái tâm hồn ấy Kim Lân dùng hai chữ “lạ lùng”.

Hạnh phúc vốn là niềm mong ước, là trạng thái thường trực trong con người đặc biệt là hạnh phúc gia đình thân thuộc. Nhưng Tràng thấy “lạ lùng” bởi đó là thứ cảm giác chưa từng có. Thật tội nghiệp nhưng cũng thật đáng quý. Tội nghiệp cho kiếp người bị dìm trong bể đói, đáng quý trước biến đổi lớn lao trong con người Tràng. Giờ đây, y nhận thức được mình “đã có một gia đình” và “hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy”. Không phải chỉ “có vợ”, mà lần này, hắn có hẳn một “gia đình”. Chính người đàn bà theo không kia lại là sợi dây kết nối các thành viên trong gia đình và thị là một hạt nhân không thể thiếu để làm vẹn tròn hai tiếng thiêng liêng, gần gũi ấy.

Nói về vai trò của người vợ trong gia đình Andre Maurois khẳng định: “Không có gia đình, người đàn ông trở nên cô độc với toàn thế giới, run rẩy trong giá lạnh”. “Tôi sẵn sàng đánh đổi toàn bộ sự nghiệp nếu biết ở đâu đó trong ngôi nhà kia, có một người vợ luộn chờ tôi về ăn bữa tối”. Thế mới thấy tâm hồn Tràng đã nở hoa như thế nào từ khi gặp thị. Hắn biết chỉ nay mai thôi thị sẽ cùng hắn thổi vào thế giới kia đầy ắp những tiếng cười. Con cái của họ sẽ ra đời, không chỉ là người ruột rà nối dõi của gia đình mà sẽ là niềm vui tuổi già của bà mẹ già và là động lực sống lớn lao cho vợ chồng Tràng. Họ sẽ dựng xây “tổ ấm che mưa che nắng” trong ngôi nhà ấy. Ngôi nhà giờ không phải là nơi chỉ có hai mẹ con hắn với cuộc sống mưu sinh sáng đến tối không hề gặp mặt.

Mà bây nó là nơi quây quần, nơi nương tựa và là nơi để trở về sau bao bão táp, phong ba của cuộc đời. Ngôi nhà hắn đã sống bao ngày, hôm nay khi nhìn nó qua lăng kính tình yêu Tràng thấy thật thiêng liêng. Phải chăng như Chế Lan Viên từng viết “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Tại mảnh đất mẹ con anh chọn để tha hương, Tràng cùng mẹ và người đàn bà sẽ có một khởi đầu mới. Niềm ao ước về cuộc sống tốt đẹp hơn khiến cho y có “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.

George Sand từng tâm sự: “Thiên hướng của người nghệ sĩ là đưa ánh sáng vào trái tim con người”. Nhận thức được “văn chương là một thứ đạo làm người” Kim Lân đã chiếu nguồn “ánh sáng” rọi vào những kiếp nghiệt ngã trong tác phẩm của mình. Dù đặt “nhân vật kề nanh vuốt của cái chết”, nhà văn vẫn tỉnh táo để kéo con người khỏi sa vào vũng lầy nhơ nhuốc. Ông vẫn miệt mài vun xới vườn ươm tâm hồn nhân vật. Anh cu Tràng ngờ nghệch trong buổi sáng hôm sau bỗng vươn vai trở thành người đàn ông có trách nhiệm với gia đình.

Anh ý thức được những bổn phận và nghĩa vụ của người trụ cột gia đình. Là một người con, một người chồng và sau này sẽ còn là một người cha, Tràng biết “hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. “Hắn thấy hắn nên người”. Hai chữ “nên người” đánh dấu cả sự trưởng thành trong suy nghĩ của Tràng. Nếu trước đây Tràng chỉ là một anh con trai to về thể xác, bé về tâm hồn thì sau sự kiến lấy vợ Tràng không chỉ có vẻ chững chạc của người đàn ông mà còn có cái chín chắn trong suy nghĩ. Anh nhận thức được trọng trách mình phải gánh vác, ý thức được mình sẽ cần phải làm gì.

Và chắc chắn Tràng hơn ai hết sẽ trăn trở xem làm sao để mang tới sự ổn định, no ấm cho gia đình mình. Ý nghĩ ấy ngay lập tức đã được cụ thể hóa thành hành động cụ thể “hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa căn nhà”. Đàn ông nói là làm. Ấy mấy là bậc nam nhân. Chỉ hai chữ “xăm xăm” thôi nhưng thợ chữ tạc vào bao trách nhiệm, bao yêu thương y dành cho gia đình. Sự sốt sắng, sự cố gắng và phấn đấu ấy rồi mai này sẽ được đền đáp xứng đáng. Vậy là Tràng đã trưởng thành, trở thành người đàn ông chèo chống gia đình, có ý thức, trách nhiệm, luôn muốn làm tròn bổn phận của mình.

Trong cuốn “Từ điển văn học” tác giả Trần Hữu Tá có khái quát về truyện ngắn sau Cách mạng của Kim Lân: ông “vẫn tiếp tục viết về làng quê Việt Nam… về những cảnh tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi đời của họ nhờ Cách mạng”. Tại đoạn kết truyện, văn nhân ghi nhận cảm xúc “tiếc rẻ vẩn vơ” của Tràng khi nghe vợ kể chuyện người ta đi phá kho thóc Nhật cùng sự vận động tích cực của niềm tin về một ngày mai tươi sáng trong anh.

Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên dồn dập, Tràng “thần mặt ra nghĩ ngợi”, đây là điều hiếm có đối với anh xưa nay. Trong ý nghĩ của Tràng vụt hiện ra cảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” để cướp kho thóc Nhật và “đằng trước là lá cờ đỏ to lắm”. Tràng nhớ tới cảnh ấy mà “lòng ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ”. Tâm trạng anh bống chốc trở nên xao động. “Cái ao đời phẳng lặng” nơi anh như vừa được ném vào viên sỏi khiến nó sóng sánh cực mạnh, soi xuống thấu đáy, lộ ra khát khao mãnh liệt đang trào dâng trong Tràng. “Đám người đói và lá cờ đỏ” cứ đeo bám dai dẳng trong óc anh. Rồi đây anh sẽ làm gì với gia đình nhỏ bé mà anh vừa khởi sự? Ba con người ấy sẽ tồn tại như thế nào? Họ sẽ cùng nhau vượt qua dịch đói ra sao?… Tác giả không đưa ra bất kì một giải pháp nào mà để nhân vật tự lo liệu lấy.

Đồng thời ông cũng mở ra những liên tưởng kì thú để người đọc tự lấp đầy trang trắng. Nhìn về chiều biến thiên tích cực phải chăng Tràng đã thức tỉnh, và ngộ ra chân giá trị của sự sống: giữa khoảng cách cận kề của cái đói và cái chết, giữa mơ hồ, mong manh của hạnh phúc, người ta chỉ có thể nắm giữ được tình người và mạng sống khi tìm ra chân lí của cuộc đời. Và ánh sáng ấy chỉ có ở con đường Cách mạng, lối thoát ấy chỉ hiện ra ở cánh cửa của Đảng. Và một ngày nào đó chính Tràng sẽ hòa mình vào đám người đang đói, được giác ngộ đi theo Việt Minh để tìm về tương lai tươi sáng hơn.

“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học”. Nhờ có “lớp vỏ” hình thức mà văn chương của Kim Lân nói chung và bức tranh tâm trạng anh cu Tràng nói riêng cứ tự nhiên như thế len lỏi vào tâm hồn con người. Trước tiên phải kể đến biệt tài xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân. Văn nhân đặt nhân vật của mình vào tình huống nhặt vợ éo le trong đói nghèo để làm “đòn bẩy” nâng khát khao hạnh phúc, sự chuyển biến trong ý thức, hành động của anh cu Tràng nhằm hướng về ngày mai tươi sáng.

Đồng thời nhờ duyên nợ với thôn quê và những con người lam lũ đói nghèo đã giúp Kim Lân khắc họa thành công tâm trạng anh cu Tràng trong buổi sáng hôm sau với ngôn ngữ văn chương “ròng ròng sự sống”, mang đậm hơi thở làng quê nhưng lại chính xác trong từng vị trí. Người đọc như cùng hồi sinh với nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau qua giọng đệm “trầm sáng như giọng cổ tích” với nét giọng chủ đạo là yêu thương, ngợi ca để cất cao niềm khát vọng trong người nông dân nghèo khổ.

Đặc biệt “thần bút” tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc xây dựng nhân vật của mình “chính mình là người khác, mình hóa thân vào người khác” để lách sâu vào dòng suy nghĩ lâng lâng vì hạnh phúc cùng những biến đổi trong hành động của nhân vật. Nhờ đó những nốt ngân trong tâm trạng Tràng cứ rung lên từng âm rõ rệt xoáy sâu vào lòng người vùng trời sự sống.

Trên chặng đường theo chân Tràng, tại điểm dừng trong buổi sáng hôm sau, người đọc xúc động vì những cảm xúc rất người ở y. Từ trang tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên có vợ, người quan sát thấy rõ sự thay đổi ngoạn mục ở nhân vật này. Nơi “ngưỡng cửa của khốn khó”, Tràng đã “chứng tỏ được số phận và tích cách của mình” – một con người dũng cảm trong khó khăn. Anh từ một “đứa trẻ” vô tâm trở thành một người đàn ông trưởng thành trong suy nghĩ.

Từ một con người “hơi dở” chỉ biết cười ngặt nghẽo trước bọn trẻ trong xóm nhỏ nay biết mở rộng trái tim để cảm thông và thương xót cho người khác. Vốn là người con ngờ nghệch khi nô đùa với lũ trẻ, chẳng mặc đến cửa nhà nay Tràng đã biết quan tâm và có trách nhiệm với gia đình. Không chỉ vậy anh còn mang bước chuyển đổi lớn lao của thời đại mới – thời đại cách mạng. Tràng mở đầu truyện ngắn “Vợ nhặt” bằng dáng đi “ngật ngưỡng” trên con đường về xóm chợ xác xơ của những kiếp ngụ cư tội nghiệp trong buổi chiều chạng vạng và cũng kết thúc thiên truyện ấy vào buổi sớm mai với hình ảnh mới lạ về đoàn người đói vùng lên dưới lá cờ đỏ tung bay phấp phới.

Kim Lân đã biến Tràng từ một người đi bên lề của cuộc đấu tranh đến những bước chân chập chững nghĩ suy về con đường cách mạng và những hình dung đẹp đẽ về một cuộc sống mới ổn định, no ấm. Đồng thời ngòi bút Kim Lân cũng “đi tới tận cùng những nỗi niềm tâm trạng” để cắt nghĩa sự thay đổi đáng ngợi ca này của nhân vật. Nhìn lại hành trình “nhặt vợ” của Tràng và đặc biệt là những suy nghĩ của anh trong buổi sáng hôm sau người ta thầm tán thưởng liều thuốc kì diệu của tình yêu. Chính tổ ấm hạnh phúc đã tác động tới trái tim vốn chai sạn ở Tràng, đem tới niềm tin mới cho người đàn ông đang đứng trên bờ vực của cái chết.

Từ sự “lớn dậy” ấy của anh, ngòi bút nhân đạo Kim Lân muốn dành những lời có cánh cho người lao động nghèo: “Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm, để mà vui, mà hi vọng… Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”.

Dòng diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng hôm sau là cả quá trình Kim Lân cất công vực dậy cái đẹp từ chốn cùng tăm tối. Trong bức tranh tâm trạng ấy độc giả không chỉ nhìn thấy cái tài năng thần tình của người cầm bút mà còn thấy trân quý biết bao tấm lòng mang nặng với đất với người nơi nông thôn nghèo khó. Cuộc sống có nhiều nỗi niềm nặng nề của cảnh con riêng, phận ngụ cư giúp trái tim nhân đạo Kim Lân thấu hiểu và đồng cảm hơn ai hết tình cảnh khốn khổ, đói nghèo của đồng bào ta, khiến văn nhân quặn thắt khi họ chẳng dám tin hạnh phúc đang hiện hữu quanh mình.

Và cũng chính vì thế ông đã dốc sức để cắt nghĩa những nỗi niềm trong họ để rồi vui mừng reo lên khi nhìn thấy trong hành trình cảm xúc của anh cu Tràng vào buổi sáng hôm sau một vùng sáng đẹp – đại diện cho hình tượng người nông dân chất phác, thật thà dù có kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn thèm khát sự sống, vẫn hướng về tương lai. Nhà văn thể hiện niềm tin yêu vào những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đồng thời qua những suy nghĩ của Tràng ở cuối truyện, văn nhân muốn hướng con người tới ánh sáng đổi đời, tới con đường Cách mạng tuy khí thế của nó vẫn còn hơi yếu ớt.

Nhưng đó cũng là điều đáng trân trọng ở Kim Lân khi ông không để nhân vật của mình chết trên ngưỡng cửa của sự trở về như trong cái nhìn bế tắc của Nam Cao. Và qua những thay đổi rất người ở Tràng, tôi cũng muốn mượn mấy câu văn của Nguyễn Khải để nói tới bức thông điệp mà Kim Lân gửi gắm: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”.

Kim Lân bảo: “Tôi đến với văn học, ban đầu là từ sự say mê, ham thích. Những truyện ngắn đầu tay của tôi như “Đứa con người vợ lẽ”, “Người kép già”, “Cô Vịa” là những truyện ngắn viết về đề tài xã hội. Đó là những câu chuyện về bản thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong làng xóm của tôi”. Sự say mê với thế giới đậm mùi khói bếp và rơm rạ quanh mình khiến cho những áng văn Kim Lân sao chân thực, gần gũi mà xúc động đến lạ kì.

Từng trang sách đong đầy bóng dáng đồng bằng Bắc Bộ nơi ông không chỉ có cái nhìn thấu đáo về hiện thực mà còn mang tấm lòng của một nhà văn suốt đời đi tìm cái cao thượng trong mỗi một con người. Những nghiêm túc và cẩn trọng của Kim Lân trong nghề khiến lớp bụi thời gian chẳng thể tìm được khe hở nào để lọt qua, để xóa nhòa. Ngược lại những kiệt tác của văn nhân cứ ngày một trong, một sáng và đẹp hơn dưới tia nắng cuộc đời.

Số 6: Phân tích nhân vật Tràng vào buổi sáng hôm sau

Kim Lân là cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trong cả hai giai đoạn sáng tác ( trước và sau Cách mạng tháng Tám ), tuy viết không nhiều nhưng gia đoạn nào ông cũng có những tác phẩm hay. Với tấm lòng của một người vốn là con để của đồng ruộng, Kim Lân đã viết về nông thôn và người nông dân bằng tất cả sự cảm thông và yêu thương chân thành. Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn. Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, viết về đề tài nạn đói năm Ất Dậu 1945, kể lại chuyện một thanh niên nghèo nhặt vợ giữa lúc đói quay đói quắt .

Nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt đã khẳng định một phát hiện của Kim Lân về người lao động: Dù sống trong hoàn cảnh nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Điều đó được thể hiện rõ qua đoạn trích: Sáng hôm sau , mặt trời lên bằng con sào … tu sửa lại căn nhà. ” Sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện, đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

Tác phẩm lấy bối cảnh xóm ngụ cư vào đỉnh điểm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào. Xóm ngụ cư như một bãi tha ma , chẳng còn bóng dáng của sự sống. Trong hoàn cảnh ấy, Tràng – một thanh niên nghèo, kéo xe bò thu nuôi mình và nuôi mẹ già – lại lấy vợ. Việc Tràng nhặt vợ về đã làm nổi bật khao khát hạnh phúc , yêu thương của con người ngày đói. Trong hoàn cảnh đói khát, tăm tối, khi đang cận kề bên miệng vực của cái chết ấy, người lao động Việt Nam vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn lạc quan hướng tới tương lai. Điều này được thể hiện rất rõ qua tâm trạng của nhân vật Tràng vào sáng hôm sau, sau khi Tràng nhặt vợ về.

“ Sáng hôm sau , mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra ”. Không phải là nỗi lo âu khi đối diện với thực tại đen tối trước mặt. Không phải là cảm giác hối hận khi đã nhặt vợ về giữa những ngày đói khát. Ta chỉ thấy tâm trạng nhẹ nhõm, khoan khoái của một người đàn ông đang tràn ngập niềm hạnh phúc lứa đôi. Tràng đang hạnh phúc, hạnh phúc lớn và đột ngột đến ngỡ ngàng, đến không thể tin được: “ Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải ” Nhà cứa sạch sẽ, tinh tươm : “ Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái , và bỗng vừa chợt nhận ra , xung quanh.

Càng ngỡ ngàng hơn khi Tràng nhận thấy xung quanh khác lạ, mới mẻ, cửa nhà nhà mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vất ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô ở dưới gốc cây đã kín nước đầy ăm ắp . Đống rác màn tung hoành ngay lối đi đã được hốt đi. Niềm vui dâng lên trong lòng. Toàn là những dấu hiệu vui, những dấu hiệu về một ngày mai tươi sáng hơn. Nếu chỉ nghĩ đến sự sống chết trước mặt, nếu không có niềm tin rằng mình sẽ thoát khỏi cái đói, nếu không khao khát một cuộc sống khấm khá hơn thì họ sẽ để mặc cửa nhà bừa bộn, nhếch nhác.

Một cảnh tượng hết sức bình dị hiện ra trước mắt Tràng: “ Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất”. Hai người phụ nữ của cuộc đời hắn đang cặm cụi quét tước, thu dọn cửa nhà. “Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại ất thấm thía cảm động. Hạnh phúc, quả thực, đến từ những điều rất nhỏ ”. Niềm vui, niềm hạnh phúc đã đem đến sự đổi thay kì diệu trong tâm hồn Tràng:  “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Nhà không là sự vật hữu hình, cụ thể, nhà còn là gia đình, là tổ ấm. Từ giờ trở đi “Hắn đã có một gia đình.

Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng – nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Chỉ trong một đoạn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến vui sướng tột cùng khi biết mình đã có gia đình. Một niềm vui thật cảm động, cả hiện thực như xen lẫn giấc mơ. Niềm vui như nhân đội, bởi bên cạnh hạnh phúc lứa đôi, Tràng còn có thêm một niềm hạnh phúc to lớn nữa – hạnh phúc gia đình. Anh chàng cục mịch, khù khờ thường ngày vụt trở nên sâu sắc. Hạnh phúc như khiến con người ta trưởng thành hơn trong cảm xúc.

Hạnh phúc còn khiến con người trưởng thành trong nhận thức. Tràng ý thức được bổn phận, trách nhiệm của người đàn ông với gia đình. Tràng nhận thấy ý nghĩa của cuộc đời chính là yêu thương, gắn bó và chăm lo cho những người thân. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân , hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.

Chi tiết hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà ” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây ngô sang nhận thức. Rõ ràng, khát vọng hạnh phúc ở con người lớn hơn cái đói và cái chết. Đó là lí do dẫn đến cái kết“. Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ” của câu chuyện.

Nhân vật Tràng trong đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung là một phát hiện của nhà văn Kim Lân về người lao động: Dù sống trong hoàn cảnh nào, dù đang ở trong vực thẳm của sự đói khát, họ vẫn luôn khát khao sống, khát khao hạnh phúc. Khát khao ấy mạnh hơn cái đói, cái chết. Phát hiện này làm nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm.

So với những tác phẩm viết về người lao động trước Cách mạng, Vợ nhặt mang đến một giá trị mới mẻ hơn. Nhà văn không chỉ thấy nỗi khổ của con người và vẻ đẹp tâm hồn của họ mà còn nhìn thấy tương lai và con đường sống tất yếu của họ. Cho dù đang đứng , lao động Việt Nam vẫn tràn đầy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, vẫn tin trường, tin miệng vực của cái đói, cái chết, cho dù bị dồn đuối đến bước đường cùng thì người dân vẫn tin vào một tương lai tươi sáng hơn.

Nhà văn Kim Lân đã nói: “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chi nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn sống, sống cho ra con người.”

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 7: Phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau

Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Kim Lân. Truyện đã xây dựng được hình ảnh nhân vật Tràng, với những nét diễn biến tâm lí sâu sắc, đặc biệt là trong đoạn sáng hôm sau, khi Tràng có vợ.

Tràng vốn là một người dân nghèo khổ sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Một ngày nọ, trên đường kéo xe bò vào dốc tỉnh, Tràng tình cờ gặp gỡ với Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Khi về đến nhà, bà mẹ của Tràng ban đầu rất ngạc nhiên, sau đó là đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu với một sự thương cảm sâu sắc. Sáng hôm sau, Tràng bỗng cảm thấy mình đổi khác.

Kim Lân đã khéo léo miêu tả diễn biến hình ảnh Tràng trong sáng hôm sau. Anh cảm thấy: “Trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Điều đó cho thấy rằng bản thân Tràng cũng không tin được chuyện mình có vợ là sự thật. Chỉ đến khi nhìn xung quanh, nhận thấy mọi thứ thay đổi. Từ nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, gọn gàng.

Quần áo mọi khi vẫn vứt một chỗ nay đã được đem ra phơi. Hai cái ang nước cũng được đổ đầy. Đống rác cũng được dọn sạch. Căn nhà khi chỉ có hai mẹ con Tràng thì lụp xụp, thảm hại. Dường như có bàn tay của người phụ nữ đã thay đổi hoàn toàn.

Và rồi cảnh tượng đẹp đẽ nhất hiện ra trước mắt Tràng. Ở ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Còn vợ anh thì đang quét lại cái sân. Nhìn thấy cảnh tượng đó, Tràng mới nhận ra rằng chuyện mình có vợ là thật. Và từ đó, nhận thức của anh cũng hoàn toàn thay đổi.

Cho đến bữa ăn đầu tiên, điều đó lại tiếp tục được thể hiện. Tràng đã nhận ra sự thay đổi trong hình ảnh người vợ nhặt. Thị không còn cái vẻ đanh đá trước đó, mà là người đàn bà hiền hậu đúng mực. Anh nhận thấy khuôn mặt bủng beo của mẹ trở nên tươi tỉnh hơn, khác hẳn với ngày thường. Dù bữa ăn ngày đói trông thật thảm hại, nhưng gia đình Tràng ăn rất ngon miệng. Trong bữa ăn, khi nghe mẹ tính chuyện tương lai, Tràng chỉ vâng.

Nhưng tiếng vâng lại thể hiện được sự hòa hợp, ấm cúng chưa từng có được của gia đình Tràng. Đặc biệt đến cuối cùng, khi nghe cô vợ nhặt nhắc đến những người đi phá kho thóc Nhật, trong óc của Tràng hiện ra hình ảnh người dân đi phá kho và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Đó giống như là niềm tin vào một tương lai tươi sáng với việc tìm đến ánh sáng của cách mạng.

Như vậy, nhà văn Kim Lân đã khắc họa hình ảnh nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau khi có vợ với những nét diễn biến chân thực. Có thể thấy, người vợ nhặt đã khiến Tràng thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp.

Số 8: Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng sáng hôm sau

Vợ nhặt của Kim Lân được bắt nguồn từ hiện thực nạn đói năm 1945. Thế nhưng, cái nhà văn muốn “gieo” vào lòng người đọc không phải ám ảnh đói khát, chết chóc mà là ánh sáng của tình người, giống như Hoài Việt từng nhận định: “Nhà văn Kim Lân dùng Vợ nhặt để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”. Sự thay đổi của các nhân vật trong truyện, đặc biệt là anh Tràng sáng hôm sau đã làm nổi bật lên những “tia sáng” ấm lòng ấy.

Trong truyện Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân đã xây dựng được tình huống “nhặt vợ” đầy lạ lùng của anh cu Tràng. Anh Tràng là người đàn ông nghèo khổ lại xấu xí, ngay khi nạn đói hoành hành dữ dội nhất, anh lại lấy được vợ, một người vợ theo không. Trong tình cảnh như vậy chính Tràng cũng phải ngạc nhiên “Ra là hắn đã có vợ rồi đấy ư?”, tuy nhiên sự kiện bất ngờ nhặt được vợ đã làm thay đổi cuộc đời và số phận của Tràng. Ngay trong buổi sáng hôm sau, Tràng đã có những thay đổi lớn cả về suy nghĩ và nhận thức, Tràng như trở thành một con người khác, con người trưởng thành, trụ cột của gia đình.

Buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Tràng cảm thấy “trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Trong niềm vui sướng lâng lâng ấy, Tràng đã dần nhận ra những thay đổi của quang cảnh xung quanh, chợt nhận ra “xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ”. Nhà cửa được thu vén gọn gàng, sân vườn được quét tước sạch sẽ, trong giờ phút có tính chất bước ngoặt cuộc đời ấy, con người ta bỗng thấy mình trưởng thành.

Tràng cảm thấy yêu hơn ngôi nhà của mình, nhận thức được trách nhiệm của bản thân với ngôi nhà ấy “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”, hắn thấy gắn bó yêu thương với căn nhà rúm ró, xiêu vẹo ấy và chợt nhận ra dù nhà có nghèo rách thế nào vẫn là tổ ấm che mưa, che nắng, hắn cho rằng bản thân hắn phải có trách nhiệm với người thân là mẹ hắn – bà cụ Tứ và người vợ đã theo không hắn về. Hắn nghĩ rồi sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái, cùng nhau làm ăn vun vén cho hạnh phúc, “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”, “bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”, chính những suy nghĩ ấy giúp hắn hiểu ra bây giờ hắn mới nên người.

Bữa cơm đầu tiên sau ngày có nàng dâu thiếu thốn đến thê thảm “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo”. Mà gọi là cháo cho sang thực chất thì “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn”, rồi nàng dâu lại được thiết đãi món “chè khoán” cháo cám. Trong bữa cơm ấy không chỉ Tràng mà cả vợ Tràng và mẹ Tràng đều có một nỗi tủi hờn len lỏi trong tâm trí khiến cho không ai nói câu gì, ai cũng cắm đầu ăn cho xong, tránh nhìn mặt nhau.

Sau khi có vợ, cuộc sống của mẹ con Tràng vẫn bị cái đói, cái khát bủa vây. Sau câu chuyện của người vợ nhặt về việc người dân mạn ngược phá kho thóc Nhật, chia cho người đói, Tràng đã thay đổi suy nghĩ và cái nhìn của mình về cách mạng. Trước đây đã có lần Tràng gặp đám người đi trên đê sộp, đi sau lá cờ đỏ to lắm, Tràng nghe người ta nói họ là Việt Minh đấy, cướp thóc đấy. Mà bản thân Tràng chưa hiểu gì đã sợ quá phải xe tắt cánh đồng, đi lối khác để tránh gặp Việt Minh.

Hình ảnh lá cờ đỏ cứ ám ảnh mãi trong đầu óc Tràng nghĩa là Tràng đã bắt đầu giác ngộ cách mạng, bắt đầu có những hiểu biết và suy giải được vì sao dân mình đói khổ, biết phải đứng lên như thế nào để có thể giành lại miếng ăn, giành lại sự sống. Chính nỗi ám ảnh của đám người đi trên đê sộp cùng lá cờ đỏ sẽ đưa Tràng đi theo con đường cách mạng, không chỉ giúp cho bản thân Tràng mà giúp cho cả ba con người trong gia đình Tràng vươn lên, thay đổi cuộc đời.

Quả thực, ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân vô cùng tinh tế, ông đã miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau chuyển biến theo một chiều hướng tích cực. Bên cạnh đó, qua chi tiết này, tác giả còn muốn đọc giả hiểu một điều rằng: chính niềm vui và niềm tin vào cuộc sống ngày mai sẽ hướng con người ta vào những hành động thiết thực, từng bước tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 9: Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng sáng hôm sau

Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân được rút ra từ tập Con chó xấu xí. Thông qua tình huống nhặt vợ lạ lùng, nhà văn im Lân đã bộc lộ được quan niệm nhân đạo sâu sắc khi phát hiện ra vẻ đẹp của con người ngay trong sự túng đói quay quắt, ám ảnh. Nhà văn đã chú ý miêu tả đến tả tâm trạng và những cảm nhận của Tràng trong buổi sáng hôm sau để thể hiện sức mạnh của tình thương, của hạnh phúc có thể làm đổi thay con người

Trong buổi sáng hôm sau, anh Tràng đã có những cảm xúc mới mẻ cùng những cảm nhận lần đầu có trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong giấc mơ đi ra. Hạnh phúc đến bất ngờ khiến Tràng vẫn chưa hết bất ngờ. Từ những đổi thay trong cảm xúc, Tràng nhận ra mọi thứ xung quanh cũng đổi khác có cái gì vừa thay đổi mới lạ. Khung cảnh nhà cửa, vườn tược gọn gàng, sạch sẽ đã mang đến luồng sinh khí mới xua đi cái ám ảnh đói khát đang bủa vây Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khoum mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc cây ổi đã kín nước đầy ăm ắp.

Nhìn cảnh mẹ và vợ đang lúi húi dọn dẹp Tràng, hình ảnh bình dị nhưng lại khiến cho Tràng xúc động, Tràng thấy cuộc sống của mình thau đổi hẳn, những suy nghĩ của hắn cũng trở nên trưởng thành, chín chắn hơn, Tràng cảm thấy mình phải có trách nhiệm với vợ con, với gia đình nhỏ của mình Bỗng nhiên ắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn có một gia đùn. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.

Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng. Qua hình ảnh ấy đã mang cho người đọc một niềm tin rằng một ngày nào đó anh Tràng sẽ đi theo cách mạng, theo đoàn người đói để đứng lên đấu tranh, đổi thay cuộc sống.

Sự thay đổi của nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau vợ về nhà đã tiếp nối mạch diễn biến của câu chuyện, đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật của mình cũng là sự trân trọng sâu sắc với những người dân nghèo khổ nhưng có khát khao sống mạnh mẽ.

Số 10: Phân tích nhân vật Tràng trong buổi sáng hôm sau

Kho tàng văn học Việt Nam đã ghi dấu ấn của bao nhà văn, thi sĩ. Một trong số đó phải nhắc tới nhà văn Kim Lân. Với đề tài người nông dân, ông đã sáng tác ra nhiều tác phẩm gây được tiếng vang lớn. Một trong số đó phải kể tới truyện ngắn Vợ nhặt và nhân vật Tràng. Hình ảnh của Tràng được khắc họa rõ nét nhất lúc Tràng lấy cô thị về làm vợ.

Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò thuê để nuôi thân và nuôi mẹ già. Chính vì thế, anh bị mọi người coi khinh, chẳng mấy người nào thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay trêu ghẹo lúc anh ta đi làm về. Anh có ngoại hình xấu xí, thô kệch, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái khuôn mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý tưởng vừa lý thú vừa dữ tợn… Đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch.

Tuy nhiên, anh chàng lại là người có tấm lòng nhân hậu, phóng khoáng. Giữa cái nạn đói kinh khủng đó, anh đã ko suy tính nhưng mà đón cô thị về làm vợ, nuôi thêm một mồm ăn. Nhưng cũng chính vì có vợ nhưng mà tâm lí của Tràng cũng có nhiều thay đổi.

Buổi sáng hôm sau lúc Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi. Thú vui lâng lâng trong người lúc hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinh tươm. Mẹ Tràng đang nhổ cỏ vườn. Vợ đang quét sân tiếng thanh hao vang lên đều đều. Đột nhiên, anh cảm thấy mến thương gắn bó với cái nhà của mình một cách lạ lùng. Thế là từ đây Tràng đã có một gia đình, sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây.

Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng anh. Một nguồn sung sướng và phấn khởi dâng lên trong lòng Tràng. Lúc này, Tràng cũng biết trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Anh cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham gia vào một phần giúp tu sửa căn nhà. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi nhưng mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất thần, bỡ ngỡ cho tới hạnh phúc tột cùng lúc biết mình đã có gia đình.

Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ bay phơi phới hiện lên trong đầu Tràng đã gợi ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Tràng. Qua hình ảnh đó đã mang cho người đọc một niềm tin rằng một ngày nào đó anh Tràng sẽ đi theo cách mệnh, theo đoàn người đói để đứng lên đấu tranh, thay đổi cuộc sống.

Nhiều năm tháng qua đi nhưng hình ảnh anh Tràng với những đức tính tốt đẹp vẫn gây ấn tượng thâm thúy trong lòng nhiều thế hệ độc giả. Đồng thời, nhà văn Kim Lân cùng tác phẩm Vợ nhặt đã góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam giàu đẹp và ý nghĩa hơn.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu phân tích nhân vật Tràng sáng hôm sau chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.