Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất

Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất
Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất
4.8/5 - (13 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của tác giả Nguyễn Minh Châu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Dàn ý phân tích nhân vật Phùng

I. Mở bài

Giới thiệu tác phẩm:  Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm điển hình thể hiện sự tinh anh, tài năng của người mở đường Nguyễn Minh Châu. Trong truyện ngắn này, mọi tư tưởng, quan niệm của nhà văn được kí thác thông qua nhân vật Phùng.

II. Thân bài

– Phùng là người nghệ sĩ nhiếp ảnh, vì được giao nhiệm vụ chụp bộ ảnh Tết nên Phùng đã về vùng biển miền Trung

–  Sau rất nhiều ngày tìm kiếm, chụp nhiều kiểu ảnh vùng biển cuối cùng anh Phùng cũng phát hiện ra khoảnh khắc trời cho với khung cảnh biển tuyệt bích như bức tranh cổ.

– trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ấy, anh Phùng bàng hoàng phát hiện ra sự thật tàn nhẫn trong một gia đình nguời đàn bà hàng chài.

–  Khi chứng kiến sự bất công, bạo tàn khi người chồng đánh đập người vợ dã man, anh Phùng đã ném máy ảnh – phương tiện tác nghiệp của người nghệ sĩ xuống đất để lao vào ngăn cản người đàn ông.

– Để giúp đỡ người đàn bà bất hạnh, dù đã chụp xong bộ ảnh nhưng anh Phùng vẫn quyết định ở lại để cùng Đẩu giúp người đàn bà li hôn với chồng

–  khi nghe người đàn bà ấy kể về câu chuyện của gia đình mình thì anh lại cảm thông, xót xa cho số phận của người đàn bà.

– Từ đây anh Phùng hiểu ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa nghệ thuật và người nghệ sĩ, nếu nghệ thuật mà tách rời với cuộc sống thì nghệ thuật ấy không có giá trị.

III. Kết bài

Thông qua nhân vật Phùng, tác giả Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm bao thông điệp về nghệ thuật và cuộc đời. Đây cũng là giá trị lớn lao làm nên vẻ đẹp của truyện ngắn này, đó không chỉ là giá trị hiện thực về cuộc sống nghèo khổ của con người, về chất nhân văn khi đồng cảm, bênh vực con người mà còn lại tuyên ngôn về nghệ thuật cho cả nền văn học khi bước vào giai đoạn đổi mới.

===========>Bài Viết Liên Quan Khác<===========

Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất

Số 1: Phân tích nhân vật Phùng

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn xuôi nổi tiếng của dân tộc Việt Nam 1945, mỗi tác phẩm của ông đều thể hiện một quan điểm nhân sinh và có triết lí sống sâu sắc. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thông qua cái nhìn của nhiếp ảnh Phùng đã xây dựng được một tình huống truyện bất ngờ và chứa đựng nhiều nghịch lý.

Tình huống truyện thông qua cách nhìn nhận của nhân vật nhiếp ảnh gia Phùng. Phùng là một người nghệ sĩ có tâm có tài với nghề theo yêu cầu của cấp trên anh đi công tác vùng biển là chiến trường xưa của mình để chụp những bức ảnh làm lịch. Chính trong chuyến đi này nhân vật Phùng đã nhận thức được những điều mà trước đây anh chưa nhận thức được. Cảm xúc của nhân vật Phùng thể hiện thông qua cái nhìn của anh về số phận của người đàn bà và những con người lao động nơi đây, thể hiện một cái nhìn nhân văn sâu.

Trước hết, nhân vật Phùng là người có một tâm hồn nghệ sĩ, sau buổi sáng anh đã chụp một bức tranh vô cùng đẹp đẽ, thể hiện cảnh đắt trời cho, một tác phẩm nghệ thuật mà Phùng tìm kiếm đã lâu. Hình ảnh nắng ban mai, với chiếc thuyền in một nét mơ hồ, bầu trời sương mù trắng pha chút hồng hồng do mặt trời chiếu vào, thật sự là một bức ảnh tuyệt vời.

Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, Phùng cảm nhận được bức tranh kia tựa danh họa thời cổ, rồi anh cũng cảm thấy niềm hạnh phúc ngập tràn, bối rối, trái tim như có một ai đó thắt chặt vào. Phùng thấy được cái khoảnh khắc trong tâm ngần của tâm hồn và cảm nhận được sự chân thiện mỹ của bức tranh toát ra. Anh thấy trong tâm hồn mình được thanh lọc, trở nên tinh khiết và trong trẻo vô cùng.

Từ đó, anh nhận thức được rằng chính bản thân cái đẹp cũng là điều vô cùng nhân văn là đạo đức. Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, Phùng đã cho người đọc một quan niệm mới về cái đẹp. Đó chính là việc cái đẹp có thể thành lọc tâm hồn của một con người, hướng con người tới những điều hoàn mỹ, tốt đẹp hơn.

Nhân vật Phùng không chỉ là người có tâm hồn nghệ sĩ mà còn là người có tâm hồn vô cùng nhân văn, lương thiện và tốt bụng. Phùng đồng cảm với những số phận con người gặp bất hạnh trong cuộc sống, bởi trong con người anh có đức tính của một người chiến sĩ.

Chính từ bức ảnh đẹp đẽ chiếc thuyền ngoài xa kia, Phùng đã bước ra và gặp một cặp vợ chồng bất hạnh. Một người đàn bà với nửa thân áo dưới ướt sũng do ngâm nước, đôi mắt thâm quần, trũng sâu vì thức đêm, thân hình của người đàn bà thô kệch vạm vỡ như những người đàn bà vùng biển khác. Một người đàn ông vô cùng dữ tợn luôn miệng chửi bới nhiếc móc vợ, anh ta còn dùng chiếc dây lưng của mình đánh vợ không thương tiếc. Một cuộc sống nhọc nhằn lam lũ xảy ra trước mắt Phùng. Sự cam chịu của người phụ nữ kia khiến Phùng cảm thấy vô cùng tò mò, và thương cảm vô cùng. Họ là những con người lao động, lam lũ nghèo khổ hiện thân của những người dân ven biển của làng chài này. Những cảnh tượng đau lòng cứ liên tục xảy ra trước mắt anh.

Người chồng đạp vợ một cái vô cùng dã man rồi liên tục chửi bới những câu khó nghe”Chúng mày chết đi cho ông nhờ” nhưng, người đàn bà vẫn cam lòng chịu đòn không phản kháng lại, sự nhẫn nhịn chịu đựng đã thành thói quen ăn sâu vào trong tiềm thức, trái tim của người phụ nữ. Đứa con trai lớn của gia đình nhìn thấy bố đánh mẹ tàn nhẫn, có lẽ nó đã phải chứng kiến cảnh này nhiều lần rồi. Nó xông lên can ngăn bố thì bị bố cho ăn mấy cái tát. Một người chiến sĩ như Phùng đã nhìn thấy nhiều cảnh bom rơi, đạn nổ, nhiều sự hy sinh của các đồng đội mình.

Nhưng hôm nay nhìn thấy cảnh tượng bạo hành trong chính người thân ruột thịt của một gia đình trong thời kỳ hòa bình lòng Phùng không khỏi se sắt, trào dâng những cảm xúc nghẹn ngào khó tả. Nhân vật Phùng là một con người vô cùng tân tiến và theo kịp với xu thế của thời đại anh cũng biết thay đổi mình với hoàn cảnh mới dù đã trải qua những năm tháng chiến tranh, nhưng anh không khư khư giữ lấy nó phải thay đổi mình cho phù hợp hoàn cảnh sống.

Nhân vật Phùng đã rất vui mừng khi chụp được bức ảnh vô cùng quý giá, một bức tranh để đời tác phẩm trời cho nhưng khi chứng kiến hoàn cảnh của người đàn bà làng chài những con người sống trên chiếc thuyền đẹp đẽ kia Phùng nhận thức ra một điều còn quan trọng hơn, một triết lý mà toàn diện, mà nhân vật Phùng muốn gửi gắm tới tất cả người đọc. Đó là mọi việc cần phải nhìn nhận một cách toàn diện thấu đáo. Có những thứ bên ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong lại không phải như vậy, chỉ khi chúng ta tới gần với nó, chạm được vào bên trong mới cảm nhận hết được cái đẹp thật sự, cuộc sống thật sự của cái đẹp.

Nghệ thuật là những thứ bắt nguồn và gắn liền với cuộc sống của con người. Nghệ thuật như vậy mới đích thực là nghệ thuật. Nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa chính là đại diện góc nhìn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đây là nhân vật không thể thiếu bởi nó giúp cho người đọc đến gần với tác phẩm hơn.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 2: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Những tác phẩm của ông luôn hướng đến các vấn đề thế sự với những quan niệm nhân sinh sâu sắc. Đánh giá về vai trò, vị trí của ông trong nền văn học đổi mới, có người nhận định rằng Nguyễn Minh Châu “người mở đường tinh anh cho văn học Việt Nam hiện đại”. Suốt quá trình cống hiến của mình, Nguyễn Minh Châu đã để lại nhiều tác phẩm giá trị, trong đó có thể kể đến truyện ngắn Người đàn bà hàng chài. Tác phẩm được viết vào năm 1983, sau gần 10 năm đất nước giải phóng. Trong truyện ngắn, nhân vật Phùng là nhân vật nhận thức, thông qua Phùng, tác giả gửi gắm những thông điệp vô cùng sâu sắc đến người đọc.

Phùng từng là một người lính, anh dùng cả tuổi trẻ của mình để đấu tranh cho tự do. Bước ra từ chiến thắng hào hùng của dân tộc 1975, con người yêu nước ấy trở về với cuộc sống hòa bình, sống bằng nghề nhiếp ảnh. Trong công việc, Phùng là một người có trách nhiệm, nhận được nhiệm vụ chụp bộ ảnh về cảnh biển mà cấp trên giao phó, anh không chối từ hay ngần ngại mà sẵn sàng đi thực tế về vùng biển miền Trung để tác nghiệp.

Để có một bức ảnh ưng ý anh thậm chí đã bỏ ra cả tuần lễ để “phục kích” trên bãi biển, anh ý thức được trách nhiệm của bản thân mình trong công việc nên không thể trở về nếu chưa có một bức ảnh ưng ý. Và rồi, giây phút ấy cũng đến, đó là khi đôi mắt người nghệ sĩ ấy bắt gặp cảnh tượng chưa từng có, một cảnh “đắt” trời cho: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.

Bằng sự tinh tế, nhạy cảm, say mê và những rung động chân thành, Phùng đã cảm nhận bức tranh ấy như một “bức tranh mực tàu” giá trị, đó là cảnh “đắt trời cho” được vẽ nên vô cùng tỉ mỉ, đẹp đẽ. Bức tranh ấy đã khơi gợi trong Phùng sự thiên lương, thanh lọc cả tâm hồn, rồi anh chợt nhận ra rằng “cái đẹp chính là đạo đức”. Phải là một nghệ sĩ biết yêu mến cái đẹp, biết rung động trước cái đẹp và trân quý những giây phút tuyệt vời của thiên nhiên, tạo hóa và cuộc sống đời thường mới có ánh nhìn đầy sâu sắc đến thế.

Không chỉ là một người lính yêu nước, một nhiếp ảnh gia tinh tế mà Phùng còn là hiện thân của một con người nhân hậu, tốt bụng và giàu lòng trắc ẩn. Khi nhận ra đằng sau bức ảnh “đắt trời cho” ấy là một hiện thực nghiệt ngã Phùng không khỏi ngạc nhiên. Với một người lính “vào sinh ra tử” để giành lại độc lập, bảo vệ cuộc sống bình yên cho con người, anh hẳn đã rất căm ghét cái ác, cái bất công bởi thế mà càng không thể nào không căm phẫn trước cái xấu đang diễn ra trước mắt mình.

Những năm tháng chiến trường oanh liệt qua đi, anh và đồng đội cả tuổi trẻ để dành lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân mình. Nhưng giờ đây, trước mắt anh lại là tình cảnh trớ trêu của một gia đình không hạnh phúc, một người vợ đằng sau vẻ khắc khổ của những vết rỗ trên khuôn mặt còn là nỗi đau về thể xác và tinh thần của những trận đòn roi tàn nhẫn. Hiện thực tàn nhẫn được phơi bày ra trước mắt khiến Phùng “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”.

Những ngày tiếp theo ở lại, Phùng lại phải chứng kiến những trận đòn roi mà người chồng kia hành hạ chính vợ mình. Không cầm lòng được, Phùng phải bảo vệ người đàn bà tội nghiệp đó. Người nhiếp ảnh gia đã dùng bản lĩnh và sức lực của một người lính năm xưa để cho hắn một bài học: “Tôi nện hắn cũng đã khiếp. Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng”. Trước cái xấu, cái đáng lên án, trong giây phút lao vào đánh gã đàn ông, anh đã tạm gác lại trách nhiệm của một người nghệ sĩ để hành động như một con người trước những điều bất bình.

Trong những ngày ở lại cùng người bạn của mình – Đẩu, một chánh án tòa, Phùng cũng được chứng kiến phiên tòa mà Đẩu thực hiện. Khi nghe người đàn bà trình bày với Đẩu rằng “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…” lòng Phùng như nghẹn lại, sự bức bối đến khó chịu xâm chiếm tâm trí nhân vật “Sau câu nói của người đàn bà, tôi cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”. Và khoảnh khắc nghe được những lời thật tâm từ người đàn bà, Phùng cũng không khỏi xúc động và nhận ra nhiều điều.

Đằng sau sự cảm thương sâu sắc trước hoàn cảnh đáng thương của người đàn bà hàng chài còn là một tấm lòng trăn trở, lo âu trước số phận con người của nghệ sĩ Phùng. Đó là nỗi trăn trở về cuộc sống của con người, về những khó khăn chật vật đang vây hãm lấy họ thời hậu chiến. Đó còn là nỗi băn khoăn về những gia đình không hạnh phúc, về cảnh bạo lực trong cuộc sống hôn nhân. Là những đau đáu về những tổn thương thể xác và tinh thần mà bao người phụ nữ đang phải chịu. Và hơn cả, là những lo âu về số phận của biết bao đứa trẻ tội nghiệp, phải lớn lên trong sự chứng kiến những cảnh tượng không tốt đẹp mà ba mẹ chúng gây ra.

Có thể nói, thông qua nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm đến người đọc những thông điệp nhân văn về nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật không phải là những thứ đẹp đẽ xa vời, thoát ly cuộc sống mà nghệ thuật phải bước ra từ đời sống và phục vụ cuộc sống. Mặt khác, khi nhìn cuộc sống, chúng ta phải có cái nhìn toàn diện, đa chiều, tránh cái nhìn phiến diện, bởi cuộc sống là muôn màu, muôn vẻ với những lăng kính khác nhau, đòi hỏi mỗi người phải chiêm nghiệm, nhìn nhận vấn đề thật sâu sắc để thấu hiểu và cảm thông hơn.

Số 3: Phân tích hình tượng nhân vật Phùng

Các nhân vật trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu thường là người chuyên chở tư tưởng, quan điểm của tác giả về nghệ thuật và cuộc đời. Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một nhân vật như vậy. Thông qua nhân vật này tác giả thể hiện rõ những quan niệm của mình về nghệ thuật cũng như cách nhìn cuộc sống của ông.

Trước hết, Phùng thể hiện quan điểm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Trước hết anh là một người yêu nghề và có trách nhiệm với công việc được giao. Ngay sau khi được thủ trưởng yêu cầu chụp một bức ảnh để hoàn thiện bộ lịch năm nay, Phùng không ngần ngại mà mang máy ảnh của mình lên đường ngay. Anh trở về chiến trường xưa, một làng chài ven biển, mong có thể tìm được một bức ảnh ưng ý. Cả một tuần lễ, anh miệt mài tìm kiếm để tìm cho ra bức tranh trời cho. Anh muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mình được giao.

Không chỉ vậy, Phùng còn là một người nghệ sĩ tài năng. Trời không phụ lòng người, sau cả một tuần lễ miệt mài tìm kiếm cuối cùng cái khoảnh khắc trời cho ấy cũng đến với anh. Bức tranh tuyệt mĩ hiện ra trước mắt Phùng: “thuyền in một nét mơ hồn lòe nhòe vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi…”. Không chần chừ thêm một giây phút nào, Phùng giơ máy ảnh lên bấm liên thanh. Bức tranh là sự hòa quyện tuyệt vời giữa đường nét và ánh sáng. Bức tranh đó đã làm Phùng thỏa mãn, bức tranh tuyệt mĩ, như mực tàu đó chính là điều người nghệ sĩ đang tìm kiếm bấy lâu nay.

Không chỉ là một người nghệ sĩ tài năng, mà Phùng còn là người biết rung cảm trước cái đẹp. Trước bức tranh tuyệt mĩ đó, Phùng đã thực sự bị làm cho rung động, và anh liên tưởng đến câu nói “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Và trong giây phút đó, anh tưởng như “mình vừa khám phá thấy cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn”. Anh cảm thấy hân hoan hạnh phúc không chỉ bởi đã hoàn thành công việc được giao, mà cao hơn chính là anh đã dùng trọn vẹn tâm hồn mình để khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp giữa thiên nhiên và cuộc đời. Đó là vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện đến vô ngần. Vẻ đẹp đó khiến cho tâm hồn Phùng được gột rửa, thanh lọc trở nên đẹp đẽ hơn.

Với bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp nghệ thuật quan trọng. Nghệ thuật luôn bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cuộc sống. Người nghệ sĩ phải lao động nghiêm túc, miệt mài và không ngừng sáng tạo mới có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị.

Không chỉ phản ánh quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Phùng còn thể hiện cái nhìn về cuộc sống của nhà văn. Sau bức tranh tuyệt mĩ kia điều Phùng nhìn thấy chính là khung cảnh vô cùng tàn nhẫn, người chồng lặng lẽ dùng dây lưng đánh túi bụi vào người phụ nữ cao lớn, mặt rỗ. Chị lặng im không hề phản kháng. Đằng sau cái đẹp toàn thiện, toàn bích kia lại có một khung cảnh hiện thực đến đau lòng. Điều đó làm cho Phùng không khỏi bất ngờ, choáng váng. Anh nhanh chóng, vứt chiếc máy ảnh – điều quan trọng nhất đối với một nhiếp ảnh gia, đến để cứu người phụ nữ kia. Nhưng chưa kịp ra đến nơi, anh đã thấy thằng Phác xông ra che chở cho người mẹ.

Không chỉ chứng kiến bạo hành trong một lần, mà Phùng còn lần thứ hai chứng kiến người chồng ra tay đánh đập dã man người vợ. Người đàn bà vẫn nhẫn nhục chịu đánh, không một lời kêu than, oánh trách. Lần này anh không ngạc nhiên như lần đầu, hành động mau lẹ và quyết liệt hơn, anh xông thẳng vào can ngăn, để chấm dứt hành động tội ác của người chồng. Đồng thời anh cũng nhận ra rằng, đằng sau bức tranh tuyệt mĩ ấy vẫn còn tồn tại cái xấu, cái ác và bi kịch.

Ngoài ra, Phùng còn là người luôn có ý thức để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Là người nhìn ra bức tranh với vẻ đẹp toàn bích, lại cũng là người chứng kiến cảnh bạo hành, rồi được nghe người đàn bà tâm sự, Phùng nhận thức được nhiều điều trong cuộc sống. Thì ra đằng sau bức tranh danh họa đó là biết bao thân phận éo le, bước ra khỏi chiến tranh họ chật vật, khổ sở để mưu sinh.

Phùng càng hiểu hơn người đàn bà kia, đằng sau sự xấu xí lại là một tâm hồn thánh thiện, một tình mẫu tư thiêng liêng. Vì con người phụ nữ ấy sẵn sàng hi sinh bản thân mình. Quá trình tự nhận thức đó chính là quá trình Phùng không ngừng hoàn thiện nhân cách của chính mình.

Trong cuộc sống luôn tồn tại những xấu tốt đúng sai, đôi khi không thể phân định rạch ròi. Mỗi chúng ta khi nhìn nhận bất cứ vấn đề gì cũng cần có cái nhì đa chiều, để phát hiện đúng bản chất của cuộc sống đa chiều.

Qua nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã truyền tải những thông điệp ý nghĩa về con người và nghệ thuật. Những thông điệp đó có giá trị nhân đạo sâu sắc. Đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải không ngừng sáng tạo, tu dưỡng. Đối với cuộc sống đa đoan, phức tạp phải nhìn nhận kĩ lưỡng, nhiều chiều để đưa ra những nhận xét đúng đắn nhất.

Số 4: Cảm nhận về nhân vật Phùng

Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay. Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng, một nghệ sĩ khao khát khám phá, sáng tạo ra cái đẹp, người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách và đời sống con người.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).

Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài, lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương.

Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu:không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.

Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.

Phùng trong truyện vừa là nhân vật chính đồng thời lại là người kể chuyện. Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của anh. Trong tác phẩm, Phùng đã có những phát hiện quan trọng về cuộc sống và nghệ thuật.

Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật. Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng.Phùng bộc lộ rung động trước “ Một cảnh đắt trời cho” mà “ suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy”. Nó đẹp “ như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ xa nên “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”.

Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ.Anh khẳng định “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”.Phùng thực sự rung động “ Đứng trước nó tôi trở nên bối rối.Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “ phát hiện ra khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn”. Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp.Anh thực sự biết quan sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên,cảnh vật,con người.

Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc.Sự rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp.Cái đẹp tự nhiên “ đắt giá”, “trời cho”,mới thực sự làm rung động lòng người. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời. Phùng còn nhận ra trong suy nghĩ của mình “ chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái đẹp phải kết hợp với cái tâm,cái tài kết hợp với cái thiện.

Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình. Từ chiếc thuyền đẹp như mơ, Phùng thấy bước ra một đôi vợ chồng làng chài mệt mỏi, xấu xí, thô kệch.. “ Người đàn bà đứng lại, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. “ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ,mặt đỏ gay,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két.Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ.Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. “ Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng,không chống trả,cũng không tìm cách trốn chạy.

Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội.Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được.ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp.Bạo lực là dấu hiệu của sự đau khổ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình.Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người

Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát.Phải chăng cuộc chiến đầu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn,mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra: Đói kém,bệnh tật,bạo lực gia đình …

Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ, nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao điều về cuộc sống của những người dân chài lưới. Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt: Một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ.

Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như một con thuyền. Mái tóc tổ quạ.Lão đi chân chữ bát,hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo khổ, vất vả lao động cật lực mà vẫn ngặt nghèo vì miếng cơm manh áo vì đông con. Người đàn bà thú nhận: “ giá tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn”.Thì ra đẻ nhiều,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa.

Đây là nguyên nhân của sự đói nghèo. Rồi thiên tai, trời làm động biển “ vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời “ ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn,cho nên phải gánh lấy cái khổ.Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được”. Do con người, do thiên tai do cái lẽ ở đời đã ăn sâu,bám bám rễ hàng ngàn đời nay mà người đàn bà phải chịu đau khổ.Người đàn ông vì vất vả cực nhọc,không biết đổ cái bực tức, uất ức vào đâu, chỉ còn biết trút lên người vợ.

Cậu bé Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh mà sẵn sàng bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy: “ Cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt”. Hành động nhất thời của Phác “ Như viên đạn” bắn vào người bố và lúc này “ đang xuyên qua tâm hồn” người mẹ.Tình cảnh thật đau lòng. Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này.

Phùng còn có nhận thức về cách giải quyết tấn bi kịch gia đình. Cách giải quyết của chánh án toà án huyện là: Gọi người đàn bà tới cơ quan và nói bằng giọng giận dữ: “ Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu” Cách giải quyết này tuy đứng về phía người đàn bà nhưng thiếu thực tế. Đáng lẽ phải tìm hiểu nguyên nhân, phân tích cụ thể, nắm bắt yêu cầu nguyện vọng. Cách giải quyết này thực sự chưa ổn. Không thể áp dụng lí thuyết sách vở mà phải căn cứ vào thực tế đời sống.

Cách gợi ý của Đâủ làm cho căn phòng “ lồng lộng gió biển tự nhiên bị hút hết không khí trở nên ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy như vậy. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức, không thể áp dụng tuỳ tiện. Giải quyết li hôn càng làm cho gia đình rạn nứt và tan vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra sao? Những người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi vào lộng cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người đàn ông là trụ cột trong nhà.

Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông. Phùng đi gặp thằng Phác. Kết quả như thế nào, tác giả còn bỏ ngỏ. Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và suy nghĩ của Phùng “ bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh,đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá,nửa thân dưới ướt sũng,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm”.Phải chăng đây là sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn, vất vả của người làm nghệ thuật. Đó là mối quan hệ giữa văn chương với cuộc đời.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của thiên nhiên, về sự thật cay đắng, đầy bi kịch, nghèo khổ của những con người lao động bằng nghề chài lưới, đã bộc lộ những lo lắng, trăn trở của nhà văn về nhân cách, đời sống con người, bộc lộ lòng thương cảm, trắc ẩn, trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động. Truyện đậm chất tự sự, triết lý, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 5: Phân tích nhân vật nghệ sĩ Phùng

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn thường đưa những câu chuyện, trải nghiệm thực tế của bản thân vào những tác phẩm văn học của mình. Vì thế, những tác phẩm của ông thường mang đến cho người đọc những cảm giác rất gần gũi, thân quen và chân thật. Trong cuộc sống mưu sinh, bộn bề kiếm tìm hạnh phúc thực sự, ông đã viết nên tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nổi bật trong câu chuyện là hình tượng nhân vật Phùng – một nghệ sĩ nhiếp ảnh luôn tôn thờ và tha thiết được sống cùng cái đẹp.

Trong thời chiến tranh, người lính luôn là đề tài truyền biết bao cảm hứng dành cho các thi sĩ, nhà văn. Đối với Nguyễn Minh Châu, ông lấy cảm hứng để xây dựng nhân vật Phùng đã từng là một người lính, giờ là một phóng viên ảnh luôn khao khát cái đẹp.

Mở đầu câu chuyện bằng một tình huống đầy bất ngờ. Theo chỉ thị của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại nơi đây, đã có biết bao cảm xúc tràn về, những kỉ niệm cùng cảnh đẹp của đất trời đã khiến cho tâm hồn anh bị choáng ngợp. Sau biết bao ngày suy nghĩ, kiếm tìm ý tưởng, đề tài, anh đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và hết sức vừa ý. Đôi mắt anh đã bắt gặp một khung cảnh tuyệt vời “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. … trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”.

Anh cảm thấy tâm hồn mình trở nên mộng mơ, trong trẻo biết bao. Đã biết bao lâu rồi, anh không tìm được cái đẹp đến nhường nào. Thế nhưng, từ sau chiếc thuyền ngoài xa ấy, anh đã thấy một đôi vợ chồng hàng chài, lão đàn ông với dáng hình cộc cằn thẳng tay đánh vợ chỉ để giải tỏa nỗi thống khổ uất ức của mình. Một người đàn bà xấu xí, héo mòn được che chở bởi thằng con trai của bà – thằng Phác. Ngay lập tức, anh đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào tới”. Cái đẹp của cảnh vật chẳng thể che mờ những mảng tối của cuộc sống. Vẻ đẹp của Phùng càng được tỏa sáng nhờ tấm lòng nhân hậu, đầy lòng trắc ẩn.

Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, ba ngày hôm sau Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Với tính cách của người lính, những người đã từng đổ biết bao công sức mồ hôi, máu và nước mắt để bảo vệ đất nước, mong cho nhân dân có được cuộc sống hạnh phúc ấm êm thì khung cảnh này thật đi ngược với những mong ước, mục tiêu của các anh. Chính vì thế, Phùng đã “nện cho hắn một trận ra trò”.

Anh cũng bị thương và được đưa về trạm y tế của tòa án huyện. Tại đây, người đàn bà nghèo khổ kia đã một mực van xin cho người chồng kia rằng “quý tòa đừng bắt con phải bỏ nó”. Khi con người ta phải chịu tù đày áp bức, tưởng rằng tự do sẽ là điều họ khao khát nhất. Thế nhưng, sau khi nghe câu chuyện của bà, Phùng và độc giả mới có thể hiểu được những uẩn khúc, lý do của những mảnh đời ấy.

Người đàn bà ấy luôn sẵn sàng chịu đựng khó khăn, đói nghèo vì chồng vì con. Với trách nhiệm là một người vợ, người mẹ đã truyền cho bà biết bao sức mạnh để đối diện với cuộc sống. Có những ngày “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng chưa bao giờ bà tìm cách trốn chạy. Bà biết dù bà có rũ bỏ tất cả thì cũng không thể dứt bỏ được mối dây liện hệ với những đứa con của bà.

Bạo lực gia đình luôn là một vấn đề nhức nhối trong xã hội, con người ta cứ phải luẩn quẩn trong vòng vây của những mối quan hệ gia đình mà chẳng có cách nào thoát khỏi nó. Những tổn thương mà người phụ nữ và những đứa trẻ vô tội phải chịu đựng, được che lấp ẩn chứa sau cái đẹp mà Phùng đã nhìn thấy. Bỗng nhiên, anh ý thức được rằng: hạnh phúc vẫn luôn gắn liền với khổ đau, cái đẹp luôn tiềm ẩn cái ác, cái xấu.

Sống trong hoàn cảnh khó khăn, cơm áo gạo tiền, con người ta vẫn luôn mưu cầu hạnh phúc. Biết bao dự định, giá như người ta muốn thực hiện. Giá như “tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn” của người phụ nữ ấy, giá như người đàn ông ấy có đầy đủ điều kiện để nuôi vợ chăm con của lão, có khi nào lão không trở thành một người như vậy.

Có hàng vạn hàng nghìn lý lẽ mà người ta đưa ra để lý do giải thích cho cuộc đời họ, khi pháp luật nghiêm minh bảo vệ họ thì vẫn chẳng đủ để thay đổi được cuộc đời mà họ đã lựa chọn. Tác giả đã cho nhân vật Phùng được can thiệp, giúp đỡ những con người ấy nhưng họ từ chối. Phải chăng, con đường đấu tranh cho nhân quyền và thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ còn trở ngại, gian nan hơn cả cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

Những trăn trở, suy nghĩ trong lòng Phùng chắc hẳn cũng chính là những dòng cảm nghĩ chung cho cả dân tộc. Li hôn liệu có thể giải quyết được những hậu quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Biết bao khó khăn, bão tố ngoài biển khơi cũng chẳng thể nào so sánh được với những chơi vơi, sóng gió của cuộc đời. Chiếc thuyền ngoài xa qua lăng kính nghệ thuật của nhân vật Phùng, đã tô điểm nên cảnh đẹp của đất trời Việt Nam. Sâu xa trong những bức hình ảnh, những bi kịch, đắng cay vẫn đang ngày đêm diễn ra ở cuộc sống đời thường của những người lao động nghèo.

Bằng tâm hồn của người lính, bằng lòng nhân hậu yêu trọng cái đẹp, hòa bình của người làm nghệ thuật, Phùng đã gắn kết những câu truyện, mảnh đời trong văn chương tới cuộc sống đời thực trở nên gần gũi, chân thật biết bao.

Số 6: Cảm nhận nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cùng với nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu có những đống góp quan trọng đối với nền văn học kháng chiến chống Mỹ và nền văn học thời kì đầu đổi mới. “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này” (Nguyễn khải).

Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu. Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đời tư, thế sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Tác phẩm thuộc kiểu truyện luận đề và nhân vật Phùng là người phát biểu các luận đề ấy. Qua nhân vật Phùng và các nhân vật khác nhà văn đề cập đến tính trung thực của người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và hiện thực cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi kịch số phận con người.

Vốn là một người lính chiến đã từng vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức bất công. Anh sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện và lẽ công bằng. Anh thực sự xúc động ngỡ ngàng trước trước vẻ đẹp mát mẻ tinh khôi của con thuyền và biển cả lúc bình minh. Đó là sự rung đông của người nghệ sĩ trước cái đẹp trên cuộc đời này và nó thúc đầy anh khao khát đi tìm. Phùng là con người nghệ sĩ có tài năng. Ở anh lại có một tâm hồn mơ mộng và luôn khát khao hướng tới một cái đẹp toàn bích, toàn thiện. Sự từng trải qua cuộc đời người lính càng khiến anh biết quý trọng cuộc sống và nâng niu từng vẻ đẹp mà anh có được. Anh tin rằng còn có những vẻ đẹp khác đang bị ẩn giấu, che khuất. Với trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính, anh phải đi tìm, phát hiện và làm cho nó tỏa sáng.

Bắt gặp cuộc sống của một gia đình làng chài tưởng chừng như bình yên mà lại vô cùng khốc liệt khiến anh vô cùng sửng sốt. Một con người nhạy cảm như Phùng làm sao tránh khỏi nỗi tức giận khi phát hiện đằng sau cảnh đẹp của chiếc thuyền ngoài xa là sự bạo hành của cái xấu, cái ác. Mới đầu, chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ và người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng, Phùng hết sức “kinh ngạc”. Anh “há mồm ra mà nhìn”. Rồi như một phản xạ tự nhiên, anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”.

Hành động ấy đã nói lên được rất nhiều điều đáng để suy ngẫm. Thứ nhất, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa. Nó đang ở một khoảng cách đủ để tạo nên một vẻ đẹp huyền ảo. Nhưng sự thật cuộc đời thì lại ở rất gần. Thứ hai, đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời. Bởi lẽ, nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. “Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp hãy là một con biết yêu ghét vui buồn tức trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người”(Trăng sáng – Nam Cao).

Nguyễn Minh Châu đã không có tạo nên những mảnh đời đối lập. Song, cứ tự nhiên, cuộc đời lại vẽ lên những bức tranh màu đầy ảm đạm. Cuộc sống của gia đình trên con thuyền chật hẹp cứ từng lớp, từng lớp được phơi bày trước mắt Phùng. Anh đi từ trạng thái này đến trạng thái khác, vừa hân hoan, vừa hết sức đau thương, vừa mãn nguyện vừa xung đột mãnh liệt. Nam Cao cũng đã từng khắc họa hình ảnh người nghệ sĩ trong điểm nhìn nghệ thuật đầy xung đột.

Điền là một nhà văn, nhà giáo nghèo. Mặc dù cuộc sống vất vả, khó khăn nhưng tâm hồn Điền lại đẫm thơ văn lãng mạn. Những đêm trăng sáng, Điền ngắm trăng và mơ mộng một cuộc sống khác, đối lập với cuộc sống hiện tại của Điền. “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than” (Trăng sáng – Nam Cao).

Đằng sau mỗi vẻ đẹp trắng lệ luôn ẩn giấu một nỗi đau nào đó của trần thế. Điều quan trọng là người nghệ sĩ có nhìn thấy hoặc dám nhìn thẳng vào nó để phản ảnh hay không. Đó là thử thách lớn đối với cả Điềm và Phùng khi họ bất ngờ bị đặt vào tình thế gây cấn để phản ngộ. Điều mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng “ngộ” ra khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo chính là tình người ẩn sâu trong trái tim đầy đau khổ của người đàn bà kia.

Nếu quan sát từ “ngoài xa” thì khung cảnh con thuyền và mặt biển mờ sương thật đẹp, thật mơ mộng. Thậm chí nó đạt đến sự “toàn bích’’, hiếm khi được may mắn bắt gặp. Nhưng khi tới gần, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng mới nhận ra đằng sau khung cảnh đẹp ấy chứa bao nghịch cảnh đau lòng. Người chồng đánh vợ một cách tàn nhẫn. Đứa con trai thì cầm dao xong vào bố. Cuộc sống ấy đối vói người đàn bà chẳng khác gì địa ngục thế nhưng không thể rời bỏ được, ….

Như vậy, giữa nghệ thuật và cuộc đời có một khoảng cách quá xa khiến người nghệ sĩ có sự ngộ nhận. Phải chăng qua tình huống này, nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi tới người đọc một thông điệp sâu sắc. Để phản ảnh đúng về bản chất của cuộc sống, con người. Người nghệ sĩ đích thực không thể đứng ngoài xa để quan sát mà phải sống gắn bó với hiện thực đời sống, phải nhìn nhận sự vật một cách đầy đủ, toàn diện. Mặt khác, muốn có được một bức ảnh nghệ thuật đẹp theo đúng nghĩa của nó thì trước hết phải làm cho cuộc sống đẹp đẽ, mới mẽ với những con người có tâm hồn trong sáng, tinh khôi.

Số 7: Phân tích nhân vật Phùng

Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh nhanh nhất của văn chương ta hiện tại. Ông đã đi sâu khám phá sự thực đời sống ở phương diện đạo đức sự thế. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình mệt nhọc kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện tư cách. Chiếc thuyền ngoài xa là 1 trong những sáng tác điển hình của ông. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng đối tượng Phùng, 1 nghệ sĩ khát khao khám phá, thông minh ra cái đẹp, người luôn lo âu, trằn trọc, suy tư về tư cách và đời sống con người.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm cá tính tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất điển hình cho hướng tiếp cận đời sống từ giác độ sự thế của nhà văn ở công đoạn sáng tác thứ 2. Truyện có mặt trên thị trường trong cảnh ngộ quốc gia ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều còn đó khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn thuở đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho 1 hợp tuyển truyện ngắn (in 5 1987).

Để có thể xuất bản 1 bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật hài lòng, trưởng phòng yêu cầu nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tiễn chụp bổ sung 1 bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi đến 1 hải phận từng là trận mạc cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần 1 tuần lễ nghĩ suy, kiếm tìm, Phùng đã chụp được 1 bức ảnh thật đẹp và toàn bích.

Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp đấy lại bước xuống 1 đôi vợ chồng hàng chài, lão con trai mạnh tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão chở che người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão con trai đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm nhưng thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải xong xuôi hành động ác nghiệt. Lão con trai đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện.

Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người nữ giới hàng chài với bao thông cảm và ngỡ ngàng, kinh ngạc. Anh hiểu:chẳng thể dễ dàng và sơ lược lúc nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời. Từ câu chuyện về 1 bức tranh nghệ thuật và sự thực cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đem đến 1 bài học đúng mực về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: 1 cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát xuất hiện thực chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.

Phùng trong truyện vừa là đối tượng chính cùng lúc lại là người kể chuyện. Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và nghĩ suy của anh. Trong tác phẩm, Phùng đã có những phát hiện quan trọng về cuộc sống và nghệ thuật.

Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật. Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm lúc mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng.Phùng biểu lộ rung động trước ” 1 cảnh đắt trời cho” nhưng ” suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy”. Nó đẹp ” như bức tranh mực tàu của 1 danh hoạ thời cổ” Cảnh đấy được nhìn từ xa nên ” Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Tất cả quang cảnh đấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ.

Anh khẳng định ” toàn thể quang cảnh từ đường nét tới ánh sáng đều hài hoà và đẹp,1 vẻ đẹp thực dễ dàng và toàn bích”.Phùng thực thụ rung động ” Đứng trước nó tôi trở thành lúng túng.Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và ” phát xuất hiện phút chốc trắng ngần của tâm hồn”. Phùng là 1 nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp.Anh thực thụ biết quan sát chọn lọc cái đẹp của tự nhiên,cảnh vật,con người.

Sự rung động của người nghệ sĩ đã tới đúng khi.Sự rung động thực thụ lúc đứng trước cái đẹp.Cái đẹp thiên nhiên ” đắt giá”, “trời cho”,mới thực thụ làm rung chạnh lòng người. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp tới cho đời. Phùng còn nhìn thấy trong nghĩ suy của mình ” chẳng biết người nào đấy lần đầu phát xuất hiện bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đấy là cái đẹp phải liên kết với cái tâm,cái tài liên kết với cái thiện.

Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình. Từ chiếc thuyền đẹp như mơ, Phùng thấy bước ra 1 đôi vợ chồng làng chài mỏi mệt, xấu xí, thô kệch..” Người nữ giới đứng lại, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. ” Lão con trai ngay lập tức trở thành hùng hổ,mặt đỏ gay,lão rút trong người ra 1 chiếc dây lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái dây lưng quật đến tấp lên lưng người nữ giới, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, 2 hàm răng ngiến vào nhau ken két.

Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại chửi rủa bằng cái giọng rên rẩm đớn đau ” Mày chết đi cho ông nhờ.Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. ” Người nữ giới có vẻ cam chịu nhẫn nhục chẳng hề kêu 1 tiếng,ko chống trả,cũng ko tìm cách trốn chạy. Bạo lực trong gia đình thuyền chài đấy diễn ra thường xuyên ” Ba ngày 1 trận nhẹ,5 ngày 1 trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề còn đó trong xã hội.Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được.ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ,người mẹ và những đứa con khổ thân.

Bạo lực là tín hiệu của sự âu sầu,sứt mẻ của hạnh phúc gia đình.Nó làm thương tổn bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người. Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát.Phcửa ải chăng trận đấu đầu giành độc lập tự do ta đã đáp ứng được toàn vẹn,mang đến thú vui cho mọi người. Nhưng sau lúc miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra: Đói kém,bệnh tật,bạo lực gia đình …

Từ sự thực phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ, nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao điều về cuộc sống của những người dân chài lưới. Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt: 1 người nữ giới trạc ngoài 4 mươi, cao to với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mỏi mệt sau 1 đêm thức trắng kéo lưới, tái mét và nghe đâu đang buồn ngủ. Người con trai đi sau.

Tấm lưng rộng và cong như 1 con thuyền. Mái tóc tổ quạ.Lão đi chân chữ bát,hàng chân mày cháy nắng rủ xuống 2 con mắt đầy vẻ độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo đói, nặng nhọc lao động thật lực nhưng vẫn nghiêm ngặt vì miếng cơm manh áo vì đông con. Người nữ giới thú nhận: ” giá tôi đẻ ít và chúng tôi mua được cái thuyền rộng hơn”.Thì ra đẻ nhiều,thuyền nào cũng từ mười tới hơn mười đứa.

Đây là nguyên cớ của sự nghèo đói. Rồi thiên tai, trời làm động biển ” vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời ” ông trời sinh ra người nữ giới là để đẻ con và nuôi con cho tới lúc khôn to,do đó phải gánh lấy cái khổ.Phụ nữ ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ chẳng thể sống như mình trên đất được”. Do con người, do thiên tai do cái lẽ ở đời đã ăn sâu,bám bám rễ hàng nghìn đời nay nhưng người nữ giới phải chịu âu sầu.Người con trai vì nặng nhọc cực nhọc,ko biết đổ cái hậm hực, uất ức vào đâu, chỉ còn biết trút lên người vợ.

Cậu nhỏ Phác thương mẹ nhưng mà hành động liều lĩnh, thiếu nghĩ suy. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh nhưng chuẩn bị quên mất tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy: ” Cái thằng bé thầm lặng đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên gương mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt”. Hành động nhất thời của Phác ” Như viên đạn” bắn vào người bố và khi này ” đang xuyên qua tâm hồn” người mẹ.Cảnh ngộ thật đau lòng. Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này.

Phùng còn có nhận thức về cách khắc phục tấn thảm kịch gia đình. Cách khắc phục của chánh án toà án huyện là: Gọi người nữ giới đến cơ quan và nói bằng giọng bức xúc: ” Chị ko sống nổi với lão vũ phu đấy đâu” Cách khắc phục này tuy đứng về phía người nữ giới nhưng mà thiếu thực tiễn. Đáng lẽ phải mày mò nguyên cớ, phân tách chi tiết, nắm bắt yêu nguyện cầu vọng. Cách khắc phục này thực thụ chưa ổn. Không thể vận dụng lí thuyết sách vở nhưng phải căn cứ vào thực tiễn đời sống.

Cách gợi ý của Đâủ khiến cho căn phòng ” lồng lộng gió biển thiên nhiên bị hút hết ko khí trở thành ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy tương tự. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức, chẳng thể vận dụng tuỳ tiện. Gicửa ải quyết li dị càng khiến cho gia đình sứt mẻ và đổ vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra sao? Những người làm ăn lam lũ vất vả ra khơi vào lộng nhu yếu bàn tay của người con trai. Người con trai là cột trụ trong nhà.

Cuối truyện Đẩu đi gặp người con trai. Phùng đi gặp thằng Phác. Kết quả như thế nào, tác giả còn bỏ ngỏ. Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và nghĩ suy của Phùng ” bao giờ tôi cũng thấy người nữ giới đấy đang bước ra khỏi tấm ảnh,đấy là người nữ giới hải phận cao to với đường nét thô kệch,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá,nửa thân dưới ướt đẫm,gương mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm”.Phcửa ải chăng đây là sự trằn trọc trước cuộc sống còn nhiều điều gieo neo, nặng nhọc của người làm nghệ thuật. Đấy là mối quan hệ giữa văn học với cuộc đời.

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của tự nhiên, về sự thực đắng cay, đầy thảm kịch, nghèo đói của những con công nhân bằng nghề chài lưới, đã biểu lộ những lo âu, trằn trọc của nhà văn về tư cách, đời sống con người, biểu lộ lòng bi cảm, trắc ẩn, trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động. Truyện đậm chất tự sự, triết lý, điển hình cho cá tính nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.

Số 8: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nhà văn Nguyễn Minh Châu là một trong những tác giả nổi tiếng của làng văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Ông được coi là người “mở đường tài năng và tinh anh nhất”. Trước năm 1975, ông là một cây bút sử thi lãng mạn, viết nhiều về đề tài người lính. Tuy nhiên, sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức, và triết lí nhân sinh. Ông khám phá con người trong cuộc đời mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc, khám phá hạt ngọc ẩn dấu, khuất lấp trong mỗi con người. Tiêu biểu cho những kiếm tìm đề tài và trách nhiệm của người nghệ sĩ là tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, in trong tập truyện cùng tên năm 1987.

Truyện ngắn được ra đời tháng 8/1983, khi cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc qua đi. Đất nước bước vào thời kì mới, thời kì độc lập thống nhất. Cuộc sống thời bình với muôn mặt của đời sống, đặt ra nhu cầu nhận thức lại về hiện thực và cuộc sống con người trước đây do hoàn cảnh của chiến tranh chưa được đặt ra. Là một tác phẩm đáp ứng được nhu cầu ấy, ”Chiếc thuyền ngoài xa” đã trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu và tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, xu hướng chung của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.

Truyện ngắn được chia thành ba phần. Phần một: từ đầu cho đến “lưới vó biến mất”. Ở phần này, tác giả đi sâu vào kể về hai phát hiện của nhân vật Phùng. Phần hai: tiếp theo đến “giữa phá” là câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện. Và phần ba còn lại – tác giả nói về bức ảnh được chọn vào bộ lịch năm ấy.

Tác phẩm mở đầu bằng một bức tranh tuyệt đẹp được người nghệ sĩ Phùng ghi lại vào một buổi sáng mờ sương ở một pha nước miền Trung. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, được cấp trên giao cho chụp một bức ảnh chủ đề thuyền và biển để đăng trong bộ lịch năm ấy. Anh đã đi thực tế tại tại vùng biển miền Trung nơi trước kia đã từng chiến đấu và có người bạn ở đó. Khi đến đây anh bắt gặp một bức tranh tuyệt đẹp đó là hình ảnh của thuyền và biển trong sương sớm. Đây cũng chính là tình huống độc đáo của truyện qua đó ta thấy được nhiều điều trong cuộc sống này. Nhưng sau bức tranh ấy Phùng lại có phát hiện mới.

Trước tiên, truyện ngắn này có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Tình huống là vấn đề then chốt đối với truyện ngắn. Nhà văn tìm được tình huống độc đáo sẽ khiến bạn đọc cuốn hút theo câu chuyện. Tình huống chính là tình thế xảy ra câu truyện, khi nhân vật ở trong tình thế ấy sẽ bộc lộ rõ nhất bản chất, tính cách, phẩm chất của con người. Tình thế cũng có thể là bước ngoặt làm thay đổi số phận, nhận thức hoặc có khi bộc lộ ra những cốt lõi sâu thẳm tiềm ẩn trong truyện. Tình huống truyện của “Chiếc thuyền ngoài xa” là tình huống nhận thức, khám phá.

Đây là một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lí. Tình huống của truyện được thể hiện qua hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Tình huống đã giúp Phùng nhận ra được nhiều điều về cuộc sống, con người và nghệ thuật. Cuộc đời vốn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, bất ngờ và đầy nghịch lí. Cần đến gần cuộc sống để khám phá sự thực bên trong và chiều sâu bản chất. Cần có cái nhìn đa diện nhiều chiều để hiểu rõ bên trong số phận và tâm hồn con người. Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa.

Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ Phùng là khung cảnh thiên nhiên hoàn mĩ, đẹp thơ mộng. Người nghệ sĩ phát hiện ra một vẻ đẹp trên mặt biển mờ sương. Đó là cảnh một chiếc thuyền trong buổi sớm mai đang dần tiến vào bờ, cảnh tượng khiến cho người nghệ sĩ cảm thấy may mắn và hạnh phúc khi được chứng kiến một bức tranh tuyệt vời đến như vậy. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một họa sĩ thời cổ”.

“Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe …chiếu vào”. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con đang dần tiến vào bờ. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến màu sắc ánh sáng đều hài hòa với nhau làm nên một vẻ đẹp toàn bích. Tác giả gọi đó là cảnh “đắt” trời cho, vẻ đẹp mà trong cuộc đời diễm phúc lắm may ra bắt gặp được một lần. Nghệ sĩ Phùng tự nhận ra rằng cái đẹp chính là đạo đức. Trước bức tranh mực tàu ấy Phùng cảm thấy bối rối trong tim anh như có cái gì đang bóp chặt lấy. Đó là khoảnh khắc trong ngần của cuộc đời.

Người nghệ sĩ cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc, anh thấy được cảm xúc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân – thiện – mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc trở nên trong trẻo và thanh khiết. Thông qua cảm xúc của nhân vật Phùng, tác giả đưa ra quan niệm về cái đẹp. Cái đẹp phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái chân – thiện – mĩ, cái đẹp là đạo đức.

Thế nhưng cảnh càng đẹp bao nhiêu thì thực tế cuộc sống lại đen tối bấy nhiêu. Đó chính là phát hiện thứ hai của Phùng trước khung cảnh tuyệt vời ấy. Hiện thực nghiệt ngã của con người với số phận bất hạnh của những con người nơi đây đặc biệt là người đàn bà hàng chài hiện lên.

Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy là người phụ nữ xấu xí và người đàn ông hung dữ, cặp vợ chồng hiện thân cho sự lam lũ đói khổ. Chính khuôn mặt nét người của họ đã nói lên phần nào cái cuộc sống khổ cực mà họ phải chịu. Người vợ “trạc ngoài 40”, “mặt rỗ”, “thân hình cao lớn thô kệch”, “lưng áo bạc phếch”, “gương mặt lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới”… dường như bao nhiêu sương gió nắng mưa của đất trời đã chiếu thẳng vào người đàn bà ấy vậy. Còn người đàn ông thì cũng chẳng hơn gì: “có tấm lưng rộng”, đi chân chữ bát khuôn mặt “độc, dữ”.

Cả hai người đều là hiện thân của sự nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Một cảnh tượng diễn ra khiến cho nghệ sĩ Phùng không thể nào tin vào mắt mình và cái cảnh đẹp kia bỗng chốc biến thành một hình ảnh vô cùng thậm tệ. Hai con người khổ sở ấy đi vào phía bãi xe tăng hỏng và thật bất ngờ trước cảnh tượng ấy: “Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng… lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két…”.

Trong “chiếc thuyền ngoài xa”, một sự thật còn trớ trêu, cay đắng nữa: Cha con lão làng chài coi nhau như kẻ thù “Thằng bé chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng…lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông… liền rướn thẳng người vụng chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực lão đàn ông”. Người nghệ sĩ Phùng như cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu của cái máy ảnh mà anh dày công sáng tạo nghệ thuật bỗng hiện hình một sự thật cuộc sống xót xa.

Tấm ảnh về chiếc thuyền thì rất đẹp, nhưng cuộc sống đích thực của gia đình dân chài trong chiếc thuyền ấy chẳng có gì là đẹp. Sự nghịch lí ấy đặt ra vấn đề đối với người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: “Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối” (Nam Cao). Những giọt nước mắt của người đàn bà hàng chài nhỏ xuống lấp đầy những nốt rỗ chằng chịt kia. Một cảnh tượng nghiệt ngã đối lập với cái cảnh đẹp như ngư phủ của con thuyền.

Với hai phát hiện ấy Phùng chợt nhận ra rằng cuộc đời không đơn giản một chiều mà chứa nhiều nghịch lí ngang trái, mâu thuẫn. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, đẹp và xấu thiện và ác. Ở đây nhà văn khẳng định đừng nhầm lẫn hiện tượng với bản chất, hình thức bên ngoài với nội dung bên trong. Khi nhìn nhận đánh giá cuộc đời thì phải có cái nhìn đa chiều nhiều phía.

Nếu truyện ngắn chỉ dừng lại ở đây chắc chắn sẽ không đủ sức hút có thể để lại dư âm trong lòng người đọc. Chính vì thế mà những tâm sự của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện được viết ra. Sau khi chứng kiến cảnh bạo hành dã man bên chiếc xe tăng hỏng, Phùng đã nói với chánh án Đẩu từng là chiến hữu của anh để nhờ giúp đỡ. Phùng và Đẩu đều có ý tốt mong cho người phụ nữ ấy thoát khỏi người chồng vũ phu.

Chính vì vậy người đàn bà hàng chài đã được chánh án Đẩu mời đến tòa án huyện và giải pháp được đưa ra là li hôn với chồng. Người đàn bà hàng chài đến tòa án huyện ban đầu chị tỏ ra rất sợ hãi khép nép sau khi nghe những phân tích và sự giúp đỡ của Đẩu thì chị bỗng bình tĩnh và thay đổi cách xưng hô không còn khép nép nữa mà nói ra những tâm sự những suy nghĩ của bản thân mình. Những lời tâm sự của chị đã khiến người đọc cũng phải ngỡ ngàng. Vẻ đẹp tâm hồn ẩn sâu bởi cái vẻ ngoài xấu xí, của người phụ nữ ấy đã khiến chánh án Đẩu và nhân vật Phùng nhận ra được nhiều điều.

Người đàn bà kể lại cuộc đời mình rằng: Trước kia bà cũng là một người con nhà khá giả, nhưng sau một trận thủy đậu làm cho bà dỗ hết mặt không ai thèm lấy bà. Khi ấy ông chồng của bà lại là người làm vườn. Bố mẹ mất đi người đàn ông ấy đã cứu vớt cuộc đời của bà chính vì thế mà bà bị đánh đập nhưng cũng không nỡ bỏ người chồng đồng thời cũng là ân nhân của mình. Hiện giờ cuộc sống của bà khổ về cả vật chất lẫn tinh thần.

Gia đình bà sống cùng nhau trên một con thuyền nhỏ. Con thuyền ấy vừa là phương tiện kiếm sống lại cũng là ngôi nhà che nắng che mưa. Bà thường xuyên bị đánh đập, ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng. Thế nhưng bà không hề chống lại chồng mình, cam chịu, nhẫn nhục, bà coi một việc bị đánh là một chuyện đương nhiên, thậm chí sợ các con nhìn thấy bà xin chồng đánh khi vào bờ

Khi nghe những lời khuyên của Đẩu và Phùng, biết lòng tốt của họ nhưng bà nhất quyết không bỏ chồng vì người chồng là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của gia đình nhất là khi phong ba bão táp. Người đàn bà cần chồng vì còn phải nuôi những đứa con kia. Và hơn nữa trên thuyền cũng có những lúc gia đình hạnh phúc vui vẻ. Người đàn bà chắt chiu những hạnh phúc nhỏ nhoi đời thường khi nhìn thấy các con được ăn no.

Thị nhận lỗi, cho rằng đẻ nhiều con là cái tội của mình. Trong suy nghĩ của Phùng, Đẩu và thằng Phác người đàn ông kia là kẻ thô lỗ, độc ác, dã man đáng lên án. Nhưng với người vợ thấu hiểu và cảm thông, người đàn ông ấy cũng chỉ là nạn nhân, hắn trước kia hiền lành lắm, cũng vì cuộc sống nghèo khổ quá nên mới như vậy. Từ đó cho thấy người đàn bà hàng chài tuy là một người phụ nữ không học hành, xấu xí nhưng lại có một trái tim nhân hậu tiêu biểu cho nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam. Thị là người chấp nhận hi sinh để sống cho các con, một người vị tha và sâu sắc lẽ đời.

Trước những lẽ ấy thoạt đầu Đẩu và Phùng nghiêm nghị thấy bất bình nhưng về sau thì như vỡ lẽ ra nhiều điều. Phùng từng là người lính chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược nhưng lại không thể nào giải phóng được số phận của người đàn bà bất hạnh. Qua câu chuyện của người đàn bà, Phùng càng thấm thía: không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con người.

Cuộc sống này không chỉ sống cho riêng mình hay nó vốn là cái mình nhìn thấy trên bề nổi mà nó là phần chìm bên trong câu chuyện kia. Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài đã đem đến cho người đọc một thông điệp, một triết lí. Đó là phải nhìn mọi việc một cách toàn diện. Đó mới là cái giá trị đích thực của cuộc sống này. Từ một người đàn bà nhút nhát sợ hãi người đàn bà trở nên sâu sắc làm cho hai người đành phải để người phụ nữ ấy về với gia đình mình.

Câu chuyện kết thúc khi bức ảnh tuyệt bích được chọn in trong tấm lịch năm ấy và bức tranh còn được treo mãi trong những gia đình sành nghệ thuật. Điều này khẳng định giá trị nghệ thuật của bức tranh. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài đã đi sâu vào tiềm thức của Phùng như một trải nghiệm mà mỗi khi nhìn vào bức ảnh anh lại nhớ đến nó.

Với anh, khi đứng trước bức ảnh đen trắng lại thấy một màu hồng trong buổi sớm ban mai và nhìn kĩ hơn nữa lại thấy bước ra từ trong tranh là người đàn bà hàng chài lam lũ. Như vậy nếu hiểu bức tranh thuyền và biển kia là hình ảnh của nghệ thuật và người đàn bà hàng chài bước ra từ trong tranh là hình ảnh của cuộc đời thì nghệ thuật và cuộc đời phải gắn liền với nhau. Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống thì cũng phải gắn liền với cuộc sống. Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa.

Với cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về cuộc đời, và cách trao ngòi bút cho nhân vật kể chuyện (nhân vật Phùng), “Chiếc thuyền ngoài xa” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Thành công của Nguyễn Minh Châu là đã đem đến cho người đọc một tác phẩm đầy tính triết lí và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người và cả nghệ thuật. Những triết lí luôn đúng với mọi thời đại.

Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống, dũng cảm thể hiện những góc khuất của cuộc đời ngay trong chế độ xã hội tốt đẹp của chúng ta. Đúng như lời của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: Mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần một cách nhìn đa dạng nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự – triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 9: Phân tích hình tượng nhân vật Phùng

Nghệ thuật có phải lúc nào cũng chỉ bao hàm những cái đẹp hay không? Không, nghệ thuật sẽ không có giá trị nếu nó chỉ tồn tại bấy nhiêu đó, mà nghệ thuật là vì con người, vì cuộc đời mà trở nên đẹp hơn. Thế nên, nghệ thuật sẽ mất đi cái chân thiện mỹ của nó nếu nghệ thuật không bao gồm cả những cái xấu, cái tồi tàn để làm bật dậy những bản tính tốt đẹp của những người yêu nghệ thuật. Cũng giống như hình ảnh người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa, một truyện ngắn mang phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu. Ông được mệnh danh là cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Chính cái lối viết độc đáo của nhà văn đã khắc họa hình ảnh, những giá trị sâu sắc thông qua nhân vật Phùng.

Trước hết, Phùng là một người lính trở về với chiến trường xưa, nơi anh từng chiến đấu trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mỹ với tư cách là một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh được giao nhiệm vụ thực hiện bộ lịch nghệ thuật mà trong đó anh phải bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Để thâu tóm và chiêm ngưỡng được cái vẻ đẹp “trời cho” ấy, anh đã phải chờ đợi kiên nhẫn, “phục kích” hết mấy buổi sáng. Thế là cuối cùng cái sự chờ đợi kiên nhẫn của anh cũng được đền đáp. “Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cách “đắt” trời cho như vậy”.

Cảnh trời đẹp đẽ đến nỗi khiến Phùng ngỡ rằng trước mắt anh là “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. Mà trong khung cảnh đầy những sương mù trắng vây quanh, người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc trên mui khum khum của một chiếc thuyền đang tiến vào bờ. Tất cả không gian như lặng tờ, nhìn qua mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó như một vẻ đẹp “toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”.

Phải chăng đó là cái nhức nhói trong sung sướng của một người nghệ sĩ khi gặp được cảnh tượng đầy đẹp đẽ và có sức hút như thế. Vậy nên Phùng là một người nghệ sĩ chân chính, là người dễ xúc động trước cái đẹp nên mới mang những xúc cảm như thế. Chỉ có người yêu nghệ thuật mới thấy cái Chân Thiện Mỹ trong cái đẹp. “Chẳng biết ai đó đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức?”

Phùng còn là một người lính ghét áp bức bất công, sẵn sàng làm mọi thứ vì lẽ phải và công bằng. Là một nghệ sĩ anh ghét những cái xấu và lên án chúng. Và hơn thế, anh còn là người lính không sợ chết để chiến đấu vì Tổ quốc nên anh sao có thể đứng yên khi thấy cảnh lão đàn ông quật chiếc thắt lưng tới tấp vào lưng người đàn bà như thế. Anh là người nhìn đời bằng con mắt nghệ sĩ, anh với cái nhìn rung động, say mê trước cái đẹp nay lại bàng hoàng khi chứng kiến một cảnh bạo hành như thế.

Anh cứ “đứng há mồm ra mà nhìn”. Rồi cũng chẳng biết khi nào, cái bản tính ghét cay ghét đắng cái xấu lại nổi lên trong Phùng, anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”. Anh chẳng quan tâm đến thứ quý giá nhất của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh tức giận trước cái hành động bạo hành của lão đàn ông kia. Phùng vứt bỏ phương tiện nghệ thuật để cứu lấy người vô tội, để ngăn chặn cái ác đang diễn ra trước mắt. Dù rằng không nhanh bằng cách thằng bé Phác chạy đến cứu mẹ nó. Nhưng đó là hành động biểu hiện cho sự chọn lựa của người nghệ sĩ, đó là con người, và vì con người.

Lần thứ hai, “Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cảnh cô chị gái tước đoạt con dao găm mà đứa em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ người mẹ đáng thương”. “Anh không thể nén chịu hơn được nữa”, Phùng xông ra ngăn lão đàn ông, chấm dứt hành động độc ác của lão, và chính anh cũng bị thương. Phùng khi nghe người đàn bà từ chối việc ly hôn đã không kìm được bình tĩnh, đứng dậy vén màn và ngồi xuống trước mặt người đàn bà làng chài. Khi nghe lời giãi bày của một người học vấn không cao như người đàn bà làng chài đã làm cho người nghệ sĩ nhiếp ảnh phải suy nghĩ, phải nghiền ngẫm về cuộc đời và nghệ thuật.

Vốn dĩ nhìn đời bằng nghệ thuật và hết lòng vì cái đẹp, ngăn cản cái xấu diễn ra, Phùng nhận ra bi kịch của gia đình làng chài, gia đình của Phác. Cuộc đời nếu chỉ nhìn ở một góc độ thì liệu rằng ta có thể nhìn thấu cả nỗi khổ của người khác. Ví như cảnh mũi thuyền trong làn sương thật đẹp biết bao, nhưng trên chiếc thuyền ấy lại chở một tấn bi kịch mà nếu như Phùng không chứng kiến thì ấn tượng của anh vẫn mãi là một cảnh đẹp. Nếu anh không gặp người đàn bà làng chài thì anh đâu biết về lý do bà ta từ chối ly hôn với người chồng vũ phu.

Một người ăn học ít như mụ cũng thấu tình đạt lý tới mức khiến Phùng suy nghĩ về cuộc đời và suy nghĩ về góc nhìn cuộc sống. “Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”. “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. “Đàn bà ở thuyền chúng tôi không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Vậy đấy, cuộc đời lắm lý do khiến con người ta khổ. Mà nghệ thuật nếu chỉ xuất phát và tạo ra cái đẹp thì liệu có khiến người say mê nghệ thuật như Phùng hiểu đời hơn không?

Tóm lại, nhân vật Phùng là người chứng kiến toàn bộ quá trình của câu chuyện, là một người lính ghét cái xấu hoành hành, và là người nghệ sĩ trân trọng cái đẹp chân thiện mỹ. Phùng còn một nhân vật mang thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm đến độc giả. Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước hết hãy là một nghệ sĩ biết rung động đối với những điều bình dị xuất phát từ những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống để từ đó xây dựng những giá trị nghệ thuật làm con người trở nên tốt đẹp hơn. “Sống đã rồi hãy viết hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân” (Nam Cao).

Số 10: Cảm nhận về nhân vật Phùng

Trong thể loại văn xuôi viết về người dân Việt Nam trước năm 1945 có rất nhiều tác phẩm để đời. Với cuộc sống cùng cực dưới ách thống trị của bọn chúa đất ở miền núi, chúng ta có “Vợ chồng A Phủ”, hay chủ nghĩa anh hùng đậm chất sử thi – “Rừng Xà nu”… Nhưng sau đó, năm 1986, xã hội có sự thay đổi, nước ta xóa bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường vì thế văn học cũng có bước chuyển mình. Đề tài thế sự và đạo đưc được các nhà văn xoáy sâu vào khai thác. Và “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ ấy.

Được coi là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất”( Nguyên Hồng), Nguyễn Minh Châu- cây bút tiên phong của văn học Việt nam thời kỳ đổi mới đã có nhiều tác phẩm ấn tượng. Một trong những tác phẩm thành công của ông là “Chiếc thuyền ngòai xa”. Truyện ngắn được sáng tác năm 1983 đến năm 1987 in trong truyện ngắn cùng tên.

Truyện ngắn tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới. truyện ngắn có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Tình huống ấy được thể hiện qua nhãn quan của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Nhân vật này được coi là nhân vật thể hiện triết lý cũng như quan điểm của tác giả, là phương tiện để tác giả mang suy nghĩ của mình đưa đến cho người đọc.

Tình huống truyện trong tác phẩm là tình huống nhận thức, một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống nhận thức này là được dành cho nhân vật Phùng. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, theo yêu cầu của trưởng phòng, anh tới một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại đây anh đã nhận thức được nhiều điều.

Cảm xúc của nhân vật này qua những phát hiện của mình đã thể hiện nội tâm cũng như suy nghĩ của anh, giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp nơi con người này. Trước hết, anh là người có tâm hồn nghệ sĩ.Sau mấy buổi sáng “phục kích”, anh đã chụp được “cảnh đắt trời cho”. Đó là cảnh ban mai vùng ven biển, với “mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đắm say, ca tụng cảnh đẹp như “bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”. Rồi anh cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc”bối rối, tái tim như có gì đó bóp thắt vào”. Anh thấy được cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện-mĩ của cuộc đời.

Anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo và thanh khiết. Từ đó, anh nhận thức “bản thân cái đẹp là đạo đức”. Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đã đưa đến cho người đọc một quan niệm về cái đẹp. Đó chính là cái đẹp là phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái hoàn mĩ.

Không chỉ là người có tâm hồn nghệ sĩ, nhân vật Phùng còn là một người tốt bụng, có lòng đồng cảm với mọi người, mang những đức tính của một người chiến sĩ. Điều này được thể hiện qua phát hiện thứ hai của anh. Từ chiếc thuyền đẹp như ngư phủ kia, bước ra một cặp vợ chồng: người đàn bà xấu xí mỏi mệt, người đàn ông thô kệch dữ dằn.

Họ là những con người hiện thân cho sự lam lũ, nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Sẽ không có gì nếu cảnh tượng nghiệt ngã này không xảy ra trước mắt anh. Người chồng đánh đạp vợ một cách dã man, vừa đánh vừa chửi “mày chết đi cho ông nhờ”, “chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Người vợ thì cam chịu trận đòn, không hề phản kháng lại. Đứa con thương mẹ, xông vào đánh lại bố thì bị ăn hai cái tát. Một cảnh bạo lực gia đình diễn ra ngay trước mắt Phùng. Mặc dù đã chứng kiến biết bao cảnh đau thương trên chiến trường nhưng anh vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự việc này.

Nó hoàn toàn trái ngược với cảnh đẹp thơ mộng nơi đây. Với anh- một người đã trải qua bao nhiêu khó khăn, vượt qua thời kì khó khăn của chiến tranh, anh không thể để cảnh bạo hành này tiếp tục diễn ra. Anh đã nói chuyện này với chánh án Đẩu- bạn của anh. Anh mong muốn mình có thể giúp gì được cho người đàn bà nghèo khổ kia. Quả là một người chính nghĩa. Anh luôn đứng về lẽ phải, muốn bảo vệ lẽ phải và phê phán tố giác những điều xấu, điều ác.

Ngoài ra, nhân vật Phùng còn là người chịu thay đổi suy nghĩ cho phù hợp với hoàn cảnh, không bảo thủ, chấp nhận những cái sai của mình. Ngay từ ban đầu, khi chụp được “cảnh đắt trời cho”, anh đã cho rằng cái đẹp là đạo đức, có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Nhưng khi chứng kiến cảnh bạo hành bên chiếc xe tăng hỏng cùng với những tâm sự của người đàn bà hàng chài, anh đã nhận ra những điều mới. Anh nhận thức được là phải nhìn nhận mọi việc một cách toàn diện Triết lý mà Phùng nhận ra cũng chính là thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. Nghệ thuật không chỉ bắt nguồn từ cuộc sống mà phải gắn liền với cuộc sống.

Nhân vật Phùng là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm này của Nguyễn Minh Châu. Anh vừa là nhân vật tạo tình huống, vừa là nhân vật gắn kết các sự kiện truyện với nhau, thể hiện thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm. Là một người có tâm hồn chiến sĩ và nghệ sĩ, Phùng đã để lại nhiều ấn tượng tốt trong lòng người đọc.

Số 11: Phân tích nhân vật nghệ sĩ Phùng

Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu là truyện ngắn kể lại chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng về vùng biển miền Trung, nơi mà anh từng chiến đấu để chụp bộ ảnh về cảnh biển. Sau chuyến đi ấy thành quả mà Phùng thu được không chỉ là những bức ảnh nghệ thuật được giới “sành nghệ thuật” yêu thích mà còn là những bài học, chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người nghệ sĩ trong cuộc đời.

Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh có niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật, một con người có trách nhiệm trong công việc. Chính vì thế, sau khi nhận được nhiệm vụ từ trưởng phòng giao cho, Phùng đã rất hào hứng, nhanh chóng tìm về vùng biển miền Trung nơi mình từng chiến đấu để tác nghiệp. Suốt nhiều ngày Phùng phục kích trên bãi biển để tìm kiếm, lựa chọn những bức hình ưng ý nhất.

Phùng không chỉ vui vẻ khi được làm điều mình thích mà anh còn rất tâm đắc và say sưa với công việc của mình. Phùng quan niệm rằng, để có được bức ảnh có giá trị phải có sự kết hợp giữa các yếu tố: tài năng, đam mê và sự sắp đặt ngẫu nhiên của tạo hóa. Trong chuyến đi công tác của mình, Phùng đã phát hiện ra chân lí về nghệ thuật cùng những góc khuất xù xì của cuộc sống qua hai phát hiện.

Phát hiện thứ nhất, đó chính là cảnh đẹp trong nghệ thuật. Sau nhiều ngày phục kích trên bãi biển, Phùng đã bắt gặp một cảnh “đắt” trời cho. Đó là cảnh biển buổi sáng với chiếc thuyền lưới vó đang tiến về phía bờ giữa trời mây mù lác đác hạt mưa: “mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”.

Trong cảm nhận của Phùng, hình ảnh ấy đẹp như một “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ” nghĩa là đã đạt đến độ mẫu mực của nghệ thuật. Từ đường nét đến màu sắc đều hài hòa và đẹp hơn nữa là cảnh được nhìn qua những mắt lưới, tấm lưới. Hình ảnh được nhìn qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ có đam mê với cái đẹp nên nó còn lung linh và huyền ảo hơn.

Đứng trước cảnh đẹp Phùng hạnh phúc, xúc động đến tận cùng. Anh cảm thấy bối rối, luống cuống, tay bấm máy ảnh liên tục để ghi lại khoảnh khắc “trời cho” ấy. Không những vậy, Phùng còn cảm thấy “trong trái tim có cái gì bóp thắt vào” anh xúc động nhận ra rằng: “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, cái đẹp có thể thanh lọc tâm hồn.

Đắm chìm trong cảm giác hạnh phúc, vui sướng không bao lâu thì Phùng ngỡ ngàng, chết lặng trước sự thật trần trụi, cay đắng về cuộc đời. Ngay lúc chiếc thuyền tiến vào bờ và sự thật cuộc sống của người dân hàng chài đã hiện. Bước ra từ con thuyền là một lão đàn ông tàn nhẫn và một người đàn bà lam lũ. Người đàn bà cao lớn, thân hình thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch, mặt có nhiều nốt rỗ và trông rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới.

Còn người đàn ông đi sau với mái tóc tổ quạ, tấm lưng rộng và khum lưng như một con thuyền, hai con mắt lão đầy vẻ độc dữ. Họ từ trên thuyền bước xuống chẳng nói chẳng rằng, lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, lão rút chiếc thắt lưng và quật tới tấp vào lưng người đàn bà “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”.

Hành động và lời nói của người đàn ông đầy bạo tàn, cay nghiệt nhưng thật kì lạ, người đàn bà người phải hứng chịu trận đòn roi tàn nhẫn lại có thái độ cam chịu thản nhiên đến mức vô lí. Chị ta không những không chống trả mà thậm chí còn không kêu, không chạy trốn mà chịu đựng trận đòn với thái độ nhẫn nhục.

Trước cảnh tượng đó, Phùng vô cùng kinh ngạc, chỉ biết há hốc mồm ra mà nhìn. Phùng sững sờ và hoảng hốt, rất đỗi bất bình vì không thể tin rằng cuộc đời vẫn còn những oan trái, cay nghiệt như thế, tưởng chừng như đấy chỉ là câu truyện cổ đầy quái đản, là ác mộng chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc chứ không phải cuộc đời. Sau giây phút ngỡ ngàng, tê liệt trước cảnh tượng bạo tàn, Phùng đã quăng chiếc máy ảnh- phương tiện tác nghiệp của người nghệ sĩ xuống đất để lao vào bảo vệ người đàn bà bất hạnh.

Cả hai phát hiện của Phùng mang màu sắc đối lập, tưởng chừng như không liên quan ấy nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu như phát hiện thứ nhất về vẻ đẹp nghệ thuật người ta phải trăn trở, tìm kiếm, lựa chọn bởi vì cái đẹp nghệ thuật ở rất xa. Còn phát hiện thứ hai là sự thật trần trụi về cuộc đời, nó xù xì, thô ráp, ẩn khuất trong cuộc sống nhưng lại ở rất gần, nó hiện hữu ngay trong cuộc sống con người.

Đôi khi con người ta vì mải mê tìm kiếm những cái đẹp đẽ xa vời đã quên đi sự thật ngay trước mắt. Khi chiếc thuyển còn ở xa đó là vẻ đẹp tuyệt mĩ của nghệ thuật, khi chiếc thuyền đến gần hiện ra trước mắt người nghệ sĩ là những cay đắng, trái ngang của cuộc đời. Từ hai phát hiện đối lập, Phùng nhận thức được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: Nghệ thuật phải phản ánh được cuộc sống, không chỉ bề ngoài lung linh hào nhoáng mà còn là những góc khuất ở bề sâu.

Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp cho Phùng cởi bỏ những khúc mắc, bất bình trong lòng. Anh chợt nhận ra những góc khuất đầy đắng cay về cuộc sống của người đàn bà, về cuộc đời vốn muôn màu muôn vẻ. Qua câu chuyện của người đàn bà, Phùng hiểu ra được nhiều điều, anh ý thức được trách nhiệm của người nghệ sĩ, cần có sự gắn bó, thấu hiểu, cần đi sâu vào cuộc sống con người để phát hiện, tìm tòi. Người nghệ sĩ chân chính cần nhìn cuộc đời bằng con mắt cảm thông, không phải cái nhìn như chiếc thuyền ngoài xa.

Với nhân vật Phùng, tác giả Nguyễn Minh Châu đã cho người đọc một bài học hay nói cách khác là một triết lý nhân sinh đúng đắn về nghệ thuật và cuộc đời. Đó là một cách nhìn toàn diện, đa chiều để có thể phát hiện không chỉ vẻ bề ngoài mà còn là bản chất của sự vật. Nhân vật Phùng được khắc họa thành công cũng là thành công trong việc làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của truyện.

Số 12: Cảm nhận nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những cây bút viết truyện ngắn hàng đầu của Việt Nam thời kỳ đổi mới. Trong số những tác phẩm của ông có truyện ngắn “Chiếc thuyền ngòai xa” in đậm phong cách tự sự – triết lý của ông. Với ngôn ngữ giản dị, đời thường truyện kể lại chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng với những chiêm nghiệm sâu sắc về thực tế nghệ thuật và cuộc sống của anh. Nhân vật Phùng trong tác phẩm điển hình cho kiểu xây dựng nhân vật độc đáo của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đó là kiểu nhân vật nhận thức với những cuộc đấu tranh tâm lý rất phức tạp.

Cũng như trong những sáng tác của Nam Cao có nhân vật Thứ trong “Giăng sáng”, Hộ trong “Đôi mắt” hay Độ trong “Đời thừa” là những nhân vật thể hiện những phát ngôn về nghệ thuật của nhà văn Nam Cao. Thì nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” cũng được nhà văn Nguyễn Minh Châu xây dựng là nhân vật thể hiện phát ngôn của mình. Tác giả giới thiệu nhân vật Phùng là một người nghệ sĩ say mê cái đẹp và có trách nhiệm với chính nghề nghiệp của mình. Trước khi là một người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng từng là một người lính đấu tranh với quân thù ngoài chiến trường ác liệt, vào sinh ra tử trên mặt trận để bảo vệ chính nghĩa cũng như bảo vệ chính cuộc sống của mình.

Sau khi hòa bình lập lại anh là một người nghệ sĩ, một nhiếp ảnh gia với tâm hồn say mê cái đẹp và tinh thần trách nhiệm cao với nghề nghiệp của mình. Trong tác phẩm Phùng được anh trưởng phòng kỹ lưỡng chọn ra giao cho một nhiệm vụ quan trọng là hoàn thành bộ ảnh cho cuốn lịch năm ấy. Anh đã có trong tay 11 tấm hình tuyệt đẹp về cảnh sắc thiên nhiên nên khi được giao nhiệm vụ anh quyết định về vùng biển miền trung để chụp tấm thứ 12 còn lại cho bộ lịch hoàn chỉnh. Đây chính tỏ Phùng không phải là một người giản đơn hay qua loa với công việc của mình. Tác cũng muốn nói lên phẩm chất đáng quý của người dân lao động.

Phùng là người nghệ sĩ tài năng biết thưởng thức và say mê cái đẹp, khi anh phát hiện được bức tranh thiên nhiên giàu tính nghệ thuật: “Trước mặt Phùng là khung cảnh thiên nhiên như một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”, “mũi thuyền in một nét mơ hồ”, “vài bóng người lớn và trẻ em ngồi im phăng phắc trên mũi thuyền khum khum như hướng vào bờ”. Đây như một cảnh đắt trời cho, Nguyễn Minh Châu như sử dụng bút lực thật mạnh mẽ, tác giả như có độ am hiểu sâu về nghệ thuật hội họa, nhạy cảm trước vẻ đẹp của nghệ thuật khi miêu tả được vẻ đẹp tuyệt đỉnh “toàn bích” của một cảnh đẹp thông qua một câu văn như thế này.

Câu văn tiếp theo là những hình ảnh cụ thể: “mũi thuyền troi trong bầu sương mù”, “vài bóng người lớn và trẻ con”, có hình ảnh mắt lưới và những tấm lưới. Đây là những hình ảnh cụ thể tuy nhiên độc đáo ở chỗ nhà văn miêu tả cảnh vô cùng huyền ảo bởi có màu của sương huyền ảo lại thêm những ánh nắng ban mai chiếu vào, cảnh tĩnh bởi con thuyền đang im phăng phắc như cũng động bởi con thuyền đang từ từ tiến thẳng vào bờ. Phùng phải là một người nghệ sĩ tài năng mới có sự cảm nhận trong cái đẹp và chớp được một bức ảnh “toàn bích” như thế.

Phùng là người nghệ sĩ rung động và thực sự rung động trước cái đẹp, anh liên tưởng đến một câu nới đó chính là: “Cái đẹp là đạo đức”, “tưởng chính mình đang vừa khám phá ra cái trân lý của sự hoàn thiện, khám phá ra khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Phùng là một người nghệ sĩ chân thực bởi lẽ anh hạnh phúc khi được sáng tạo, khi được lao động, khi cảm nhận được cái đẹp lãng mạn và hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc đời anh như được thanh lọc, tinh khôi. Phùng còn là một người nhân hậu khi tận mắt chứng kiến một cảnh tượng lạ lung đó là trên chiếc thuyền đẹp nhu mộng kia bỗng bước xuống một người đàn bà vô cùng xấu xí và một người đàn ông thô bạo. Người đàn ông kia kéo người đàn bà đánh đập không thương tiếc.

Ban đầu Phùng rất ngạc nhiên nhưng khi nhận ra tình huống ấy anh vứt chiếc máy ảnh ra một bên và nhảy vào định cứu giúp cho người đàn bà xấu số nhưng thằng con trai của chị đã nhanh hơn. Phùng chỉ biết đứng ngoài chứng kiến cảnh tượng ấy. Phùng chợt nhận ra một điều rằng đằng sau cái vẻ đẹp dường như toàn bích kia lại tồn tạ một cái ác, cái xấu xa đến vô đạo đức, những đau khổ, bất công vẫn luôn tồn tại thường trực trong chính cuộc sống mà Phùng nghĩ là tươi đẹp, màu sắc kia khi nó bị che phủ bởi những cái đẹp ấy. Qua đây nhà văn thể hiện thông điệp của mình muốn gửi gắm đến người đọc đó chính là: đừng bao giờ nhầm lẫn giữa hình tượng bên ngoài và vật chất bên trong và đừng vội đánh giá con người ở vẻ bề ngoài xấu xí của họ.

Qua việc xây dựng thành công nhân vật Phùng tác giả Nguyễn Minh Châu muốn mang đến cho người đọc một thông điệp về giá trị của lòng nhân đạo trong cuộc sống: Cần phải biết sống và sáng tạo vì con người, nghệ thuật chân chính là thứ nghệ thuật phải xuất phát từ con người, cuộc đời của chính họ và nó phải quay trở lại để phục vụ cho đời sống, cứu rỗi nhân sinh đây mới chính là vẻ đẹp chân chính và nghệ thuật chân chính của người nghệ sĩ.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 13: Phân tích nhân vật Phùng

Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp”.

Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khỏe khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh. Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ:

“Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.

Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xóa tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người.

Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hòa với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…

Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót.

Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình.

Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.

Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.

Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đằng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh.

Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…

Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến. Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”.

Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.

Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời.

Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia?

Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

Số 14: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút xuất sắc, là người mở đường tinh anh và tài hoa của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Sau giải phóng, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này không còn tập trung vào đề tài chiến tranh khốc liệt mà xoáy sâu vào vấn đề đạo đức thế sự, số phận của con người giai đoạn hậu chiến. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất thể hiện được tài sáng tác cũng như phong cách truyện ngắn của tác giả, cùng với nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc, thông qua nhận thức của nhân vật Phùng.

Phùng trước đây cũng từng tham gia chiến đấu, sau khi giải phóng, anh trở về làm việc cho một tòa soạn với vai trò nhiếp ảnh gia. Để có được một bộ lịch nghệ thật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng của Phùng đã giao cho anh nhiệm vụ đi thực tế tìm chụp cảnh biển buổi sáng có sương mờ. Nhân cơ hội công tác, Phùng đã tìm về một vùng biển yên bình, nơi có người đồng đội cũ là Đẩu, đồng thời đó cũng cũng là chiến trường cũ của anh thời còn kháng chiến chống Mỹ.

Tuy nhiên để chụp được một bức ảnh ưng ý, đúng với yêu cầu của cấp trên thì không phải chuyện dễ, và đặc biệt Phùng lại là người có trách nhiệm và yêu cầu cao với những tác phẩm mà mình sáng tạo ra. Chính vì thế người nghệ sĩ đã kiên nhẫn “phục kích” ở bãi biển này đến cả tuần trời quyết bắt cho được một tấm ảnh hợp ý.

Sau mấy ngày phục kích trên bãi biển, cuốn phim vẫn chưa suy chuyển bao nhiêu thì trong một buổi sáng sớm, trời lất phất mưa, Phùng bỗng bắt được một cảnh “đắt” trời cho, mà theo anh thì có lẽ suốt một đời cầm máy cũng chưa chắc một lần được gặp. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ, lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.

Trong lòng Phùng tự ví cảnh tượng ấy như “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, mang vẻ đẹp “thực đơn giản và toàn bích” khiến cho trái tim vốn tha thiết với cái đẹp của Phùng dường bị bóp thắt vào, đầy bối rối. Biểu hiện ấy thực giống kẻ si tình có cuộc chạm mặt đầy xúc động với nàng thơ mà mình hằng mong nhớ biết bao năm tháng.

Cũng trong chính những giây phút bối rối, ngỡ ngàng ấy bản thân Phùng tưởng mình vừa “khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đồng thời trước cái đẹp toàn bích ấy, Phùng tự dựng ra một triết lý rằng “bản thân cái đẹp là đạo đức”, và rất tâm đắc với nhận định ấy của mình.

Với sự nhạy cảm và lòng say mê nghệ thuật, Phùng quyết không để vuột mất cái cảnh “đắt” trời cho trước mặt, anh chẳng cần xê dịch gì thêm nữa mà nhanh chóng đưa máy lên bấm “liên thanh” một hồi hết phần tư cuốn phim, rồi mới hài lòng buông máy xuống. Thu vào những bức ảnh tuyệt diệu, mà Phùng tưởng như đang thu vào cái khoảnh khắc hạnh phúc ngập tràn tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh mang lại.

Ngoài tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, tâm huyết và trách nhiệm với nghề nghiệp ta còn nhìn thấy được tấm lòng nhân hậu của Phùng trong sự trăn trở về số phận con người. Điều đó được thể hiện ở nhiều khía cạnh trong tác phẩm, đầu tiên là ở sự kiện ngay khi Phùng đang hạnh phúc, sung sướng trong mộng tưởng về cái đẹp toàn bích, toàn diện không bao lâu, thì anh đã lập tức vỡ mộng ngay sau đó.

Bao nhiêu những cái triết lý về nghệ thuật, về cái đẹp của Phùng chẳng đủ sức để chống lại sự thật nghiệt đang xé toang cái cảnh “đắt” trời cho trước mắt. Từ một trong những con thuyền bước xuống một người đàn ông thô lỗ và một người đàn bà khốn khổ. Cảnh người đàn ông dùng chiếc thắt lưng quất vào tấm lưng người đàn bà, vừa đánh vừa nghiến răng chửi rủa đầy căm hận “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”, còn người đàn bà thì chỉ im lặng chịu đựng trận đòn đang giáng xuống mà không hề chống cự.

Cảnh tượng kinh hoàng ấy khiến Phùng, một con người luôn nghĩ về cuộc sống êm đẹp, hạnh phúc sau ngày hòa bình lập lại phải sửng sốt, bàng hoàng, trong một lúc anh cứ “đứng há mồm ra mà nhìn”. Bởi lẽ anh không biết phải đối diện với cái cảnh tượng bạo lực ấy như thế nào.

Phùng bất ngờ, bối rối trước những gì đang diễn ra, tuy nhiên, chỉ qua một vài phút anh đã trấn tĩnh lại, với tấm lòng và trái tim của một người lính đã chinh chiến bao năm để giải phóng, đất nước, giải phóng con người thì cảnh tượng trước mắt khiến anh căm giận. Phùng vứt chiếc máy ảnh xuống đất, cởi bỏ dáng vẻ của người nghệ sĩ, trở về với vai trò của một con người mà chạy nhào tới để căn ngăn cảnh bạo lực, bảo vệ người đàn bà khốn khổ.

Hai bức tranh một sáng một tối mà anh được chứng kiến đã khiến lòng Phùng nghĩ về những câu chuyện cổ tích đầy quái đản, ở đấy người ta vừa được bước lên thiên đường hạnh phúc, thì chỉ một lúc sau lại bị dìm xuống dưới địa ngục sâu thẳm. Cuối cùng tất cả tan biến như một giấc mộng, khiến người ta không khỏi trăn trở, thổn thức. Để giúp người đàn bà thoát khỏi cuộc sống như địa ngục với người chồng vũ phu, tàn nhẫn, Phùng đã quyết định ở lại vài ngày dù công việc đã hoàn thành.

Tại tòa án huyện Phùng có cơ hội nghe về câu chuyện đời của người đàn bà làng chài, biết được hoàn cảnh khốn khổ của chị, cả Phùng và Đẩu đều hết sức bức xúc, ra sứ khuyên giải người đàn bà ly hôn với chồng. Phùng đã nghĩ rằng chỉ có cách này mới có thể cứu cuộc đời người đàn bà thoát khỏi cái vũng lầy hôn nhân đáng chết ấy, thế nhưng có lẽ anh đã nhầm, hoặc anh không hiểu hết về cái câu chuyện mà anh đang đối mặt.

Khi nghe người đàn bà van xin để không phải bỏ chồng, anh bỗng thấy “căn phòng ngủ lộng gió biển của Đẩu dường như bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”, anh buộc phải xuất hiện để giải quyết cái sự ngột ngạt đang chèn ép nơi trái tim của mình.

Sở dĩ người nghệ sĩ thấy thế bởi lẽ anh chẳng thể hiểu được căn nguyên tại sao người đàn bà kia lại sống chết không chịu bỏ lão chồng vũ phu, anh cảm thấy “không thể nào hiểu được”. Anh không chấp nhận nổi cái sự vô lý đang xảy ra trước mắt và anh cần một cái công bằng dành cho người phụ nữ khốn khổ ngoài kia, giải thoát chị khỏi cảnh cam chịu, đớn đau

Nhưng rồi nỗi khó hiểu ấy cũng được dẹp yên bằng những lời bộc bạch của người phụ nữ khốn khổ, chị ta không chịu bỏ chồng vì chị muốn các con có một gia đình hoàn chỉnh, chị cũng hiểu một con thuyền trên biển không thể thiếu đi bàn tay chèo lái của người đàn ông.

Cuối cùng là vì chị nhớ ơn nghĩa của người đàn ông đã cứu vớt cuộc đời chị thời trẻ, chị vẫn nhớ có những lúc gia đình êm ấm thuận hòa, nhớ những ngày xưa đã từng có lúc chồng chị hiền hòa. Chị thông cảm cho chồng mình, giá mà chị đẻ ít đi, giá như cái thuyền rộng hơn, giá như cuộc sống đỡ vất vả hơn chút thì chồng chị cũng chẳng đâm ra cục tính, độc ác đến vậy. Tất cả cũng chỉ tại hoàn cảnh đẩy đưa, và chồng chị có lẽ cũng đang mang trong mình nỗi đau, sự bất lực mà không ai hiểu thấu.

Trước những tâm sự ấy của người đàn bà, dường như cả Phùng và Đẩu đều vỡ ra trong lòng một thứ gì đó rất mới. Phùng trở lại phố thị với tấm ảnh mà anh dày công lựa chọn, tuy chỉ là tấm ảnh đen trắng, thế nhưng mỗi khi nhìn vào nó anh vẫn thấy hiện lên cái hồng hồng của buổi sớm ban mai hôm ấy, bước ra từ trong ấy là dáng vóc cao lớn, lam lũ của người đàn bà làng chài đang bước đi những bước chậm rãi, hòa lẫn vào đám đông.

Có thể thấy rằng dù câu chuyện đã đi qua rất lâu, Phùng trở về với cuộc sống của mình, thế nhưng anh vẫn không thôi trăn trở về câu chuyện của người đàn bà làng chài

Nếu như ban đầu Phùng luôn nhìn nhận cuộc sống ở một khía cạnh, bằng con mắt giản đơn, một chiều, chủ nghĩa “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Thì sau cuộc gặp gỡ với người đàn bà làng chài, trong tâm hồn Phùng bỗng nảy nở nhiều triết lý sống mới mẻ, ấy là trong nghịch lý luôn tồn tại những cái có lý và con người.

Những bi kịch, những nỗi đau âm thầm vẫn đang ẩn chứa đằng sau lớp vỏ đẹp đẽ, tuyệt mỹ tuyệt diệu mà nếu như không có cái nhìn đa diện nhiều chiều, không thực sự bước chân vào đời sống và tâm hồn của mỗi kiếp người đang khốn khổ, người nghệ sĩ sẽ chẳng bao giờ nhận ra được.

Và quan trọng nhất với người nghệ sĩ là thấm nhuần tư tưởng “nghệ thuật vị nhân sinh”, cái đẹp phải là cái khởi nguồn từ cuộc sống, mà người nghệ sĩ cần phải đào, tìm kỹ để khai thác cho mình những hạt châu quý giá, chứ không phải tự ngộ nhận những cảnh mơ hồ, rụng rơi ngoài vũ trụ làm đại diện cái vẻ đẹp toàn bích vô ngần và cho nó là đạo đức.

Đồng thời bản thân Phùng cũng hiểu được một điều rằng, chiến tranh qua đi, đất nước được giải phóng, ấy thế nhưng vẫn còn những con người đang bị mắc kẹt lại bởi cái đói nghèo, lạc hậu, vẫn chưa được tự do hoàn toàn. Nỗi khổ sở của họ không thể chỉ dùng pháp luật và sự công bằng để giải quyết mà còn cần một cách thức khác, dù rằng cách thức còn đang mơ hồ trong tâm hồn Phùng, khiến anh mãi trăn trở, day dứt về sau, một cảm giác bất lực, băn khoăn,…

Nhân vật Phùng trong tác phẩm chính là đại diện cho góc nhìn của Nguyễn Minh Châu, cũng như quan niệm của tác giả về làm nghệ thuật, mà quan điểm ấy có thể được gói gọn trong mấy lời sau của nhà văn Nam Cao rằng “Chao ôi, nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than….

Và người nghệ sĩ dẫu yêu mến cái đẹp cũng phải chấp nhận cảnh “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan”, để từ đó có cái nhìn chân thực, đa diện, nhiều chiều khai thác được những cái đẹp từ cuộc sống đời thường, thậm chí là cả từ trong những cái có vẻ vô lý, trái ngang nhất. Nghệ thuật ấy mới đáng là thứ được trân trọng tôn vinh, thế nghệ thuật vị nhân sinh, vì con người mà lên tiếng.

Số 15: Phân tích hình tượng nhân vật Phùng

Nguyễn Minh Châu được mệnh danh là “người mở đường tinh anh và tài hoa” của nền văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Nhận ra nhu cầu đổi mới của văn học, Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn thay đổi chủ đề, hướng khám phá về chiến tranh sang cuộc sống đời thường của con người. Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm điển hình thể hiện sự tinh anh, tài năng của người mở đường Nguyễn Minh Châu. Trong truyện ngắn này, mọi tư tưởng, quan niệm của nhà văn được kí thác thông qua nhân vật Phùng.

Phùng là người nghệ sĩ nhiếp ảnh, vì được giao nhiệm vụ chụp bộ ảnh Tết nên Phùng đã về vùng biển miền Trung, nơi anh đã cùng đồng đội chiến đấu để tác nghiệp. Sau rất nhiều ngày tìm kiếm, chụp nhiều kiểu ảnh vùng biển cuối cùng anh Phùng cũng phát hiện ra khoảnh khắc trời cho với khung cảnh biển tuyệt bích như bức tranh cổ.

Trái tim của người nghệ sĩ đã rung động trước khoảnh khắc có một không hai ấy “ …tôi trở nên bối rối trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá cái chân lí của sự hoàn thiện” Tuy nhiên cũng trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ấy, anh Phùng bàng hoàng phát hiện ra sự thật tàn nhẫn trong một gia đình người đàn bà hàng chài.

Vốn là người giàu lòng yêu thương, trân trọng với con người nên khi chứng kiến sự bất công, bạo tàn khi người chồng đánh đập người vợ dã man, anh Phùng đã ném máy ảnh – phương tiện tác nghiệp của người nghệ sĩ xuống đất để lao vào ngăn cản người đàn ông. Ở giây phút ấy anh Phùng đã tạm gác tư cách của người nghệ sĩ để hành động như một người bình thường khi chứng kiến bất công.

Anh Phùng từng là người lính chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước nên anh không thể chấp nhận, cũng không thể hiểu được vì sao người đàn ông có thể đối xử tàn nhẫn với chính người vợ đầu gối tay ấp của mình đến vậy “cái xấu ắt là từ phía địch”… “gã đàn ông kia ắt hẳn là từng đi lính ngụy”.

Để giúp đỡ người đàn bà bất hạnh, dù đã chụp xong bộ ảnh nhưng anh Phùng vẫn quyết định ở lại để cùng Đẩu giúp người đàn bà li hôn với chồng. Trước thái độ chối từ giúp đỡ của người đàn bà hàng chài, Phùng không thể hiểu nổi, thậm chí phẫn nộ trước thái độ cam chịu của chị ta. Tuy nhiên khi nghe người đàn bà ấy kể về câu chuyện của gia đình mình thì anh lại cảm thông, xót xa cho số phận của người đàn bà.

Cũng qua câu chuyện ấy anh hiểu được góc tối, mặt trái vô lí đầy bất công vẫn tồn tại trong cuộc sống của con người. Người đàn ông vũ phu, tàn nhẫn kia thực chất cũng là một con người đáng thương, là nạn nhân của cái đói cái nghèo. Còn người đàn bà hàng chài, bên trong vẻ ngoài thô kệch, xấu xí ấy lại là những phẩm chất đáng trân trọng. Từ đây anh Phùng hiểu ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa nghệ thuật và người nghệ sĩ, nếu nghệ thuật mà tách rời với cuộc sống thì nghệ thuật ấy không có giá trị.

Số 16: Cảm nhận về nhân vật Phùng

Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh cho văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Các tác phẩm của ông thường được xây dựng trên những tình huống nghịch lý, qua đó làm nổi bật giá trị tư tưởng. Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm tiêu biểu của ông- một tác phẩm thấm đẫm giá trị nhân đạo. Truyện đã xây dựng thành công nhân vật Phùng- một người nghệ sĩ với khao khát vươn tới giá trị chân chính của nghệ thuật và ý nghĩa thực sự của đời sống con người.

Trước hết, Phùng là một nghệ sĩ giàu trách nhiệm với công việc. Rời xa chiến trường, về với cuộc sống yên bình, anh làm nghề nhiếp ảnh. Nhận nhiệm vụ đi thực tế để tìm kiếm một bức ảnh bổ sung cho bộ lịch nghệ thuật thuyền và biển để xuất bản, Phùng bắt đầu hành trình của mình bằng tất cả sự tận tâm vốn có của người nghệ sĩ. Suốt hơn một tuần lễ tìm kiếm, Phùng đã phát hiện được một vẻ đẹp “đắt trời cho”.

Đó là một vẻ đẹp toàn bích khiến Phùng cảm thấy hạnh phúc “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ… toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp.” Vẻ đẹp ấy, khiến phùng như thắt lại, rồi vỡ oà cảm nhận giây phút trong ngần của tâm hồn và nhận ra cái đẹp chính là đạo đức.

Có thể nói phải là một người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, Phùng mới có những cảm nhận đầy tinh tế, quan sát tỉ mỉ từng chi tiết của khung cảnh để thu vào tầm mắt mình những gì đẹp đẽ nhất mà thực tại và tạo hoá ban tặng. Cũng là một nhiếp ảnh thiên lương, Phùng mới có thể nhận ra một ý nghĩa đáng trân trọng “cái đẹp chính là đạo đức” sau giây phút chạm lấy cảnh thực.

Phùng cũng là một nghệ sĩ giàu tình cảm và vô cùng lương thiện. Khi nhận ra hiện thực nghiệt ngã đằng sau bức tranh ấy: “Lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà… cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.

Trước cảnh tượng ấy, Phùng hết sức kinh ngạc, đứng há hốc mồm, không dám tin vào mắt mình. Bất giác từ giây phút nào anh vứt máy ảnh nhào tới, can ngăn hành động vũ phu và tàn nhẫn của người đàn ông. Trái tim nhân hậu, yêu chính nghĩa đã thôi thúc Phùng hành động, anh không thể cam lòng đừng nhìn kẻ yếu thế- một người đàn bà tội nghiệp phải chịu những đòn roi từ chính người chồng của mình. Đó là sự thương cảm của một tấm lòng cao đẹp, dũng cảm đứng lên bênh vực người khốn khổ.

Trong lần thứ hai, khi chứng kiến lại cảnh tượng ấy một lần nữa, Phùng đã hành động mạnh mẽ khi tiến đến đánh người đàn ông độc ác kia. Bằng tất cả sự căm thù cái ác, Phùng dùng bàn tay của một người lính từng vào sinh ra tử trên chiến trường để tiêu diệt cái ác, anh tự nhận rằng “ Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh.”.

Không chỉ lương thiện, Phùng còn là một con người có nội tâm sâu sắc, trăn trở với cuộc sống của con người, đặc biệt là những người khốn khổ. Khi lắng nghe những lý do mà người đàn bà đưa ra để từ chối yêu cầu ly hôn của chánh án Đẩu, Phùng đã hiểu hơn về cuộc sống, cuộc đời của những người hàng chài khốn khổ. Anh lo lắng cho số phận của họ, những con người suốt đời cam chịu, nhẫn nhục, cho số phận của những đứa trẻ lớn lên trong cảnh bạo lực của cha chúng.

Chỉ biết bức ảnh của nghệ sĩ Phùng được lặp lại cuối truyện “Bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá,nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” như minh chứng cho sự trăn trở của người nghệ sĩ trước cuộc sống “muôn hình vạn trạng” và cả những trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với hiện thực cuộc sống.

Có thể nói, bằng tài năng trong ngòi bút của mình, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nên một nhân vật Phùng đầy ấn tượng. Ở Phùng là một con người tuy không quá hoàn hảo nhưng hội tụ vẻ đẹp của một người lính có tấm lòng nhân hậu và một người nghệ sĩ chân chính, hết mình vì nghệ thuật. Bằng sự tự nhận thức của mình, Phùng cũng đã gửi gắm đến độc giả một thông điệp về cuộc sống: “Đừng nhìn cuộc đời, con người một cách phiến diện mà phải có cái nhìn đa chiều, trong nhiều mối quan hệ khác nhau.”.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Số 17: Phân tích nhân vật nghệ sĩ Phùng

Nguyễn Minh Châu là 1 nhà văn thường đưa những câu chuyện, trải nghiệm thực tiễn của bản thân vào những tác phẩm văn chương của mình. Thành ra, những tác phẩm của ông thường đem đến cho người đọc những cảm giác rất thân cận, thân quen và chân thực. Trong cuộc sống mưu sinh, bề bộn tìm kiếm hạnh phúc thực thụ, ông đã viết nên tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nổi trội trong câu chuyện là hình tượng đối tượng Phùng – 1 nghệ sĩ nhiếp ảnh luôn tôn thờ và khẩn thiết được sống cùng cái đẹp.

Trong thời chiến tranh, người lính luôn là đề tài truyền biết bao cảm hứng dành cho các nhà thơ, nhà văn. Đối với Nguyễn Minh Châu, ông lấy cảm hứng để xây dựng đối tượng Phùng đã từng là 1 người lính, giờ là 1 phóng viên ảnh luôn khát khao cái đẹp.

Mở màn câu chuyện bằng 1 cảnh huống đầy bất thần. Theo chỉ thị của trưởng phòng, Phùng đã đến 1 hải phận từng là trận mạc xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Tại nơi đây, đã có biết bao xúc cảm tràn về, những kỉ niệm cùng cảnh đẹp của đất trời đã làm cho tâm hồn anh bị choáng ngợp.

Sau biết bao ngày nghĩ suy, tìm kiếm ý nghĩ, đề tài, anh đã chụp được 1 bức ảnh thật đẹp và vô cùng hợp ý. Đôi mắt anh đã bắt gặp 1 quang cảnh hoàn hảo “trước mặt tôi là 1 bức tranh mực tàu của 1 danh họa thời cổ. Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ lòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha tí đỉnh màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. … trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh cảm thấy tâm hồn mình trở thành mơ mộng, trong trẻo biết bao. Đã biết bao lâu rồi, anh ko tìm được cái đẹp tới nhường nào.

Thế nhưng mà, từ sau chiếc thuyền ngoài xa đấy, anh đã thấy 1 đôi vợ chồng hàng chài, lão con trai với dáng hình cục cằn mạnh tay đánh vợ chỉ để xả stress nỗi cực khổ uất ức của mình. 1 người nữ giới xấu xí, héo mòn được chở che bởi thằng đàn ông của bà – thằng Phác. Ngay ngay lập tức, anh đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào đến”. Cái đẹp của cảnh vật không thể che mờ những mảng tối của cuộc sống. Vẻ đẹp của Phùng càng được rạng ngời nhờ tấm lòng nhân từ, đầy lòng trắc ẩn.

Câu chuyện chưa ngừng lại ở đấy, 3 ngày hôm sau Phùng lại chứng kiến cảnh lão con trai đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm nhưng thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Với tính cách của người lính, những người đã từng đổ biết bao công lao mồ hôi, máu và nước mắt để bảo vệ quốc gia, mong cho quần chúng có được cuộc sống hạnh phúc yên ấm thì quang cảnh này thật đi ngược với những ước mong, tiêu chí của các anh.

Chính thành ra, Phùng đã “nện cho hắn 1 trận ra tuồng”. Anh cũng bị thương và được đưa về trạm y tế của tòa án huyện. Tại đây, người nữ giới nghèo đói kia đã 1 mực nài xin cho người chồng kia rằng “quý tòa đừng bắt con phải bỏ nó”. Khi con người ta phải chịu cầm tù áp bức, tưởng rằng tự do sẽ là điều họ khát khao nhất. Thế nhưng mà, sau lúc nghe câu chuyện của bà, Phùng và bạn đọc mới có thể hiểu được những khúc mắc, lý do của những mảnh đời đấy.

Người nữ giới đấy luôn chuẩn bị chịu đựng gieo neo, nghèo đói vì chồng vì con. Với phận sự là 1 người vợ, người mẹ đã truyền cho bà biết bao sức mạnh để đối diện với cuộc sống. Có những ngày “3 ngày 1 trận nhẹ, 5 ngày 1 trận nặng” nhưng mà chưa bao giờ bà tìm cách trốn chạy. Bà biết dù bà có rũ bỏ tất cả thì cũng chẳng thể dứt bỏ được mối dây liện hệ với những đứa con của bà.

Bạo lực gia đình luôn là 1 vấn đề nhức nhói trong xã hội, con người ta cứ phải lẩn quẩn trong khoảng vây của những mối quan hệ gia đình nhưng chẳng có cách nào thoát khỏi nó. Những thương tổn nhưng người đàn bà và những đứa trẻ không có tội phải chịu đựng, được che đậy ẩn chứa sau cái đẹp nhưng Phùng đã trông thấy. Tự dưng, anh tinh thần được rằng: hạnh phúc vẫn luôn gắn liền với cực khổ, cái đẹp luôn tiềm tàng cái ác, cái xấu.

Sống trong cảnh ngộ gieo neo, cơm áo gạo tiền, con người ta vẫn luôn mưu cầu hạnh phúc. Biết bao dự kiến, giá như người ta muốn tiến hành. Giá như “tôi đẻ ít và chúng tôi mua được cái thuyền rộng hơn” của người đàn bà đấy, giá như người con trai đấy có đầy đủ điều kiện để nuôi vợ chăm con của lão, có lúc nào lão ko biến thành 1 người tương tự.

Có hàng vạn hàng ngàn phép tắc nhưng người ta đưa ra để lý do giảng giải cho cuộc đời họ, lúc luật pháp nghiêm minh bảo vệ họ thì vẫn chẳng đủ để chỉnh sửa được cuộc đời nhưng họ đã chọn lọc. Tác giả đã cho đối tượng Phùng được can thiệp, giúp sức những con người đấy nhưng mà họ khước từ. Phcửa ải chăng, trục đường chiến đấu cho nhân quyền và thoát khỏi cuộc sống nghèo đói còn chướng ngại, khó khăn hơn cả cuộc chiến đấu giải phóng quốc gia.

Những trằn trọc, nghĩ suy trong lòng Phùng chắc hẳn cũng chính là những dòng cảm tưởng chung cho cả dân tộc. Li hôn liệu có thể đáp ứng được những hậu quả của 1 cuộc hôn nhân ko hạnh phúc. Biết bao gieo neo, bão tố ngoài biển khơi cũng không thể nào so sánh được với những chơi vơi, sóng gió của cuộc đời.

Chiếc thuyền ngoài xa qua lăng kính nghệ thuật của đối tượng Phùng, đã điểm tô nên cảnh đẹp của đất trời Việt Nam. Sâu xa trong những bức hình ảnh, những thảm kịch, cay đắng vẫn đang ngày đêm diễn ra ở cuộc sống đời thường của những công nhân nghèo. Bằng tâm hồn của người lính, chấp nhận nhân từ yêu trọng cái đẹp, hòa bình của người làm nghệ thuật, Phùng đã gắn kết những câu truyện, mảnh đời trong văn học đến cuộc sống đời thực trở thành thân cận, chân thực biết bao.

Số 18: Cảm nhận nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu với tác phẩm tiêu biểu cho cả phong cách lẫn nghệ thuật là Chiếc thuyền ngoài xa”là thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ ở. “Chiếc thuyền ngoài xa”. Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và Phùng là một nhân vật như thế.

Trong tác phẩm này, nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Chính vì muốn tìm tới những điều mới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Để có được những khoảnh khắc và bức hình ăn ý, Phùng đã bỏ ra thời gian là một tuần lễ suy nghĩ tìm kiếm, phục kích mới chụp được một bức ảnh ưng ý, một cảnh đắt trời cho.

Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ trở nên khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổi.

Trong tác phẩm này, anh không chỉ là người yêu cái đẹp mà thờ ơ với mọi thứ mà còn là người căm ghét áp bức bất công, dám đối diện với cái ác và hành động chống lại cái ác. Sau phút ngỡ ngàng thấy cái ác, diễn ra ngay trước mắt, Phùng đã phản xạ một cách tự nhiên như một người yêu sự công bằng. Anh vội vàng vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy đến ngăn cản người đàn ông vũ phu. Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người.

Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”..

Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp Phùng hiểu ra nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ sau đó lại cảm thông chua xót cho số phận của người đàn bà. Bỗng nhiên Phùng hiểu ra đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cuộc đời.

Cuộc sống luôn chứa đựng những mặt sần sùi không phải khi nào cũng là màu hồng. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu ấy chính là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Đồng thời ai cũng nhận ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.

Sau khi khắc họa và tạo tình huống cho truyện, Phùng nổi bật với tấm lòng âu lo, trắc ẩn về con người. Khi nhiệm vụ đã hoàn thành anh đã khoác chiếc máy ảnh đi lang thang tới tận khuya để suy ngẫm. Phùng nhìn thấy một chiếc thuyền lưới vó đang đậu giữa phá trong cơn gió bão cấp 11. Đó chính là biểu tượng của tấm lòng âu lo, trăn trở của Phùng về cuộc sống nhân sinh, cũng chính về tấm lòng đó mà Phùng luôn nhìn thấy người đàn bà lam lũ bước ra từ bức tranh hoàn toàn tĩnh vật.

Là người luôn luôn khát khao bùng cháy tìm tới và khát khao cái đẹp, nhưng anh không về thế mà quay lưng lại với sự thật cuộc đời cho dù sự thật ấy phũ phàng, trần trụi. Điều đáng quý nhất ở Phùng là tấm lòng dành cho con người trong cuộc sống, cái nhìn của anh về người đàn bà hàng chài, chị em thằng Phát vì thế thấm thía niềm cảm thông trân trọng. Những tưởng câu chuyện chỉ có bề nổi như vậy nhưng đằng sau ấy là cả một dụng ý của tác giả, cũng ẩn ý cho cách nhìn đời nhìn người một cách khác biệt sâu sắc.

Đọc truyện ngắn, Phùng hiện ra cùng với những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Cuộc đời và nghệ thuật có mối quan hệ gần gũi với nhau không tách rời nhau

Số 19: Phân tích nhân vật Phùng

Văn học hiện thực – lãng mạn 1930-1945 khá nổi bật với tuyến nhân vật tư tưởng Điền trong “Giăng sáng” hay Hộ trong “Đời thừa” của văn Nam Cao. Các nhân vật luôn có sự đấu tranh nội tâm để nhận thức và triết lí sống. Tôi khá bất ngờ khi một lần nữa bắt gặp tuyến nhân vật này trong văn học hiện đại thời kì Đổi mới. Đó là Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật Phùng mang nhiều ý nghĩa về quan niệm nghệ thuật và triết lí nhân sinh của nhà văn.

Phùng là người nghệ sĩ tài năng, có lòng say mê với nghề và trách nhiệm với công việc của mình. Với nhiệm vụ của Trường phòng giao phó, Phùng quyết tâm chụp được những bức ảnh chất lượng nhất để hoàn thiện bộ lịch năm ấy. Sau nhiều ngày “phục kích” trên bãi biển cách Hà Nội 600km, Phùng phát hiện ra bức tranh thiên nhiên tựa “cảnh đắt trời cho”, “tuyệt mĩ và toàn bích”.

Chỉ một người nghệ sĩ tài năng và nhạy cảm trước cảnh đẹp mới có thể nhận ra bức tranh như thế, một “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”, “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng vào mặt bờ”… Phùng là người nghệ sĩ chân chính khi được khám phá và sáng tạo, khi được cảm nhận cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc đời. Phùng dường như được Nguyễn Minh Châu gắn cho sứ mệnh của người nghệ sĩ: phát hiện và mang lại cái đẹp đến với cuộc đời.

Phùng là người nghệ sĩ có tấm lòng bao dung, không chấp nhận sự bất công nhưng lại có cái nhìn quá đơn giản về cuộc sống. Chứng kiến cảnh tượng người đàn bà bước ra từ con thuyền ngư phủ và bị chồng đánh, Phùng liền vứt chiếc máy ảnh xuống đất để nhào tới bênh vực người đàn bà. Phùng không chịu thờ ơ trước cái bất công, trước nỗi đau của người khác. Phùng còn đề nghị chị ly hôn để tự giải thoát hoàn cảnh bản thân. Khi nghe lời giãi bày của người đàn bà ở toà án huyện đặc biệt là lời van xin khẩn thiết, Phùng không thể hiểu được, Phùng không lí giải được.

Chính điều này đã cho thấy Phùng là người có cái nhìn cuộc sống còn đơn giản, không hiểu được cái lí của con người phải sống cuộc đời trong vòng vây cái đói nghèo, không hiểu được tình thương đan cài với sự thù hận, giữa niềm vui với nỗi buồn. Phùng dường như dần vỡ lẽ: lòng tốt trong cuộc đời là thứ đáng quý nhưng chưa đủ, phải gắn nó với từng hoàn cảnh và mối quan hệ khác nhau.

Nguyễn Minh Châu là nhà văn thường xây dựng kiểu nhân vật tư tưởng tự nhận thức, nhân vật Phùng cũng thuộc tuyến nhân vật này. Phùng là người nghệ sĩ luôn có ý thức hoàn thiện nhân cách. “Xách máy đi lang thang đến tận khuya”, chi tiết này gián tiếp chứng tỏ nhận thức của Phùng đã thay đổi và anh ta để cho tâm hồn mình hòa vào một cảnh ít thi vị “trời bắt đầu nổi sóng”, “những mảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm”, “chiếc thuyền đang chống chọi với sóng giữa phá”…

Người nghệ sĩ đã không còn chỉ tha thiết với thiên nhiên mỹ lệ mà còn biết hướng ống kính đến cuộc sống lam lũ, mưu sinh của con người, trăn trở với nỗi nhọc nhằn của cuộc sống cơ cực. Truyện kết thúc trong nỗi trăn trở của Phùng về hình ảnh người đàn bà cứ hiện ra sau mỗi lần anh nhìn bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa. “Mãi mãi về sau”, cụm từ này nhấn mạnh người nghệ sĩ sẽ phải mãi đau đáu về một kiếp nhân sinh.

Tóm lại, thông qua nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu điển hình cho kiểu nhân vật tự nhận thức và mang thông điệp nhân đạo mới mẻ của nhà văn. Sau cùng, Phùng đã thay nhà văn tuyên ngôn: Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, xuất phát và quay lại để phục vụ cuộc sống.

Số 20: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

Chiếc thuyền ngoài xa – một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm cho thấy sự đổi mới trong nội dung sáng tác của ông. Không còn đi vào những anh hùng đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn mà thay vào đó là cuộc sống của những còn người bình thường, đi sâu vào thế sự đời tư. Nhân vật người đàn bà hàng chài là nhân vật đặc sắc, gửi gắm những quan niệm nhân sinh của tác giả.

Hình ảnh người đàn bà hàng chài trên bờ biển được giới thiệu chạc bốn mươi tuổi, cao lớn, thô kệch, rỗ mặt và trên khuôn mặt lộ rõ sự mệt mỏi, tái ngắt. Chị mặc một tấm áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng những nước. Dù bị đánh đập dã man song chị không hề phản ứng, không một tiếng kêu, không một sự trống trả. Chị cam chịu, nhẫn nhục đến mức người đọc phải bất bình. Ngày từ đầu tác phẩm tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc về một người đàn bà xấu xí, quê kệch cuộc sống lam lũ, vất vả và tính cách cam chịu đến khó hiểu. Bề ngoài không một chút phản ứng khi bị chồng đánh, nhưng chị lại ngồi thụp xuống, khóc và van xin thằng Phác khi nó giằng lấy chiếc thắt lưng từ tay người cha. Với chi tiết nhỏ này tác giả đã cho thấy người đàn bà này không hề đơn giản là người lạc hậu, quê kệch mà còn là người có nội tâm mâu thuẫn, phức tạp.

Nếu hình ảnh người đàn bà trên biển quê kệch cam chịu thì khi đến tòa án lại là một người phụ nữ khác hẳn. người đàn bà đến tòa án với dáng vẻ lung túng, sợ sệt, tất cả hành động đều toát lên sự quê kệch, sợ hãi. Bước vào phòng, người đàn bà tìm vào góc phòng để ngồi, phải đến lần thứ hai sau lời mời của Đẩu, người đàn bà mới dám rón rén ngồi vào mép ghế, cố gắng thu mình lại. Ngôn ngữ của người đàn bà hết sức ngập ngừng, lúng túng, điều đó càng tô đậm hơn sự e dè, sợ hãi ở chị.

Sự ngập ngừng kia chỉ là vẻ bề ngoài, sau khi lấy lại được bình tĩnh, hiểu được bản chất người đối thoại với mình, người đàn bà đã có sự thay đổi nhanh chóng, ngày càng tỏ ra sắc sảo. Trước hết là sự thay đổi về ngôn ngữ, Nếu như ban đầu xưng “con” tỏ thái độ tôn kính, nhúng nhường, thì sau đó đổi cách xưng hô: “Chị cảm ơn các chú”, khi nghe Đẩu nói: “chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận” khiến người đàn bà hiểu ra rằng, những kẻ đại diện cho pháp luật kia cũng chỉ là những kẻ hời hợi, nắm được cái vỏ mà không nắm được bản chất bên trong. Bởi vậy, sự sợ hãi, lũng túng đã mất, người đàn bà lấy lại bình tĩnh, trong cách xưng hô đã đặt mình ngang ngang với một vị chánh án và một nhân chứng. Sự thay đổi ấy cho thấy, người đàn bà có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, là người phụ nữ chủ động, sắc sảo.

Không chỉ thay đổi về ngôn ngữ mà còn có sự đổi ngôi kì lạ: người đàn bà hàng chài vốn đến để nghe giáo huấn, thì nay bà trở thành người phân tích, giảng giải; còn Phùng và Đẩu vốn là người đại diện cho pháp luật lại trở thành những kẻ ngây ngô, hời hợt trước lí lẽ sắc sảo của người phụ nữ kia. Bằng sự chủ động, kiên quyết lại cũng rất mềm mỏng người đàn bà đã đưa ra một loạt lí lẽ để Đẩu và Phùng hiểu vì sao bà không thể bỏ chồng. Trước hết là do, bà là người phụ nữ xấu xí, cơ hội có gia đình và có con là điều không tưởng, bởi vậy, khi có người đàn ông chấp nhận lấy và sinh con cùng bà, đó là hạnh phúc quý giá người đàn bà không thể đánh mất. Không chỉ vậy, bà còn ý thức được lỗi ở chính mình, khi đẻ quá nhiều khiến cuộc sống càng cơ cực, chật vật hơn.

Và sau khi phân tích hoàn cảnh riêng, người đàn bà phân tích hoàn cảnh chung: Thực tế cuộc sống không ổn định như trên đất liền mà phải đối mặt với phong ba bão táp, biển động, sóng lớn, bởi vậy rất cần có một người đàn ông chèo chống cho gia đình. Nhưng lí do quan trọng nhất chính là tình yêu thương bao la bà dành cho những đứa con. Bà chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân, chấp nhận để chồng đánh đập tàn nhẫn cốt để đàn con gần chục đứa của bà được sống, được ăn no mà không bị chết đói.

Nói đến đó “trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười khi nghĩ đến những niềm vui nhỏ bé mà gia đình bà từng có và đặc biệt khi nghĩ đến cảnh đàn con được ăn no”. Nguyễn Minh Châu đã làm toát lên vẻ đẹp của sự bao dung, vị tha, đức hi sinh và tình mẫu tử thiêng liêng trong tâm hồn của người đàn bà có vẻ ngoài xấu xí, quê mùa. Đồng thời bà cũng có cái nhìn bao dung với chồng, dù đó là kẻ vũ phu, sẵn sàng lôi bà ra để đánh đập mỗi khi hắn thấy khổ quá. Bà vẫn bào chữa cho chồng bằng cách nhắc lại quá khứ khi chồng bà còn là người nông dân hiền lành, chất phác. Bà thấu hiểu thói vũ phu này không phải là bản chất mà là sản phẩm của khó khăn, cơ cực dồn lên vai người đàn ông.

Vượt qua những lí do cụ thể của hoàn cảnh cá nhân, lí luận của người đàn bà đã đạt đến độ khái quát, triết lí. Bà ý thức rất rõ cái nghèo, cái khổ, lạc hậu trong cuộc sống của mình nhưng không từ bỏ nó bởi cuộc sống này tồn tại rất nhiều nghịch lí, không phải điều gì ta cũng có thể thay đổi, đôi khi người phải học cách chấp nhận và sống chung với nó.

Bằng một loạt các lí lẽ từ cụ thể đến khái quát, từ gắn với số phận riêng, hoàn cảnh riêng đến những lí do chung cho số phận người dân miềm biển người đàn bà thuyết phục hoàn toàn Phùng và Đẩu để cho đi từ ngạc nhiên đến lặng lẽ thở dài chấn nhận và đồng tình. Người đàn bà đã cho tháy ẩn đằng sau khuôn mặt xấu xí, thô kệch, sự lam lũ, ít học là một tâm hồn sâu sắc, giàu tình yêu thương, là vốn sống là sự trải nghiệm sắc sảo, bà đã khiến cho cả Phùng và Đẩu buộc phải nhận thức lại về con người và cuộc đời.

Bằng ngòi bút chân thực, sắc sảo Nguyễn Minh Châu đã lách sâu để khám phá những góc khuất, góc tối trong tầm hồn còn người. Người đàn bà hàng chìa hiện ra là hình ảnh đại diện cho những con người vô danh, nghèo khổ, lam lũ nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý khiến họ trở nên không hề nhỏ bé mà là hiện thân của những gì đẹp đẽ nhất.

Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 20 mẫu phân tích nhân vật Phùng chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.