Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo chi tiết nhất

233
Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo chi tiết nhất
Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo chi tiết nhất
4.8/5 - (17 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo của tác giả Nam Cao một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo

Số 1: Phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo

Nói về người nông dân trong xã hội cũ, không thể không nhắc tới tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Ông đã xây dựng nhân vật điển hình là Chí Phèo và Thị Nở để hình tượng hóa những người nông dân sống bần cùng, khổ cực dưới ách thống trị tàn ác của bọn thực dân phong kiến. Bằng lối viết chân thực và ngòi bút sắc xảo, Nam Cao đã mang đến cho người đọc một tác phẩm có giác trị hiện thực vô cùng sâu sắc.

Giá trị hiện thực là những sự thật được phản ánh thông qua nhân vật và những sự kiện mà tác giả đề cập đến. Trong Chí Phèo, Nam Cao đã dựng lên một Chí Phèo với những bước ngoặt đầy nghiệt ngã và một thị Nở xấu đến mức ma chê quỷ hờn, nhưng chính thị lại là người tác động mạnh mẽ đến Chí Phèo.

Chí Phèo bị bà ba dâm đãng của Bá Kiến lợi dụng, rồi bị đẩy vào tù. Chí ôm lòng hận thù theo mình suốt những năm tháng tù đày. Ra tù, Chí trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, suốt ngày ôm chai rượu say xỉn.

Chí đi tới đâu là chửi tới đó. Vô tình, Chí lại rơi vào tay Bá Kiến và làm tay sai đắc lực cho hắn, chuyên đi đâm thuê chém mướn cho hắn. Chí trở nên “nổi tiếng” khiến ai cũng khiếp sợ. Sau đêm vô tình gặp thị Nở bên gốc chuối, hai người đã ở với nhau như vợ chồng.

Bát cháo của thị như một ân nghĩa cao đẹp mà cả đời Chí lần đầu tiên được nhận. Nhưng được vài ngày, thị nghe lời bà cô quay lại cự tuyệt Chí. Chí đau khổ và lại rơi vào tuyệt vọng một lần nữa. Trong cơn uất hận, Chí cầm dao đến nhà Bá Kiến giết chết hắn rồi tự tử.

Có lẽ nhà văn cũng rất buồn, rất đau khổ khi khái quát số phận nghiệt ngã của người nông dân qua nhân vật Chí Phèo. Là nhà văn, ông không thiếu những ngôn từ hoa mĩ. Nhưng với ông, văn chương chính là nơi để nói lên sự thật chứ không phải đánh bóng sự thật.

Chí là một đứa trẻ mồ côi. Chí cũng rất hiền lành, chịu khó làm thuê làm mướn để kiếm sống. Nhưng xã hội bất công và giai cấp gian ác đã không cho Chí được sống yên bình trong kiếp người nông dân. Chí bị đẩy vào tù. Lòng uất hận vì bị tù oan khiến Chí thay đổi tính nết và cả ngoại hình.

Chí ra tù với dáng dấp của một thằng “săng đá” và được Nam Cao cảm nhận bằng ba từ “trông gớm chết”. Chí săm trổ, cái mặt cơng cơng, cái đầu cạo trọc lốc, cái răng trắng hếu… Những từ ngữ ấy quá đủ cho ta thấy Chí hiện giờ mang dáng hình của một kẻ “đầu gấu”. Đã thế, Chí còn chìm trong cơn say triền miên.

Chí đi tới đâu là chửi tới đó. Nhưng không một ai thèm đáp lại tiếng chửi của Chí. Chí chỉ mong ai đó nói lên một tiếng để Chí biết rằng Chí vẫn được coi là người. Nhưng chỉ có tiếng lũ chó sủa inh ỏi và tiếng trẻ con nô đùa chạy theo trêu ghẹo Chí. Dường như Chí bị loại bỏ khỏi xã hội làm người.

Hình ảnh của Chí lúc này là hình ảnh của những người nông dân bị bần cùng hóa như Chí. Họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, tới bước đường cùng và đánh mất nhân cách của chính mình. Qua đó, Nam Cao muốn phơi bày tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy người nông dân vào tình cảnh này. Nếu không bị đẩy vào tù, Chí vẫn là một con người rất lương thiện, hiền lành và chịu khó. Chí vẫn sống với vai trò là một kẻ đi làm thuê làm mướn để tự nuôi thân.

Và nếu xã hội không thành kiến với những kẻ ở tù về, có lẽ Chí cũng không phải chìm đắm trong những cơn say, cũng không phải gào thét lên những lời chửi rủa chua ngoa để mong có ai đó đáp lại lời mình, để Chí biết rằng Chí vẫn được coi là một con người thực sự. Nhưng bản chất xã hội lúc bấy giờ quá tàn ác, quá bất nhân. Chí đã trở thành con quỷ dữ, bọn chúng vẫn không tha.

Dù Chí được gặp thị Nở nhưng đó cũng chỉ là một tình huống để Nam Cao dẫn dắt bước chân Chí đến nhà Bá Kiến, giết chết hắn để xóa tan đi phần nào sự phẫn nộ trong lòng. Thị Nở cũng là một nhân vật điển hình cho người nông dân. Dù thị dở hơi, xấu xí, xấu tới mức ma chê quỷ hờn nhưng đó lại là những nét thô sơ nhất của tự nhiên.

Tạo hóa đã không ưu ái thị về vẻ bề ngoài nhưng lại đặt vào thị tấm lòng nhân hậu vô cùng lớn lao. Thị và Chí vô tình gặp nhau trong đêm tối. Sau cơn mê về xác thịt, tình yêu trong hai con người bần cùng nhất của xã hội đã nhen nhóm và trở thành ngọn lửa rực sáng.

Chí được thị ban tặng cho bát cháo hành mà cả đời Chí cũng chẳng bao giờ dám mơ tới. Chí sống giữa cuộc đời nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên Chí tỉnh táo và cảm nhận được những hương vị của cuộc sống đời thường. Rất giản dị nhưng thật đẹp làm sao.

Tiếng chèo thuyền, tiếng chim hót, tiếng mọi người đi chợ nói chuyện với nhau… Những âm thanh ấy ngày nào chẳng có, vậy mà hôm nay Chí mới để ý. Những tình tiết trong cuộc tình ngắn ngủi của Chí đã phản ánh một sự thật về bản chất của người nông dân.

Dù họ đã phải trải qua bao cay đắng, nhưng sau cùng lòng lương thiện vẫn luôn tồn tại, chỉ là có những lúc nó bị nhấn chìm bởi hoàn cảnh sống. Chính thị Nở đã làm cho bản chất của Chí sống lại. Nhưng cũng lại là thị đẩy Chí vào bước đường cùng thêm một lần nữa khi thị chối từ tình cảm của Chí.

Sự kiện này nói lên một sự thật cay đắng về thành kiến, về quan niệm của dân làng Vũ Đại đối với những kẻ đã bị tha hóa như Chí. Họ nhìn Chí bằng ánh mắt khinh thường và họ không còn coi Chí là người nữa.

Dù trước đó thị đã yêu Chí, đã có cảm giảm thinh thích khi khắc đến hai chữ vợ chồng, nhưng vì thị chỉ là người đàn bà ế chồng và dở hơi. Hơn nữa thị lại bị người bà cô của mình quán xuyến. Sự thật đau đớn khi bị người yêu cự tuyệt khiến Chí rơi vào đau khổ tột cùng.

Những tưởng cuộc đời từ nay sẽ được yên ấm nhưng bi kịch lại đến. Chút hi vọng mong manh cuối cùng của Chí đã nhanh chóng bị dập tắt bởi thành kiến của xã hội. Lúc này Chí đã quyết định đến nhà Bá Kiến, giết chết hắn rồi tự kết liễu cuộc đời mình.

Bá Kiến và cả gia đình hắn là đại diện cho tầng lớp thống trị tàn ác, bất nhân. Chính bọn chúng đã lợi dụng những người nông dân lương thiện như Chí, biến họ trở thành con quỷ dữ và không còn cơ hội được quay trở lại làm người nữa, khiến họ phải đi vào ngõ cụt và tận cùng là cái chết. Nhưng một kẻ liều lĩnh và đã trải qua quá nhiều biến cố như Chí, cái chết không còn là nỗi sợ hãi nữa. Chí chết nhưng trước khi chết, Chí muốn kéo theo cả kẻ đã làm mình ra nông nỗi này.

Còn thị, dù thị dở hơi, nhưng khi Chí chết thị vẫn đủ tỉnh táo để nhìn xuống bụng và nghĩ đến một cái lò gạch bỏ hoang. Nam Cao không viết tiếp nhưng người đọc vẫn hiểu ý định của thị. Và đứa con trong bụng thị sẽ là một Chí Phèo con. Cuộc đời người nông dân vẫn còn nhiều người phải khổ. Chí Phèo chết chưa phải là đã hết.

Bá Kiến chết cũng vẫn còn Lý Cường. Thậm chí hắn còn lạnh lùng và ác độc hơn Bá Kiến. Quá dễ dàng để Nam Cao viết lên cái kết có hậu nhưng ông trân trọng sự thật, và ông cũng muốn phơi bày sự thật về xã hội đương thời để người đọc thấy rằng cuộc sống người nông dân rất khổ cực.

Họ vừa phải đương đầu với cuộc sống mưu sinh, vừa phải gồng mình lên gìn giữ lấy nhân phẩm của mình. Nhiều người đã gục ngã trước hoàn cảnh, lâm vào con đường tội lỗi và bị tha hóa nhân cách như Chí.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình và những lời văn chân thực, giàu cảm xúc, nhà văn đã bày vẽ lại cuộc sống thực tế của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ. Đồng thời ông cũng vạch tội bọn thực dân phong kiến đã tàn nhẫn đẩy người nông dân vào cảnh sống lầm than. Chúng không những bóc lột tiền bạc, sức lao động cảu dân nghèo mà còn trà đạp lên tâm hồn và nhân cách cao cả của họ, biến họ thành những con quỷ dữ giữa cuộc đời.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 2: Phân tích giá trị hiện thực mới mẻ trong Chí Phèo

“Mỗi tác phẩm văn học là kết quả được nhào nặn từ đời sống”, nói như vậy quả thật không sai. Nếu tác phẩm văn học chỉ là sản phẩm của hư cấu và tưởng tượng mà không mang hơi thở đời sống thì sẽ không truyền được cảm hứng đến với đọc giả, văn học bao giờ cũng là chuyện cuộc đời mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật.

Nam Cao đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại thông qua các tác phẩm của mình, đồng thời tìm ra cho mình một lối đi riêng khác hẳn với những nhà văn cùng thời đầu.

Đọc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao ta sẽ thấy rõ được điều đó. Và tác phẩm cũng đã để lại giá trị hiện thực sâu sắc, lên án những thế lực chỉ biết sống dựa vào sức lao động của người khác.

Giá trị hiện thực của tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tác mà hiện thực đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau.

Cùng viết về đề tài người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan hay Nam Cao đều phản ánh sâu sắc và chân thật tình trạng khốn cùng của người nông dân Việt Nam trên con đường bị bần cùng hóa.

Xã hội của văn Nam Cao trong Chí Phèo là sự thu nhỏ ở làng quê – một không gian tù túng, ngột ngạt mà bọn phong kiến có thể đẩy con người vào cảnh cùng đường phải bán nhân phẩm, nhân cách của mình, bán đi cả nhân hình lẫn nhân tính.

Khác với Ngô Tất Tố hay Nguyễn Công Hoan chỉ tập trung vào nỗi khổ tột cùng về vật chất của người nông dân thì với Chí Phèo – người nông dân còn đau đớn hơn với nỗi khổ về tinh thần.

Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Nam Cao đã phản ánh những vấn đề cơ bản của xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Vạch ra mối quan hệ nội bộ của giai cấp thống trị, chia bè chia phái của bọn địa chủ cường hào.

Chúng gồm nhiều cánh khác nhau, thường đối nghịch với nhau. Bọn chúng là một “quần ngư tranh thực”, mồi thì ngon mà bè nào cũng muốn tranh cho bằng được. Do đó chúng thường rình cơ hội để đè đầu cưỡi cổ lên nhau tranh giành miếng ăn.

Song mặt khác, chúng du lại với nhau để cùng bóc lột những người nông dân nghèo, đẩy những người nông dân đến bước đường cùng miễn sao có được những thứ mà chúng muốn. Đây là hiện tượng có tính quy luật ở nông thôn, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội – ruồi muỗi phải chết oan uổng khi trâu bò húc nhau.

Dựng nên bức tranh xã hội ở nông thôn, trước hết Nam Cao tập trung làm nổi bật xung đột giai cấp giữa địa chủ cường hào với người nông dân bị áp bức – phản ánh hiện thực nông thôn trên bình diện mâu thuẫn giai cấp. Nó làm nên giá trị nhận thức và sức mạnh phê phán to lớn.

Ở xã hội thối nát ấy diễn ra rất nhiều mâu thuẫn, chèn ép lẫn nhau. Mâu thuẫn giữa cái cánh địa chủ với nhau, mâu thuẫn giai cấp đối kháng, gay gắt giữa bọn địa chủ cường hào thống trị với những người nông dân bị áp, bức bóc lột. Tiêu biểu là mâu thuẫn giữa Chí Phèo và Bá Kiến.

Bá Kiến là một tên địa chủ tàn ác, xảo quyệt, biết dùng những phương châm trị dân được đúc kết từ mấy đời ra để đối phó với người dân nghèo đói, những người bần cùng tận đáy xã hội.

Lão đẩy những người dân vốn chất phác, lương thiện vào hố sâu của tội lỗi, thậm chí là tha hóa nhân hình lẫn nhân tính. Biến họ thành con quỷ dữ, bị xã hội loài người coi khinh, đẩy ra bên rìa của xã hội không cho hòa nhập và chặn tất cả những con đường trở về làm người của họ.

Thường thì mâu thuẫn này vốn chưa bao giờ được dung hòa, phải giải quyết bằng những biện pháp quyết liệt, dữ dội. Tác giả rất căm ghét xã hội mục nát ấy đã đẩy con người ta xuống vực sâu không thể vực dậy được, chỉ có thể giải thoát bằng cái chết.

Hiện thực đời sống tăm tối, đau khổ của người nông dân, người lao động lương thiện được thể hiện tập trung qua số phận của nhân vật Chí Phèo. Có lẽ nhà văn cũng rất buồn, rất đau khổ khi khái quát số phận nghiệt ngã của người nông dân.

Nhưng với ông, văn chương chính là nơi để nói lên sự thật chứ không phải đánh bóng sự thật. Cuộc đời Chí là một chuỗi ngày khổ đau, từ khi sinh ra Chí đã là một đứa trẻ mồ côi, khi lớn lên rất hiền lành, chịu khó làm thuê làm mướn để kiếm sống. Nhưng xã hội bất công và giai cấp gian ác đã không cho Chí được sống yên bình trong kiếp người nông dân.

Chí bị đẩy vào tù tội. Lòng uất hận vì bị tù oan khiến Chí thay đổi tính nết và cả ngoại hình. Chí ra tù với dáng dấp của một thằng “săng đá” và được Nam Cao cảm nhận bằng ba từ “trông gớm chết”. Chí săm trổ, cái mặt cơng cơng, cái đầu cạo trọc lốc, cái răng trắng hếu…

Những từ ngữ ấy quá đủ cho ta thấy Chí hiện giờ mang dáng hình của một con quỷ dữ. Chí còn chìm trong những cơn say triền miên. Hắn đi tới đâu là chửi tới đó nhưng không một ai thèm đáp lại tiếng chửi của hắn, dường như hắn đã bị loại bỏ khỏi xã hội làm người.

Hình ảnh của Chí lúc này là hình ảnh của những người nông dân bị bần cùng hóa sống trong xã hội đó. Họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, tới bước đường cùng và đánh mất nhân cách của chính mình.

Qua đó, Nam Cao muốn phơi bày tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy người nông dân vào tình cảnh này. Nếu như không bị đẩy vào tù, có lẽ Chí vẫn là một con người rất lương thiện, hiền lành và chịu khó. Chí vẫn sống với vai trò là một kẻ đi làm thuê làm mướn để tự nuôi thân.

Và nếu xã hội không thành kiến với những kẻ ở tù về, có lẽ Chí cũng không phải chìm đắm trong những cơn say, cũng không phải gào thét lên những lời chửi rủa chua ngoa để mong có ai đó đáp lại lời mình, để Chí biết rằng Chí vẫn được coi là một con người thực sự. Nhưng bản chất xã hội lúc bấy giờ quá tàn ác, quá bất nhân.

Giữa lúc cả làng Vũ Đại xem Chí như quỷ dữ, đẩy Chí ra bên lề của xã hội thì một người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn lại có tấm lòng vàng, thấy Chí hiền lành, Thị Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí ở đáy sâu của sự tha hóa thức tỉnh bản chất người lao động. Bằng sự chăm sóc giản dị, tình yêu thương mộc mạc mà chân thành của người đàn bà khốn khổ đã khơi dậy linh hồn Chí Phèo.

Chí nghe thấy những âm thanh cuộc sống thường ngày mà bấy lâu nay vùi trong những cơn say nên Chí không biết đến. Nó vang động sâu xa trong lòng Chí, trở thành tiếng gọi cuộc sống khẩn thiết, làm Chí nhớ đến ước mơ nho nhỏ ngày xưa và Chí thèm khát được trở về làm người lương thiện. Khi Thị Nở bưng bát cháo hành đến hắn ngạc nhiên bởi đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho.

Hắn nhận ra hương cháo hành – hương vị tình yêu thương chân thành, hạnh phúc giản dị mà có thật. Chính Thị Nở đã làm cho bản chất của Chí sống lại. Nhưng cũng chính Thị Nở lại đẩy Chí vào bước đường cùng thêm một lần nữa khi chối từ tình cảm của Chí.

Và cuối cùng Chí tìm đến nhà Bá Kiến để giết Bá Kiến và cũng giải thoát cho chính mình. Qua đó ta thấy được, Chí Phèo đã khái quát được hiện thực mang tính quy luật trong xã hội cũ: có áp bức, có đấu tranh, tự đấu tranh và rồi dẫn đến kết cục bi thảm.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình và những lời văn chân thực, giàu cảm xúc, nhà văn Nam Cao đã vẽ lại cuộc sống thực tế của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ. Đồng thời ông cũng vạch ra tội ác của bọn thực dân phong kiến tàn nhẫn đã đẩy người nông dân vào cảnh sống lầm than. Chúng không những bóc lột tiền bạc, sức lao động của dân nghèo mà còn chà đạp lên tâm hồn và nhân cách cao cả của họ, biến họ thành những con quỷ dữ giữa cuộc đời.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 3: Cảm nhận giá trị hiện thực của Chí Phèo

Tác phẩm Chí Phèo khép lại ở trang cuối cùng với một cảnh tượng đầy hãi hùng hai xác chết của hai con người – sinh vật. Cả hai đều làm người nhưng không phải là người: Bá Kiến và Chí Phèo. Máu me loang lổ, lênh láng khắp hai cái xác khiến chúng ta giật mình tự hỏi và hỏi Nam Cao: Đâu là hiện thực

Toàn truyện Chí Phèo là một sức căng. Nam Cao đã đưa người đọc lạc vào cung bậc khác nhau của những sự căng thẳng về thần kinh bởi những câu chửi choang choang của Chí, bởi những cơn nốc rượu như nước, bởi những lần rạch mặt ăn vạ ghê rợn.

Tưởng thế đã là đáng nhớ lắm, Nam Cao còn bất ngờ đưa tay, lia ngòi bút một lần cuối để kết thúc bản nhạc của mình, cả trang sách như rung lên khi Chí vung dao chém vào người Bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình.

Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan… ra đời, mấy ai còn có thể tưởng tượng tới một cảnh đời nào bần cùng hơn, bế tắc hơn, tủi cực hơn thế. Tưởng như cuộc sống chị Dậu và anh Pha đã là tột cùng của nỗi khổ đau ở đời.

Nhưng cùng hơn cả những con người bần cùng đó, vẫn có Chí Phèo đã bước ra từ trang sách của Nam Cao, là hiện thân đầy đủ của “những gì là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào xé, bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình.

Chị Dậu, anh Pha dù có khổ mấy vẫn được công nhận là người. Còn Chí, con người hiền lành, chất phác qua lần vào tù ra tội đã bán cả nhân tính, nhân hình để trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại.

Thoát được cửa tù con, Chí Phèo lại ra vào cửa tù lớn và lần này thì mãi mãi, Chí bị khóa chặt trong cuộc đời thú vật mà chế độ “ban” cho. Từng ấy bất hạnh đáng được để cho nhân vật nổi loạn lắm, nhưng ngòi bút Nam Cao tỉnh táo và sắc sảo, đủ điều kiện cùng nhân vật đi đến cuối truyện.

Mọi cái được nâng lên với mức độ cao hơn khi Chí Phèo với ý định đến nhà thị Nở, quen chân thuận đường lại đến nhà Bá Kiến; vô tình một cách có ý thức, Nam Cao cho nhân vật của mình lại đi lệch đường, nhưng đúng hướng, đúng cái đích mà Nam Cao vạch ra cho nhân vật của mình.

Cái chết của Bá Kiến đầy bất ngờ, không ai nghĩ rằng con cáo già như Bá Kiến lại có thể chết nhanh gọn đến thế. Với Chí Phèo thì không có gì là không thể bởi sự liều lĩnh của hắn đã được tôi luyện từ lâu rồi trong xã hội cũ.

Nam Cao luôn đi tìm nhân phẩm và tình thương yêu chân thật ở những người lao động cùng khổ, bị giày xéo và khinh bỉ. Đây cũng là vấn đề “đôi mắt” mà Nam Cao luôn hướng tới, là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo của Nam Cao.

“Trong mảng sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao. Có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn đề” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất (Nguyễn Hoành Khung).

Nam Cao tỏ ra là một cây bút sắc sảo với cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trên bình diện xung đột giai cấp. Với Bá Kiến, Nam Cao chứng tỏ mình hiểu rất sâu xa bản chất của giai cấp phong kiến địa chủ.

Với Chí Phèo, Nam Cao cũng chứng tỏ một tâm hồn biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa khơi để tìm ra một điển hình nhất của một hạng người cùng hơn cả dân cùng, chúng ta quen gọi đó là hình tượng nhân vật “lưu manh hóa”. Qua cách xây dựng những xung đột, mâu thuẫn của truyện.

Nam Cao đã chứng tỏ một cảnh quan hiện thực hết sức rõ ràng, mãnh liệt. Ông thấy rõ ràng mối xung đột, mâu thuẫn giai cấp ở nông dân – địa chủ, nhất là nông dân đã chín muồi đã đến mức sâu sắc và không gì có thể xoa dịu.

Nam Cao xây dựng mối quan hệ Bá Kiến – Chí Phèo trở nên hết sức gay gắt, mối tình dang dở với Thị Nở cũng là cách đổ thêm dầu vào lửa, biến cơn say, cơn buồn, cơn thất tình ở Chí Phèo thành lòng căm hận, tức tối, quyết đến nhà Thị Nở để trả thù.

Quy luật lại không phải thế, quy luật đã kéo Chí đi nhưng là đến nhà Bá Kiến, chứ không phải ai khác. Kẻ đáng giết Bá Kiến. Với cái kết thúc bất ngờ dữ dội của thiên truyện ngắn, Nam Cao đã cho chúng ta thấy kết quả tất yếu sẽ xảy ra, điều đó không thể tránh khỏi.

Giai cấp thống trị có thể khôn ngoan, giảo quyệt, mánh khóe, có thể đàn áp, làm lu mờ cả ý thức của người dân thì vẫn còn âm ỉ trong người dân ngọn lửa của lòng căm thù, căm ghét những kẻ bóc lột mình, ở Chí, cho dù tâm trí tê liệt, mọi cái bị “xóa sổ” trong trí nhớ của Chí thì tận trong cơn say, hắn vẫn như mơ màng nhận thấy một điều gì.

Đoạn Chí quyết đến nhà Thị Nở để trả thù là biểu hiện bề ngoài, trong tiềm thức chỉ có Bá Kiến, sâu xa nhất trong quá khứ là Bá Kiến, Thị Nở chỉ là hiện tại. Mọi bức bối, uất ức dồn đến lâu ngày, càng dồn nén xuống thì ắt sẽ có ngày bùng nổ.

Sự chịu đựng quá tải đã làm bừng tỉnh cơn dại trong Chí, anh quyết đi trả thù đời, đi “đòi nợ”. Ngòi bút của Nam Cao phải vững vàng lắm trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo thì mới có những trang viết rành rọt, tỉnh táo đến như vậy.

Ông tin rằng trong huyết quản của Chí Phèo vẫn chưa cạn hết dòng máu của người nông dân lao động nên đã cho Chí xách dao đến nhà Bá Kiến, không đòi rượu, đòi tiền mà để đòi lại bộ mặt và tâm hồn mình đã bị phá nát, tước đoạt. Chỉ có lòng nhân đạo cao cả mới có thể nhìn thấy được ở con người quái dị như Chí Phèo một lòng thiết tha ham sống.

Chỉ có Nam Cao mới thấu hiểu sự khao khát được trở lại làm người của Chí, đó là khi ông miêu tả “tiếng đời thường” thông qua sự cảm thụ của Chí. Năm ngày liền Chí hiền khô, thậm chí không uống một ngụm rượu. Đó là nhờ có Thị Nở đà mang tình yêu thương đến với Chí, mặc dù đó là thứ tình cảm dở hơi, không ý thức.

Chi tiết bát cháo hành nóng hổi đã sưởi ấm lại con người Chí, kéo hắn về với cuộc đời. Khốn nạn thay, xã hội phong kiến đương thời cũng không để Chí yên thân mà hưởng niềm hạnh phúc nhỏ bé đó, bà cô của Thị Nở cũng chính là một thứ công cụ của xã hội đầy định kiến, ngăn cản Thị Nở trở lại với Chí.

Khi bàn tay nhân đạo đã rụt lại, Chí Phèo lại trở về với con người hàng ngày của mình: say rượu, hung dữ. Nhưng chính quãng thời gian ít ỏi được sống bên Thị Nở đã tác động vào suy nghĩ của Chí.

Lúc này, anh có ý thức sống cho chính mình hơn, đòi hỏi cho mình một lẽ sống, một sự công bằng đã bị tước đoạt. Giết chết Bá Kiến mới chỉ đạt được một nửa công việc, Chí Phèo hoàn thành nốt “công việc” còn lại bằng cách tự giết luôn cả mình.

Nếu còn sống, Chí Phèo vẫn tiếp tục cuộc đời quỷ dữ của mình, vẫn phải đối chọi với con trai của Bá Kiến. Ta còn nhớ Nam Cao đã cho một nhân vật của mình ăn bả chó tự tử, đó là lão Hạc. Nay ta lại thấy Chí Phèo tự kết liễu mình.

Phải chăng, với suy nghĩ riêng của Nam Cao, những con người quá khốn khổ, quá cùng quẫn thì chỉ có cái chết mới giải thoát được tất cả? Chí Phèo phải chết mới chấm dứt cuộc đời nhục nhã của mình để hóa kiếp sang một con người khác tốt đẹp hơn?

Chí Phèo chỉ ao ước trở lại làm một người lao động bình thường với mối tình Thị Nở, nhưng không được. Cách xây dựng nhân vật của Nam Cao thật độc đáo. Chí Phèo vừa là một gã mất trí, công cụ nguy hiểm trong tay bọn thống trị, lại vừa là nô lệ thức tỉnh, trở thành con người có đầu óc sáng suốt nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa khái quát sâu sắc vượt quá mức thường ngày, vượt quá tầm khôn ngoan lọc lõi của Bá Kiến: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?” Nỗi ray rứt rất con người, đầy nhân văn này lại được thốt ra từ miệng một kẻ chuyên uống rượu say mềm. Bá Kiến cũng bất ngờ, mất cảnh giác nên Chí đã dễ dàng sát hại.

Diễn biến rất hợp lí, từng chi tiết nhỏ đều rất tôn trọng “chủ nghĩa hiện thực”. Chí Phèo ngay sau đó cũng tự kết liễu đời mình bởi trong giây phút điên cuồng đó, hắn đã tỉnh táo hơn bao giờ hết và ý thức được mọi điều mình làm.

Không tự giết, Chí Phèo cũng sẽ phải chết vì con trai Bá Kiến còn đó, vì bao đối tượng khác luôn lăm le muốn xóa sổ hắn. Giết được Bá Kiến, Chí Phèo như lấy lại được thanh danh cho mình, như đã hài lòng về bản thân, cảm thấy không cần phải sống để đòi nợ ai nữa.

Hắn không chết cũng sẽ không còn ai cho hắn tiền uống rượu, không còn Bá Kiến cho hắn rạch mặt ăn vạ nên hắn chết. Có những cái chết bế tắc, nhưng cái chết của Chí Phèo lại là bước mở đầu cho sự sống, cho sự tháo cũi sổ lồng, giải thoát cho chính mình.

Viết nên những trang sách ấy, Nam Cao vẫn chưa ý thức đầy đủ về sức mạnh vĩ đại của quần chúng lao động, sức công phá mãnh liệt của những kiếp người nô lệ, nhưng ông đã lờ mờ nhận thấy một sức sống tiềm tàng trong con người lao động bị áp bức. Đằng sau sự đàm chém hài hùng kia có cái gì như là sự vật vã tuyệt vọng đang cố vùng vẫy để thoát khỏi nó.

Bi kịch của Chí không phải là sự nghèo hèn vật chất, thứ vị xã hội mà ở chỗ là người mà không được xã hội loài người dung nạp. Sống trong sự thờ ơ lẫn sợ hãi, xa lánh của mọi người càng làm cho Chí cùng thêm, liều thêm cho đến khi ý thức được điều đó thì hắn chỉ còn biết tìm đến cái chết.

Thực ra, trong chuỗi ngày dài trong đời hắn, hắn không hề biết mình đang sống, hắn chưa biết đến cái chết nghĩa là hắn chưa sống. Kết thúc truyện hắn đã tìm đến cái chết, cũng là lúc hắn nhận biết được cuộc sống thú vật của hắn. Còn Bá Kiến, sẽ còn Chí Phèo.

Hết Bá Kiến, Chí Phèo cũng không tồn tại. Ở đây ta còn thấy một sự thâm thúy sâu xa của Nam Cao khi cho cả hai nhân vật tồn tại song song và có vai trò tác động lẫn nhau. Nếu không phải là Bá Kiến thì anh Chí ngày xưa chưa hẳn đã là Chí Phèo bây giờ. Bởi ở Bá Kiến là cả sự khôn ngoan lọc lừa, một kẻ biết ném đá giấu tay.

Nam Cao có lần đã nói: Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ kiếp lầm than. Đó là lời của Điền (Trăng sáng), nhưng cũng là nỗi băn khoăn trong cuộc đời cầm bút của Nam Cao.

Ngòi bút của ông hướng về người dân lao động nghèo khổ nhiều khi là những con người xấu xí như Chí Phèo, Thị Nở… Ông cố tình đưa cái khuôn mặt rách nát của Chí hay khuôn mặt kì dị của Thị vào trang viết bởi chỉ với nhân vật như thế, Nam Cao mới tố cáo hết sự tàn bạo của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ tột cùng của người nô lệ.

Trong Chí Phèo,Nam Cao đã tập trung xoáy sâu và làm nổi bật lên mâu thuẫn xã hội cơ bản ở nông thôn: đó là mâu thuẫn cực độ giữa người dân lao động bị I áp bức và bọn thống trị, địa chủ chuyên bóc lột.

Kết cục bi thảm của truyện chính là kết quả tất yếu, không tránh khỏi mâu thuẫn đó. Nam Cao rất tôn trọng bút pháp hiện thực, vì vậy, khi viết ông không ngần ngại đưa vào truyện những chi tiết trần tục như việc tả Chí Phèo và Thị Nở ở đêm trăng.

Cả hai con người gàn dở ấy cũng khao khát yêu đương, cũng có những ham muốn rất con người, nếu ngòi bút Nam Cao không chân thực thì chúng ta không thể thấy hết điều đó. Càng hiện thực, càng cho chúng ta thấy một Nam Cao đầy lòng vị tha, nhân ái, một tấm lòng nhân đạo cao cả.

Bi kịch ở cuối truyện là sự bứt phá, tự giải phóng cho nhân vật. Nam Cao lồng cả tình cảm của mình vào để gián tiếp bộc lộ lòng căm thù sâu sắc của mình đối với chế độ và sự yêu thương, trân trọng với giai cấp nông dân.

Bá Kiến chết đi là mong muốn của sự kết thúc một chế độ đen tối bất công. Chí Phèo chết đi là cách duy nhất Nam Cao hóa kiếp cho loài người đau khổ, chỉ có cái chết mới giải thoát được cho họ.

Cái nhìn của Nam Cao tuy hơi cực đoan, bế tắc song nó hợp với logic của truyện ngắn. Khi cái xấu xa đã ăn sâu vào thành tính cách, phẩm chất của con người thì không còn cách nào thay đổi được, chỉ chết đi mới rũ bỏ được tất cả. Tìm đến cái chết, nghĩa là Chí Phèo đang tìm kiếm sự sống, một cuộc sống thực sự.

Truyện ngắn Chí Phèo đã đánh dấu một sự nghiệp sáng tác lớn của Nam Cao. Ông hiểu rằng phải là hiện thực, văn học mới có ý nghĩa tố cáo sâu sắc chế độ, chỉ có hiện thực mới nhìn thấy hết nỗi đau khổ, dằn vặt trong người dân lao động, và chỉ có hiện thực mới làm nổi bật tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.

Hành động quyết liệt bất ngờ của Chí Phèo trong truyện là một diễn biến hợp lí, thể hiện sự “tháo cũi xổ lồng” của người dân. Tuy nhiên Nam Cao mới chỉ nhìn thấy sự phản kháng ở một con người chứ chưa có ý thức về sức mạnh tiềm tàng trong quần chúng. Nam Cao mới nhìn vào Bá Kiến chứ chưa nhìn vào một hệ thống giai cấp thống trị ở khắp đất nước Việt Nam thuộc địa.

Qua truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã chứng tỏ là một cây viết hiện thực sắc sảo, là “thư kí trung thành của thời đại”, một tấm lòng nhân ái, rộng mở bị ám ảnh bởi số phận đau khổ của kiếp người nô lệ. Chính mảnh đất nơi ông sinh ra đã tác động, ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp sáng tác của ông.

Số 4: Phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Nam Cao là người đến sau, trước đó đã có những cây bút như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan.Nhưng có lẽ với Chí Phèo, Nam Cao đã đem lại cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt ,bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội tàn ác đã chà đạp lên nhân phẩm của con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông,yêu thương con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45.

Tuy nhiên,trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó là một hiện thực phổ biến lúc bấy giờ.

Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người : con người không được là chính mình, thậm chí không còn được là con người mà trở thành con “quỉ dữ” , do những âm mưu thâm độc và sự trà đạp của một thế lực thống trị tàn bạo.

Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái chan chứa yêu thương, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn cùng thời.

Phải nói rằng trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu và thống nhất với nhau khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy .

Đi vào tác phẩm mở đầu là cảnh Chí Phèo ngất ngưỡng trên đường vừa đi vừa chửi, từ trời đến người đã sinh ra hắn, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi.

Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt,giết chóc,ăn vạ gây gỗ v.v..trong đó Chí Phèo hiện lên như một hiện tượng điển hình.

Ta hãy lắng nghe nhà văn miêu tả: ” Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín ? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không phải là mặt người : nó là một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?.

Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới , dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nưa, say vô tận.

Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời …..Hắn đâu biết hắn đã phá biết bao cơ nghiệp, đập bao cảnh yên vui ,đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện …Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn …”

Đoạn văn chất chứa bao nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn có được cuộc sống của một con người . Những năng lực nhận biết vốn có của một con người hầu như bị phá hủy , chỉ còn lại năng lực đâm chém,phá phách.

Chí Phèo đã bị phá hủy nhân hình lẫn nhân tính như thế là bởi do đâu? Chúng ta thấy nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa đó mà dường như ông thiên về lí giải và phân tích đâu là cái cội nguồn sâu xa dẫn đến bi kịch đó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá kiến,về nhà tù thực dân, về bà cô Thị nở, về dư luận xã hội …

Tung hàng loạt mối liên kết ấy, chúng ta dễ dàng nhận ra : sở dĩ Chí Phèo từ một thanh niên hiền lành như cục đất hóa thành con quỷ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương ,đặc biệt khi lớn lên chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn.

Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già ” khôn róc đời” , “kẻ ném đá giấu tay”, ” già đời trong nghề đục khoét” , biết thế nào là ” mềm nắn rắn buông” ,” Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn . Hay đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng rồi vứt lại trả năm hào vì thương anh túng quá!”.

Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào tù và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có chí Phèo ,Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà còn là phương tiện tối ưu để thống trị : ” Không có mấy thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò” ,Chính Bá Kiến đã rút ra kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy .

Là một kẻ nham hiểm ,nhẫn tâm nhưng Bá Kiến lại hiện ra bên ngoài là một kẻ ôn hòa, xởi lởi ,biết điều , khiến người đời phải nhìn hắn bằng cặp mắt ” kính cận” … Vì thế mà hắn lường gạt không biết bao nhiêu người dân chất phát lương thiện .

Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự bị biến thành công cụ , phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết .Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm như một nhân vật điển hình cho một bộ phận của giai cấp thống trị .

Cùng với hắn là Lí Cường ,Chánh Tổng, Đội Tảo,Bát Tùng …chính chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam . …như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu .

Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khởi tù, hắn trở làng với cái vẻ hung đồ ,ương ngạnh được học từ đó. Với bấy nhiêu thôi cũng đã quá đủ để ta cảm nhận.

Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lí và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại,đau đớn trước thân phận của kiếp người .

Lồng vào bức tranh hiện thực đó là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra . ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gửi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót … tự nó đã mang nội dung nhân đạo .Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật tha hóa đến tận cùng

. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ ,chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết .Sự xuất hiện của Thị Nở có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỷ hờn” ,lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tăm tối của tâm hồn Chí Phèo , làm gợi dậy tính người ở nơi Chí Phèo .

Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở , Chí Phèo giờ đây đã cảm nhận được ánh sáng, âm thanh của cuộc đời – tiếng chim vui vẻ , tiếng anh thuyền chèo gõ mái gọi cá , tiếng lao xao của của người đi chợ bán vải … Đó là những âm thanh quen thuộc ngày nào chả có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy . Chao ôi là buồn , trong cái phút tỉnh táo ấy Chí Phèo như đã trông thấy tuổi già ,đói rét và cô độc – cái này còn sợ hơn cả ốm đau.

Cũng may Thị Nở mang bát cháo tới ,nhìn bát cháo hành bốc khói mà lòng Chí xao xuyến bâng khuâng : Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con , hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ …Ôi sao mà hắn hiền ! ” Hắn thèm lương thiện – Hắn khao khát làm hòa với mọi người ” .

Từ một con quỷ dữ , nhờ Thị Nở , nói đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở , Chí thực sự trở lại làm người ,với tất cả những năng lực vốn có . Một chút tình thương ,dù là tình thương của một người dở hơi, bệnh hoạn,thô kệch,xấu xí .

cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo . thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào ! Bằng chi tiết này, Nhà văn Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ .

Thế nhưng đau đớn thay, rốt cuộc cái mơ ước nhỏ nhoi được làm người lương thiện đó của Chí không đến được với Chí – Ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí – Chí hiểu mình không còn trở về với cuộc sống của cộng đồng lương thiện được nữa .Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người vĩnh viễn và không trả lại .Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say ,bao nhiêu lần đâm chém …đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

Cái chết của Chí là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đao ,và cũng là tiếng kêu cứu về quyền làm người , cũng là tiếng gọi thảm thiết : Hãy yêu thương con người , Hãy cứu lấy con người . Đó là tư tưởng và tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà chúng ta cảm nhận từ những trang sách của nhà văn Nam Cao.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 5: Phân tích giá trị hiện thực mới mẻ trong Chí Phèo

Nam Cao để lại số lượng tác phẩm không phải quá đồ sộ chỉ khoảng hơn 60 tác phẩm nhưng những tác phẩm của ông đều giàu giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Các tác phẩm trước cách mạng tháng tám là những ưu tư, trăn trở về cuộc sống người trí thức, người nông dân. Đặc biệt, với người nông dân đó còn là những suy tư về sự bần cùng hóa của họ khi bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào bước đường cùng. Những ưu tư đó đã được thể hiện rõ nét qua nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên.

Trước hết, Chí Phèo là một người nông dân lương thiện. Từ khi sinh ra, Chí là đã trẻ mồ côi, được anh thả ống ươn đem về cho bà góa mù nuôi, nhưng sau đó bà góa mù lại bán Chí cho bác phó cối. Khi bác phó cối mất, Chí lớn lên trong sự cưu mang, đùm bọc của mọi người.

Trưởng thành, Chí là chàng trai khỏe mạnh, ham lao động với những mơ ước hết sức bình dị : chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Ước mơ ấy của người nông dân thật trong sáng và đẹp đẽ. Chí làm thuê cho Bá Kiến, nhưng không dừng lại ở đó, Chí còn bị bà ba ép bóp chân, làm những việc đó Chí chỉ cảm thấy nhục hơn là thấy thích.

Chí là một người có lòng tự trọng. Những mơ ước, khát khao bình dị, cùng với lòng tự trọng sâu sắc đã cho ta thấy khởi nguồn của Chí là một con người hiền lành, chất phác, Chí là một nông dân lương thiện.

Từ một người nông dân lương thiện, Chí bị tha hóa về nhân cách, trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chí Phèo bóp chân cho bà ba và bị Bá Kiến bắt gặp, cơn ghen điên cuồng nổi lên, Bá Kiến đẩy Chí vào nhà tù thực dân, và cũng từ đây Chí bị tha hóa về cả nhân hình và nhân tính.

Nhân hình của Chí Phèo không khác gì con quỷ dữ: Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng , hai mắt gườm gườm trông gớm chết ; ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy.

Hắn luôn trong tình trạng say xỉn, chửi bới, đánh nhau và ăn vạ. Chí đã biến thành tên lưu manh hung hăng, liều lĩnh. Không dừng lại ở đó, Chí còn bị Bá Kiến lợi dụng, hắn dùng sự khôn ngoan, xảo quyệt để lợi dụng Chí, Chí Phèo lúc này khờ khạo, u mê trong hơi men nên dễ dàng để Bá Kiến lợi dụng.

Hắn trở thành tay sai cho Bá Kiến, cho cái ác, làm bất cứ việc gì mà Bá Kiến yêu cầu. Cả dân làng Vũ Đại tránh hắn như tránh hủi, mọi lời khà khịa của hắn mọi người đều bỏ ngoài tai và coi như nó chừa mình ra.

Sự tha hóa của Chí Phèo không phải là hiện tượng bất thường, mà nó là hiện tượng mang tính quy luật của xã hội dương thời, Chí là sản phẩm tất yếu của xã hội đè nén, chèn ép khiến con người phải biến chất, tha hóa, mất hết nhân hình và nhân tính.

Chí Phèo khi sinh ra đã là trẻ mồ côi, bị chính mẹ đẻ cự tuyệt quyền sống. Đến khi lớn lên hắn lại một lần nữa bị cự tuyệt quyền làm người. Hắn bị đẩy ra vùng ngoại vi của xã hội, Chí Phèo cô độc đến tột độ, lời hắn chửi ở mọi lúc mọi nơi chính là biểu hiện sự cô đơn ấy. Hắn chửi trời, chửi đời nhưng chẳng ai đáp lại hắn, thành ra chỉ có tiếng chó sủa đáp lại hắn. Sống trong một cộng đồng, nhưng lại bị chính cộng đồng xa lánh, còn gì khốn khổ và tội nghiệp hơn cho thân phận Chí Phèo.

Gặp Thị Nở là một cơ may giúp Chí phục sinh phần người ít ỏi còn sót lại, giúp Chí nhận ra nhiều điều trước khi quá muộn. Chí bị cảm lạnh, nôn mửa, Thị Nở đã đưa Chí Phèo vào lều, đắp cho hắn manh chiếu rách lên người để hắn khỏi lạnh.

Để rồi sau những ngày dài triều miên trong hơi men, đến hôm nay Chí mới lắng lòng mình để nghe, để cảm nhận những âm thanh cuộc sống: Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ….

Đó là những tiếng quen thuộc hôm nào cũng có nhưng từ khi ở tù về Chí chưa một lần nghe thấy. Chí thấy rùng mình khi nghĩ về rượu, Chí nhớ về quá khứ tươi đẹp, những ngày hắn được sống, được làm việc, với những mơ ước hết sức bình dị: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ.

Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Nhưng thực tại của hắn lại chẳng có gì, hắn già và cô độc, nhận ra rằng mình đã sang cái dốc bên kia của cuộc đời và chẳng thể mãi lấy nghề rạch mặt ăn vạ mà sống.

Cũng may lúc ấy Thị Nở vào, mang bát cháo hành nóng hổi đến cho Chí. Đón bát cháo hành từ tay Thị Nở, Chí hết sức ngạc nhiên, từ ngạc nhiên hắn thấy mắt mình ươn ướt. Bởi cả cuộc đời hắn đã bao giờ được ai săn sóc, những thứ hắn có được đều do rạch mặt ăn vạ mà có.

Hắn giờ mới biết đến tình yêu thương, sự săn sóc, “hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Tình yêu thương đã giúp Chí thức tỉnh, Chí thấy thị có duyên, và bùng lên khao khát được chung sống với thị Nở, đây là khát khao chính đáng là đích đến của tình yêu chân chính.

Hắn không còn kinh rượu nhưng luôn cố uống cho thật ít và trở nên hiền lành đến khó tin. Tình yêu có sức mạnh cảm hóa diệu kì, đã cảm hóa một thằng săng đá thành một con người lương thiện, hiền lành và thức tỉnh trong Chí khát khao được làm người lương thiện.

Thế nhưng, tưởng chừng hạnh phúc, con đường trở về làm người lương thiện đã mở ra với Chí, thì chính lúc ấy đóng sầm lại. Thị Nở nghe lời bà cô, cự tuyệt Chí, thị trút hết những lời bà cô nói vào mặt hắn, Chí Phèo hiểu, níu kéo nhưng tất cả đều trở nên vô ích.

Chí khóc và ngửi thấy hương cháo hành thoảng qua, nỗi đau trong Chí càng cuộn trào hơn. Chí xách dao với mục đích giết chết cả nhà Thị Nở, nhưng quen chân lại đến nhà Bá Kiến và trong Chí cũng nhận ra kẻ thù, người đẩy hắn đến kết cục bi thảm này chính là Bá Kiến chứ không phải ai khác.

Chí Phèo đến nhà Bà Kiến giết hắn và kết liễu đời mình. Đây là sự lựa chọn duy nhất của Chí Phèo: con đường quay lại làm người lương thiện không được, vì xã hội ruồng bỏ, không chấp nhận Chí; Làm quỷ dữ cho Bá Kiến giật dây Chí không muốn. Bởi vậy chết là cách duy nhất để Chí được làm con người lương thiện. Cái chết của Chí là một đòn mạnh mẽ, lên án, tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời, đã đẩy con người vào đường cùng phải tìm đến cái chết.

Tạo nên sức hấp dẫn của nhân vật phải kể đến nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình với diễn biến tâm lí tự nhiên, hợp lí, hấp dẫn. Cốt truyện giàu kịch tính, biến hóa linh hoạt, kết thúc tác phẩm phù hợp với sự phát triển tất yếu của nhân vật. Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, kể đảo trật tự thời gian.

Qua hình tượng nhân vật Chí Phèo tác giả đã khái quát lên một hiện tượng ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: một bộ phận người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và cuối cùng bị đẩy đến cái chết không lối thoát. Từ đó phơi bày thực trạng xã hội đương thời. Với nhân vật này, Nam Cao còn khẳng định ngợi ca vào thiên tính tốt đẹp và sức sống tiềm tàng, hướng thiện của những người nông dân.

Số 6: Cảm nhận giá trị hiện thực của Chí Phèo

Truyện ngắn Chí phèo là một trong những tác phẩm nổi bậc nhất viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Tác phẩm có giá trị phản ánh hiện thực và giá trị nhân đạo hết sức to lớn. Một góc nhìn khác biệt về hiện thực cuộc sống giúp Nam Cao phát hiện và kịp thời ời phản ánh chân thực xã hội Việt Nam trong đêm trước Cách mạng.

Tác phẩm phản ánh những mâu thuẫn, xung đột gay gắt ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám trên bình diện rộng lớn và tầm khát quát lớn hơn.

Trước hết là mâu thuẫn giữa nội bộ giai cấp thống trị ở cấp làng xã. Cụ thể là mâu thuẫn sống còn giữa phe cánh Bá Kiến và những kẻ có thế lực khác. Tại làng Vũ Đại – một mảnh đất “quần ngư tranh thực”, các phe nhóm tìm cách thanh trừng lẫn nhau. Chúng lún nhau xuống bùn và luôn ra sức tác oai tác oái.

Chúng không trừ bất kì thủ đoạn nào để có thể hạ bệ lẫn nhau. Càng xung đột, chúng lại càng mạnh lên vì không ngừng tăng cường lực lượng và sức mạnh của mình để sinh tồn. Điều đáng nói là chính mâu thuẫn gay gắt giữa hai phe là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai ương cho những người dân lương thiện.

Tiếp đến là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp nông dân. Đây là mâu thuẫn xã hội quyết liệt nhất.

Tiêu biểu cho giai cấp thống trị là nhân vật Bá Kiến. Bá Kiến hội tụ đủ những điều xấu xa và tàn bạo của một kẻ thống trị điển hình. Lão không những gian manh mà còn xằng bậy hết sức. Lão không những tàn bạo, độc đoán mà còn hết sức khôn ngoan, quỷ quyệt.

Đây là một góc nhìn sâu sắc của nhà văn về giai cấp thống trị trong xã hội. Bá Kiến khác với một số nhân vật khác như Nghị Quế (trong Tắt đèn – Ngô Tất Tố) hay Nghị Lại (trong Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan ), dù có tham lam nhưng không xảo trá. Bá Kiến giỏi che đậy. Lão sinh ra trong gia đình sáu đời làm lý trưởng. Lão giỏi trong việc trị dân. Trời phú cho lão cái giọng quát rất sang và nụ cười Tào Tháo.

Trong phép trị người, lão có phương sách thống trị hẳn hoi: mềm nắn rắn buông, túm thằng có tóc chứ không túm thằng trọc đầu, lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, dùng thằng liều trị thằng liều. Lão lại hết sức khôn ngoan, lọc lõi róc đời.

Lão tìm mọi cách đẩy người khác xuống nước rồi giả vờ vớt lên. Hãm hại người ta nhưng cuối cùng lại để người ta mang ơn mà làm việc cho lão. Từ tội nhân mà lão biến thành ân nhân. Còn nạn nhân thì biến thành tội nhân phải ghi ơn cứu vớt của lão. Thật là cách đối nhân xử thế thâm hiểm vô cùng.

Chí Phèo tiêu biểu cho số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện nhưng xui rủi bị đẩy vào con đường tha hóa để rồi bị loại ra khỏi xã hội loài người và khi thức tỉnh lương tâm phải chết một cách thảm khốc.

Cuộc đời Chí Phèo là chuỗi dài của những khổ đau cùng cực. Không chỉ Bá Kiến là kẻ trực tiếp tước đoạt quyền sống, quyền làm người của hắn mà xung quanh Chí còn có biết bao thế lực khác. Không Bá Kiến thì kẻ khác cũng gây ra những bất hạnh đối với cuộc đời hắn thôi. Sự chuyển biến của Chí Phèo cũng là sự chuyển biến của người nông dân trước Cách mạng.

Trong bước đường cùng, họ cũng làm liều, họ cũng vùng lên tìm lối thoát. Nhưng càng phản kháng, cái dây ràng buộc của giai cấp thống trị như chiếc thòng lọng càng siết chặt hơn. Cuối cùng cũng đi vào bế tắc, tuyệt vọng.

Nam Cao cũng phát hiện ra mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị thực dân và giai cấp nông dân là mâu thuẫn không thể điều hòa được. Giai cấp thống trị với tham vọng vơ vét thật nhiều tài sản và không ngừng đàn áp nông dân để củng cố quyền thống trị của mình.

Còn giai cấp nông dân trong cảnh sống bức bối, ngột ngạt không ngừng phản kháng mãnh liệt. Đó là một quy luật tất yếu của xã hội. Hễ còn xã hội bất công, vô nhân đạo thì vẫn còn hiện tượng Chí Phèo. Hay rộng hơn là hiện tượng người thiện lương bị tha hóa rồi phải chết một cách thê thảm.

Chí Phèo là một bài ca cảm động về tình yêu thương con người. Qua cuộc đời và số phận đầy bi thảm của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao thể hiện sâu sắc tình yêu thương vô hạn của mình đối với những số phận khổ đau trong cuộc đời. Dù xuyên suốt tác phẩm chỉ là một giọng kể khách quan sắc lạnh.

Nhưng ẩn sâu trong đó là một nỗi đau và niềm thương sót đối với bi kịch con người bị tước đoạt cả quyền được sống và quyền được làm người một cách chính đáng. Đó là nỗi đau về hiện trạng con người bị chà đạp, bị hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính. Từ tư cách con người phải sống như một con vật vô tri và đơn độc.

Không những ở nhân vật Chí Phèo, cả nhân vật Thị Nở cũng là một thành công của Nam Cao. Bên trong con người đàn bà xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” kia lại có một sự cảm thông cao quý mà những người bình thường, đẹp đẽ khác không có được.

Trong người đàn bà ngờ nghệch, dở dở ương ương ấy lại có một tình yêu thánh thiện, vô tư đến thế. Có lẽ, chỉ có một trái tim không toan tính như Thị Nở mới thấu hiểu, mới không sợ hãi, thù ghét, mới có thể cảm hóa được con quỷ tàn bạo trong con người Chí Phèo.

Chí Phèo là một bản cáo trạng đanh thép xã hội bất nhân đã chà đạp lên nhân phẩm con người, đẩy người nông dân hiền lành vào bước đường cùng không lối thoát.

Chính cái xã hội vô nhân đạo và giai cấp thống trị bất nhân ấy đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường tha hóa, biến dạng đến khủng khiếp. Bá kiến là một đại diện điển hình và hết sức sinh động cho cái xã hội “chó đểu” ấy. Hằng ngày, hắn cưỡng đoạt, cướp bóc, vun vét cho thật đầy túi tham của hắn.

Ghét ai thì hắn làm cho điêu đứng. Thâm hiểm nhất là cái mưu trị người của hắn. Hắn âm thầm xô cho người ta ngã rồi đưa tay đỡ họ dậy để họ phải mang ơn. Mấy thằng cứng đầu không trị được thì hắn dùng, lấy “đầu bò trị mấy thằng đầu bò”. Quả thực, hắn là tên cáo già thâm hiểm, xảo quyệt và gian manh lừng lẫy.

Xã hội ấy cũng tìm cách tiêu diệt tận cùng quyền sống của con người, hủy hoại cả nhân hình lẫn tính của họ. Bất kì một sự phản kháng, thậm chí là hiền lành nào cũng đều bị tiêu diệt. Các giai cấp thống trị ấy không muốn để ai được yên.

Chí Phèo hiền như cục đất, tưởng chừng như một cuộc đời êm đẹp sẽ đến với Chí để bù đắp cho cái thân phận mồ côi, hèn nhục của hắn. Có ai ngờ, một ngày, người ta bắt giải hắn lên huyện không rõ vì lí do gì. Rồi hắn bặt vô âm tính luôn từ đó.

Bảy, tám năm sau hắn trở về làng, cái anh Chí hiền lành ngày xưa giờ không còn nữa. Hắn trở nên thô lỗ, ngang ngược và thích rạch mặt ăn vạ như bao kẻ côn đồ khác.

Lần thứ nhất, Chí Phèo bị tước đoạt quyền sống và quyền làm người một cách trắng trợn và tàn bạo. Trong lòng Chí Phèo chất chứa hận thù. Nhưng hắn không thể nhận ra ai mới là kẻ thù đích thực của mình. Thế nên hắn mới chửi mọi thứ có liên quan tới hắn và hi vọng trong đó có cả kẻ thù của mình. Đó là một sự phản kháng mù quáng và tuyệt vọng của người nông dân trong bóng tối cuộc đời. Họ quá khổ nhưng không biết vì sao họ khổ, ai làm họ khổ?

Lần thứ hai, khi tình yêu của Thị Nở đánh thức lương tri và khát vọng sống lương thiện của hắn trong chuỗi ngày say sỉn, Chí Phèo lại bị cướp mất đi cơ hội duy nhất. Thị Nở rời đi, cánh cửa bước vào cuộc đời đóng sầm lại trước mắt.

Hắn rơi vào tuyệt vọng cùng cực. Trong phẫn uất, Chí nhận ra cái nguyên nhân đích thực gây nên bi kịch cho cuộc đời hắn. Đó chính là Bá Kiến. Và một kết cục bi thảm đã xảy ra như một quy luật tất yếu. Chí Phèo cầm dao đâm chết Bá Kiến rồi tự vẫn sau đó. Hắn chết trước ngưỡng cửa bước vào cuộc đời.

Hình tượng nhân vật Chí Phèo là một minh chứng sinh động cho cái hiện thực tàn khốc của xã hội Việt Nam trước Cách mạng. Muốn tồn tại bằng nhân hình thì nhân tính mất đi, phải bán đi linh hồn của mình để tồn tại. Một khi nhân tính trở về thì nó không thể chấp nhận cái nhân hình ấy. Nó cự tuyệt, nó xua đuổi một cách quyết liệt. Cái chết của Chí Phèo là tất yếu, không thể khác được.

Tác phẩm trân trọng, khẳng định và đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người. Dù sống trong bối cảnh ngột ngạt nhưng bản chất lương thiện vẫn tiềm tàng trong những con người nghèo khổ.

Trước hết là bản chất lương thiện ở những con người xấu xí, kệch cỡm chưa hẳn đã mất đi. Chí Phèo bị chà đạp nhân hình lẫn nhân tính. Bá Kiến nhuộm đen nhân tính Chí Phèo. Trong con người tưởng như cả xác lẫn hồn đều mất đi nhưng vẫn tồn tại bản chất lương thiện.

Xã hội dù khô héo tình người nhưng nhân tính trong Chí vẫn chưa cạn. Chí khóc khi được ăn cháo hành của thị Nở chính là minh chứng sinh động cho bản chất lương thiện trỗi dậy của y. Chí trở lại lương thiện bằng nước mắt. Tình thương của thị giúp bản tính thiện lương của Chí hiện hình. Rồi Chí lại khóc khi không níu kéo được Thị Nở ở lại. Một khi còn biết khóc, còn biết sợ hãi thì cái nhân tính con người hãy còn đó.

Chính Thị Nở là phát hiện lớn nhất về Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Thị dở hơi, đần độn. Người đàn bà ấy là sản phẩm không hoàn thiện của tạo hóa nhưng ở thị có cái mà cả một xã hội lạnh lùng kia không có: ấy chính là tình thương. Tình thương của thị đánh thức lương tâm Chí, cứu vớt số phận Chí. Chính thị đã mang đến cho Chí cuộc sống đúng nghĩa một kiếp người, dù chỉ có năm ngày ngắn ngủi.

Sự thức tỉnh lương tâm của con người lầm lỗi là nguồn cội của sức mạnh phản kháng quyết liệt, dữ dội như vũ bão. Cái chết của Chí chính là sự chiến thắng của lương tâm. Chí Phèo gắng gượng về với xã hội con người. Hắn đã rất cố gắng. Chỉ cần mở được cánh cửa là trở về. Nhưng nó lại đóng sầm lại trước mặt Chí. Nếu Chí không chết, Chí lại sẽ trở về cuộc sống của loài quỹ dữ. Chí chết trên ngưỡng cửa trở về với xã hội loài người.

Sự thức tỉnh khiến y nhận ra được giá trị của sự lương thiện, thà chọn cái chết còn hơn là quay về cuộc sống loài quỹ, loài thú như trước đây. Tác phẩm Chí Phèo đặt ra một câu hỏi lớn: làm sao để con người được sống trong lương thiện?

Ai cũng muốn sống lương thiện. Đó không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi chính đáng của con người. Nhưng trong xã hội tàn bạo ấy, họ không thể có được một cuộc sống yên ổn như chính bản chất của họ. Bá Kiến và những phe cánh đối địch liên tiếp gây nên những nghịch cảnh đớn đau đối với người nông dân.

Không chỉ Chí Phèo bị tha hóa, mà trước đó đã có những Binh Chức, Bình Thọ, Tư Lãng,… Một khi còn có những tên như Bá Kiến thì vẫn xuất hiện những người như Chí Phèo. Bởi thế, tìm kiếm sự lương thiện trong xã hội đen tối ấy quả thực còn khó hơn cả cái chết.

Qua tác phẩm, Nam Cao đã chỉ ra, hãy ngăn chặn xã hội vô nhân đạo làm tha hóa con người là phải thay đổi, cải tạo xã hội để nó nhân đạo hơn. Chỉ khi đó lương thiện mới được xác lập.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 7: Phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo

Giai đoạn những năm trước Cách mạng tháng 8 là thời kỳ vô cùng đen tối trong lịch sử dân tộc, trong đó số phận của những người nông dân dưới ách thống trị của thực dân phong kiến đã trở thành đề tài được nhiều nhà văn đương thời chú ý và khai thác tập trung, triệt để. Nổi bật trong số đó, phải kể đến các tác giả như Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan với Tinh thần thể dục 1, 2, hoặc  Kim Lân với Vợ Nhặt,…

Nhưng có lẽ chưa bao giờ người ta lại thấy số phận người nông dân đau đớn, tuyệt vọng đến tột cùng như trong các tác phẩm của Nam Cao, một nhà văn có lối viết lạnh lùng, chân thực đến trần trụi của nền văn học hiện thực Việt Nam

Chí Phèo là một nhân vật điển hình và gây ấn tượng mạnh mẽ trong văn đàn với số phận trái ngang và những bi kịch đớn đau tàn phá cả thể xác lẫn tâm hồn, từ chuyện bị lưu manh hóa, cho đến bị tha hóa thành con quỷ dữ, rồi cuối cùng đớn đau nhất là bi kịch bị từ chối quyền làm người.

Bi kịch của Chí Phèo có lẽ đã bắt đầu từ khi hắn mới lọt lòng mẹ, một đứa trẻ đỏ hỏn bị người ta bỏ rơi bên cái lò gạch cũ trên người chỉ quấn độc một cái váy đụp cũ, có biết bao nhiêu đáng thương và xót xa cho một kiếp người mới khởi đầu đã đầy đau thương?

Hắn được đặt cho một cái tên dẫu đơn giản nhưng nhiều ý nghĩa, phải tên hắn là Chí, một cái tên hiền lành, đáng yêu biết bao. Đứa trẻ tội nghiệp ấy cũng chẳng có lấy nửa phần may mắn là được một gia đình tử tế nhận nuôi, mà bị truyền tay hết từ người này sang người khác, rồi cuối cùng lớn lên trong cái nôi nghèo khó của làng Vũ Đại.

Thế rồi Chí cũng lớn lên yên ổn, trở thành một chàng trai khỏe mạnh, hiền lành, chất phác, tu chí làm ăn, trở thành anh canh điền cho nhà Bá Kiến, kiếm sống bằng chính mồ hôi công sức của bản thân. Không chỉ vậy con người anh còn nổi bật với những ước mơ dẫu giản dị nhưng cao đẹp, Chí ao ước có một mái ấm hạnh phúc, chồng làm ruộng vợ dệt vải, có mảnh vườn xinh, có vài con lợn.

Đó không phải là mơ ước gì quá cao xa bồng bột, nhưng có lẽ đối với cuộc đời của chàng trai hơn 20 tuổi đầu này lại là một thứ viển vông, thậm chí còn là căn nguyên dẫn đến những tột cùng bi kịch.

Điều ấn tượng thứ hai về con người hiền lành, chất phác này ấy là tấm lòng tự trọng, biết giữ liêm sỉ, trước sự ve vãn mời gọi của bà ba – vợ Bá Kiến, nhưng một chàng trai đang độ tuổi thanh xuân là Chí lại chẳng hề có chút suy chuyển, Chí chỉ thấy nhục nhã.

Cái lương tâm con người không cho phép anh làm chuyện bại hoại ấy, dù là về thể xác hay cả về những lợi ích tiền tài khác, trong tâm hồn anh hiện lên một triết lý rất đáng để người ta trân trọng yêu thương rằng “Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt.người ta không thích cái gì người ta khinh”. Thế mà, lẽ sống lương thiện, sạch sẽ ấy lại phải chịu cái kiếp vùi dập dưới ách thống trị của chế độ tàn ác, thực dân nửa phong kiến bởi chính cái lòng lương thiện của mình.

Từ Chí biến thành Chí Phèo, cũng chỉ bởi cái xấu xa đê tiện của lũ người thống trị, một người đàn bà đa dâm, lăng loàn, một người đàn ông sợ vợ, bất lực là Bá Kiến chẳng biết trút cái sự ghen tức, phẫn nộ của mình vào đâu ngoại trừ anh canh điền tội nghiệp.

Và thế là Chí nghiễm nhiên được ban cho cái tội ăn cắp, ăn trộm, rồi bị tống thẳng vào tù 7, 8 năm trời, dở sống dở chết với lũ quan sai. Nhưng nó đâu phải là một cái nhà tù bình thường cho người ta cơ hội được sống, được cải tạo, mặc dù Chí cũng chẳng làm gì sai.

Mà cái nhà tù ấy đã đày đọa, nhào nặn biến con người ta thành một kẻ ghê gớm, bặm trợn, biến Chí thành Chí Phèo, biến một người từ biết tự trọng, liên sỉ thành một kẻ lưu manh, suy đồi về đạo đức, cũng chẳng thèm biết đến tự trọng là gì nữa.

Còn đâu một chàng trai độ hai mươi tuổi sung sức, trẻ trung mà giờ đây người ta chỉ thấy ái ngại, khiếp sợ trước một con người có dáng vẻ khác thường, khác người “trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế.

Trông gớm chết!”. Người ta đã không còn nhận ra anh canh điền hiền lành, chất phác ngày xưa nữa, mà trước mắt chỉ thấy một kẻ trông đặc như lưu manh, và rồi người ta lại càng chắc chắn điều đó hơn khi chứng kiến hắn uống rượu ăn thịt chó ở ngoài chợ suốt từ trưa tới chiều.

Đến lúc đã say khướt thì chân nam đá chân chiêu mò đến nhà Bá Kiến vừa đi vừa chửi, không ai dám tiếp hắn hay chửi lại, thành thử ra người ta thấy xuất hiện một hình ảnh bi hài, người chó xướng ca khi “chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu!”.

Rồi người ta còn bất ngờ hơn khi thấy thằng say rượu ấy sống chết lăn vào đánh nhau với Lý Cường con trai của Bá Kiến, đánh không lại thì nằm lăn ra ăn vạ, và ăn vạ một cách vô cùng cực đoan ghê rợn.

Chí Phèo đập nát vỏ chai rồi tự rạch mặt mình, máu me chảy bê bết, sẵn sàng lên giọng thách thức với Bá Kiến “Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đây thôi”. Như thế có thể thấy rõ rằng, Chí Phèo đã hoàn toàn bị tha hóa về nhân cách trở thành một kẻ lưu manh chính hiệu, cực đoan và ghê gớm

Thế nhưng, những tưởng sự liều mạng và ngoại hình kinh khủng của Chí sẽ khiến Bá Kiến sợ, nhưng trái lại nó lại trở thành món lợi cho kẻ gian xảo lọc lõi như Bá kiến, bởi vốn dĩ ông ta đã quá hiểu và quá quen với những kẻ như Chí Phèo.

Sự u mê, ít học của Chí đã khiến hắn trượt dài trên con đường tha hóa nhân cách vào mức đường không thể vãn hồi. Bá kiến chỉ bằng vài lời ngon ngọt, êm tai, thêm vài đồng tiền đã có thể dỗ dành Chí Phèo trở thành tay sai cho mình, thay mình đâm thuê chém mướn, trở thành con qủy dữ của làng Vũ Đại

. Còn đắng cay thay Chí  Phèo lại không hề nhận ra mình đang tiếp tay cho kẻ thù, đang tiếp tay cho cái ác, mà vẫn ngày ngày bán lẻ nhân cách để lấy vài đồng bạc uống rượu triền miên hơn chục năm trời.

Để rồi trong tầm mắt của làng Vũ Đại, Chí đã trở thành một con gì ấy rất lạ, không phải một con người có nhân tính mà là một gương mặt “vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”.

Đọc mà thấy xót xa cho một kiếp người chẳng được làm người, mà lại được xem như một “con vật lạ”, từ một kẻ vốn chỉ ham rượu chè đến một kẻ triền miên trong những cơn say dài, “cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận” Suốt 15 năm, nhưng đời người có được bao nhiêu cái 15 năm ấy, Chí Phèo đang tự tay chôn vùi cuộc đời mình với sự ủng hộ tuyệt đối của bè lũ thống trị phong kiến tay sai, thật xót xa và đau đớn.

Rượu đã dẫn lối cho Chí lao vào những cuộc thanh trừng mà Bá Kiến chỉ đạo, biết “bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm!”, rồi riết hắn nghĩ đó chính là cuộc đời mình.

Nhưng người ta vẫn có thể nhận ra rằng, Chí Phèo dẫu có tha hóa, lưu manh hóa thì hắn vẫn khao khát được giao tiếp lắm, nhưng cái cách giao tiếp của hắn làm người ta ngày càng sợ và xa lánh. Hắn chửi trời, đất, chửi tất cả và “chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo?”, để khiến hắn đớn đau, lay lắt trên đời hơn 40 năm ròng rã.

Cuối cùng thì chẳng ai thèm quan tâm đến cái thằng chuyên chửi ấy, người ta chỉ cốt sao tránh cho thật xa, Chí Phèo phải nhận bi kịch thất bại trong giao tiếp, bị từ chối quyền làm người trong cô độc và tuyệt vọng.

Có lẽ bi kịch của Chí chỉ dừng lại ở đấy thôi, nhưng không cái xã hội thối nát này nó không dồn con người ta vào đường cùng thì có lẽ vẫn không chịu buông tha. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở, chính là bước ngoặt lớn nhất trong đời Chí, kể từ cái ngày hắn bị tống vào tù.

Người đàn bà xấu đau xấu đớn ấy, lại đem đến cho Chí những nhận thức sáng sủa về thế giới xung quanh, đó là tiếng chim hót ríu rít, tiếng người nói chuyện cười đùa, và cả thứ ánh sáng mặt trời qua vách nứa mà có lẽ gần 20 năm qua hắn chẳng hề ngó ngàng tới.

Sau khi nhận thức được sự sống ngoài kia, hắn mới nhìn lại cái thân thể yếu ớt, rã rời của mình, hắn chợt nhận ra mình đã bước sang hẳn bên kia con dốc của cuộc đời trong vô thức. Rồi Chí Phèo cũng dường như dự đoán được tuổi già ốm yếu, bệnh tật và sự cô độc. Hắn còn sợ cái đói cái rét hơn cả sự cô đơn, bởi vốn dĩ hắn đã cô đơn lắm rồi.

Những lời tình tứ, ân cần và bát cháo hành nóng hổi của Thị Nở đã làm bùng cháy dậy những khao khát hạnh phúc, khao khát được quay về cuộc đời lương thiện, làm sống lại những mơ ước thời trai trẻ “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!(…). Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện…”..

Sau ngần ấy năm bê tha, cuối cùng cái tâm hồn thiện lương, đã quay trở lại với Chí, hắn khóc vì xúc động trước cái tình người của Thị Nở, rồi sau đó là tình yêu với thị, và những mong ước có lẽ sẽ trở thành hiện thực. Và Thị Nở sẽ trở thành cầu nối dẫn hắn về với cuộc sống bình thường, được hưởng hạnh phúc và hắn lại như xưa, sống chan hòa trong vòng tay yêu thương của làng Vũ Đại.

Nhưng trời nào có chiều lòng người, chỉ một câu nói chua ngoa gay gắt của bà cô, người đàn bà ế chỏng trơ, thấy cháu gái có chồng thì liền không cam lòng, và sự dở hơi của Thị Nở đã hoàn toàn chặt đứt mọi hy vọng của Chí, đẩy hắn vào vực sâu không lối thoát.

Khiến hắn nhận ra sự thật nghiệt ngã rằng xã hội và những định kiến sẽ chẳng bao giờ cho hắn làm lại từ đầu, không bao giờ. Việc Chí Phèo giết Bá Kiến và tự sát có thể xem là một cái kết hợp lý nhất cho những bi kịch chất chồng của nhân vật.

Là minh chứng cho sự quay lại của tính người, bản chất lương thiện bất diệt trong tâm hồn Chí Phèo, đồng thời cũng là nhận thức của Chí về bộ mặt của những kẻ cầm quyền, mà chỉ khi tiêu diệt chúng thì bi kịch mới kết thúc triệt để.

Chí Phèo của Nam Cao là một tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất cho nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng. Phản ánh sâu sắc số phận cùng khổ của người nông dân trong xã hội cũ và sự tàn ác, vô nhân đạo của giai cấp thống trị đã đẩy con người ta vào bước đường tha hóa, bi kịch đến tột cùng.

Bên cạnh đó một giá trị không kém phần quan trọng của tác phẩm đó chính là bộc lộ được vẻ đẹp bất diệt của tấm lòng lương thiện, tình người còn ẩn sâu trong tâm hồn nhân vật, dẫu rằng nó có bị giày vò, chà đạp bởi đủ thứ bất công.

Số 8: Phân tích giá trị hiện thực mới mẻ trong Chí Phèo

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam hiện đại.  Trong suốt sự nghiệp cầm bút của mình, ông luôn có những trăn trở, nghĩ suy về sống và viết.

Mỗi tác phẩm của Nam Cao đều hướng về con người, vì con người, và với ông, đỉnh cao của sự sáng tạo là những cái mới mẻ, ông từng viết: “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có”.

Có lẽ chính bởi những quan niệm nghệ thuật chân chính ấy mà Nam Cao đã cho ra đời hàng loạt những tiểu thuyết, truyện ngắn thành công, đánh đấu tên tuổi của mình trên văn đàn văn học.

Truyện ngắn “Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc cho thấy được tài năng nghệ thuật trong ngòi bút điêu luyện của nhà văn, đồng thời qua đó phản ánh được số phận con người với tấn bi kịch đau đớn nhất- bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nhân vật Chí Phèo là nhân vật tư tưởng của tác phẩm.

Chí Phèo xuất hiện trong tác phẩm với tiếng chửi đời, chửi người một cách bất cần. Hắn chửi mà chẳng ai màng quan tâm, để ý tới, tiếng chửi chứa đựng cả những sự xót xa, cả đau thương và tủi nhục.

Phải chăng Chí cũng đang khát khao có được sự quan tâm, lời hỏi han từ ai đó, nhưng chẳng một ai, chẳng một ai trong cái làng ấy thực lòng để tâm đến Chí. Tiếng chửi chua chát ấy mở đầu cho câu chuyện thương tâm về cuộc đời Chí.

Chí Phèo vốn sinh ra đã bất hạnh, thiếu thốn sự yêu thương, tình thân gia đình. Hắn được một người đi thả ống lươn thấy với bộ dạng trần truồng đặt trong cái váy đúp nơi lò gạch cũ bỏ không nhặt về rồi đem cho một bà goá mù. Trớ trêu thay, mụ lại bị đem bán cho phó côi, một người già mà không có con. Khi bác phó côi chết đi, Chí lại sống một thân một mình, bơ vơ.

Cuộc đời không may mắn ấy lại cứ thế vận vào con người tội nghiệp kia. Chí phải đi ở làm thuê cuốc mướn để có cái ăn nuôi sống bản thân mình, dù vậy, Chí vẫn rất chăm chỉ lại lương thiện và có lòng tự trọng.

Cũng như bao người khác, Chí cũng khát khao có được bình yên trong ngôi nhà nhỏ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”, vậy đấy, những người nông dân nghèo họ đâu mong giàu sang phú quý chỉ mong được ấm êm, tình cảm yêu thương gắn bó dành cho nhau rồi cùng nhau cố gắng mà làm ăn vậy thôi. Nhưng ngay cả đến cái ước mơ nhỏ nhoi ấy cũng xa vời với Chí, đắng cay hơn, Chí phải trải qua những bi kịch tồi tệ nhất cuộc đời.

Vào làm thuê cho Bá Kiến, vì sự lẳng lơ của bà vợ ba trẻ mà Chí Phèo phải chịu cái ghen oan của Bá Kiến. Bị đẩy vào tù tội ngót 7, 8 năm trời, Chí Phèo trở thành một con người khác, một còn người mất đi cả hình hài vốn có, mất đi cả nhân tính trước đây, giờ đây người ta xem Chí như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại..

Chí Phèo trở về với cái ngoại hình ghê sợ: “Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Trong bộ dạng với chiếc quần nái màu đen, cái áo tây vàng, ngực, cánh tay chạm trỗ những rồng phượng, ai nhìn thấy cũng phải thốt lên “trông gớm chết!”

Cái nhân dạng xấu xí, tồi tệ đến thế nào mà còn có tính cách hướng thiện thì người đời còn để tâm, nhưng Chí Phèo ra tù tính tình cũng đổi khác, hắn uống rượu say khướt cả ngày từ trưa tới tối, rồi vác thân đến nhà Bá Kiến làm loạn ăn vạ.

Tưởng cương quyết vạch tội ác của bầy lũ thất đức kia những chỉ vài câu dỗ ngọt, vài chén rượu thừa, vài đồng bạc thuê, Chí lại xuôi lòng mà làm thuê cho hắn “Chí Phèo chẳng biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi….

Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào”. Tên Bá Kiến độc ác kia lại dàn xếp với ý nghĩ ngông cuồng có tính toán của hắn: ” Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những thằng đầu bò? ” để dùng Chí Phèo như một tên lưu manh, đầu bò.

Và Chí đã sập bẫy Bá Kiến, từ đấy hắn làm hại không biết bao nhiêu người, phá phách của cải của bao nhiêu gia đình lương thiện. Hắn châm lửa đốt nhà của mụ hàng rượu, hắn đòi nợ cho Bá Kiến rồi tự huênh hoàng: “anh hùng làng này cóc có thằng nào bằng ta!”.

Được nhận vài đồng bạc, vài sào ruộng, Chí càng hả hê sung sướng, rồi đâm đầu theo tên Bá Kiên gian hùng, hiểm độc. Theo thời gian, hắn cứ thế như một kẻ vô danh, không tên không tuổi, “Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi.

Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi? Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người; nó là mặt của con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?”. Hắn không có cả thẻ biên tuổi, trong làng xem hắn là dân lưu tán, vậy mà tội lỗi của Chí  nếu viết ra sớ cũng dài ngốn giấy “Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm!”.

Đau đớn thay cái xã hội với những kẻ tàn ác, những kẻ vì lợi ích, mục đích cá nhân mà đẩy con người đến đường cùng của sự tha hoá, dạy con người đi từ tội lỗi này đến tội lỗi khác.

Chí trở thành một kẻ gian ác bởi bàn tay kẻ gian ác tạo nên, Chí giờ đây không còn là Chí của năm nào nữa, Chí chẳng hề biết được rằng mình chính bây giờ lại “là con quỷ dữ của làng Vũ Ðại”. Người ta xa lánh, sợ hãi hắn như xa lánh một điều gì đó đáng sợ, ghê tởm.

Những tưởng rồi sẽ chẳng có ai đánh thức được phần người trong kẻ tha hoá kia. Nhưng chính trái tim yêu thương hay lòng thương hại của một cô gái xấu xí lại cho Chí cảm nhận được tình người. Chí gặp Thị Nở nơi vườn chuối khi hắn đang say khướt, sự thú vị mà hắn cảm nhận được từ một người “ma chê quỷ hờn” làm hắn “rộn rạo khắp người”.

Và sau cái đêm trăng sáng ấy, Chí mở mắt, cảm nhận được hết những điều xung quanh mà bấy lâu hắn không hề biết, không hề quan tâm tới, lòng hắn có chút bâng khuâng, lạ lùng: “Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình.

Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, rồi hắn nôn nao nhớ lại những ước mơ bình dị xưa kia của mình.

Bát cháo của Thị đã cứu vớt tâm hồn Chí, Chí bắt đầu thấy được thực tại quá nghiệt ngã của mình, nghĩ về một tương lai đầy những nỗi cô độc, đói rét ,ốm đau, hắn bắt đầu thấy sợ hãi, sợ hãi tột cùng.

Còn biết sợ là còn có tính người, còn biết sợ mới chính là con người thực trong Chí. Chí bắt đầu hồi sinh chính mình, bắt đầu biết nhận thức về cuộc đời mình một lần nữa.

Chí cảm động đến phát khóc khi bưng bát cháo trên tay, bởi từ trước tới nay miếng ăn đều do hắn cướp bóc mà có được, Thị là người đầu tiên cho hắn cháo một cách tự nguyện như thế.

Chí thấy ăn năn và hối hận, Chí khát khao, nghĩ suy được làm người lương thiện, được cùng sống vui vẻ với mọi người xung quanh: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được”.

Lấp lánh lương tri trong người Chí lại không thể thắng nổi sự tàn bạo của xã hội lúc bấy giờ. Chí một lần nữa lại rơi vào bi kịch. Hắn muốn được chung sống cùng Thị nhưng Thị lại cự tuyệt hắn, những lời lẽ cay nghiệt, mỉa mai nhưng là sự thực của bà cô khiến hắn càng tức giận, đau đớn.

Dù đã cố gắng nhưng mọi sự đều không thể thay đổi bởi cái định kiến, nghĩ suy mà người ta gán vào trong cái nhân hình của Chí, người ta khinh sợ Chí, không chấp nhận một kẻ như Chí làm chồng.

Nỗi cay đắng cuộn trào, sự căm thù càng lớn, Chí vác dao hòng giết bà cô nhưng bước chân hướng đến nhà tên Bá Kiến, bởi trong Chí lúc này đã hiểu ra rằng, kẻ đẩy hắn vào đường cùng, vào kết cục tàn nhẫn bị thảm này là tên Bá Kiến hung tàn chứ không là ai khác. Chí đã giết chết Bá Kiến, kết thúc cuộc đời đầy đau khổ, bi đát của chính mình.

Một cái chết đáng thương, một cái chết để lại cho lòng người những nghĩ suy , trăn trở, cái chết tố cáo một xã hội thực dân đã đẩy những người khốn khổ vào cái chết bi thương. Đến khi chết, Chí vẫn kêu gào những tiếng xót xa: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa”.

“Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách… biết không! Chỉ có một cách là… cái này biết không?”

Bằng việc đặt nhân vật vào hoàn cảnh điển hình, Nam Cao đã khắc hoạ nên nhân vật Chí Phèo hết sức thành công. Qua nhân vật Chí Phèo ta hiểu hơn được những khốn khổ của người nông dân trước cách mạng, thêm căm phẫn một xã hội mà ngay chính cả quyền được sống, được làm người của con người cũng bị tước đoạt.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Số 9: Cảm nhận giá trị hiện thực của Chí Phèo

Truyện ngắn Chí Phèo in lần đầu có tên là Cái lò gạch cũ (Nhà xuất bản Đời mới, Hà Nội, 1941). Sau đó đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luống cày (Hội văn hóa cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên truyện là Chí Phèo. Đây”là thành công tiêu biểu của Nam Cao về đề tài nông dân, được đánh giá là một kiệt tác trong giai đoạn văn học trước cách mạng tháng Tám. Nội dung truyện Chí Phèo phản ánh xã hội nông thôn ở khía cạnh đấu tranh giai cấp.

Qua hình tượng Chí Phèo – một nông dân bị lưu manh hóa – Nam Cao đã miêu tả chân thực và sinh động cuộc sống bị đè nén, bóc lột đến cùng cực của người nông dân và khẳng định nhân phẩm của họ không bạo lực nào tiêu diệt được.

Suy nghĩ về số phận bi thảm của nhân vật Chí Phèo, người ta thường nói đó là tấn bi kịch của một nông dân nghèo bị tha hoá trong xã hội cũ. Cuộc đời Chí Phèo là cuộc đời khốn khổ của kẻ cùng đinh ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ở phần đầu truyện, tác giả kể về tuổi thơ của Chí. Từ lúc lọt lòng, Chí đã bị mẹ bỏ rơi trong cái lò gạch cũ giữa đồng. Rồi nó lớn lên như cây cỏ, bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Không người thân thích, không một tấc đất cắm dùi, nó không được ai ban cho một chút tình thương.

Nhưng điều bất hạnh lớn nhất của Chí Phèo là không được sống bình thường một đời sống dù nghèo khổ nhưng lương thiện như bao người khác. Chí vốn là chàng trai nông dân khỏe mạnh, hiền lành. Chỉ vì những cơn ghen bóng gió của lí Kiến mà Chí bị đẩy vào tù. Bảy, tám năm đọa đày trong tù, chung đụng với lớp người dưới đáy xã hội, tâm hồn Chí đã bị nhuộm đen.

Từ mặt mũi đến tính cách hắn đều trở nên dị dạng, đáng sợ. Chí Phèo đã bị xã hội đương thời rạch nát cả bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, biến thành con quỷ dữ để rồi bị gạt bỏ không thương tiếc ra khỏi cộng đồng làng Vũ Đại.

Chí Phèo là hiện thân của nỗi khổ đau khôn cùng: sinh ra là người mà không được làm người. Để quên đi nỗi bất hạnh ấy, Chí Phèo uống rượu. Hắn say triền miên, bởi thế hầu như hắn bị tê liệt về ý thức, sống mù tối trong kiếp sống thú vật.

Nhưng đến khi tỉnh rượu thì hắn lại cảm nhận sâu sắc thân phận bi đát của mình. Dường như trong những cơn say triền miên, Chí Phèo vẫn tỉnh. Chí luôn ở trạng thái say – tỉnh bất phân. Sự độc đáo của hình tượng Chí Phèo chính là ở chỗ đó.

Mở đầu tác phẩm, tác giả không chỉ giới thiệu nét độc đáo, hấp dẫn trong tính cách nhân vật mà còn hé mở cho người đọc thấy tình trạng bất hạnh của một số phận. Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi…

Chính lúc điên rồ nhất cũng là lúc Chí Phèo tỉnh nhất. Cách thu hẹp dần đối tượng chửi cho thấy hắn tỉnh chứ không say. Từ đối tượng xa xôi, vu vơ, không đụng chạm đến ai là trời: Bắt đầu hắn chửi trời, có hề gì? Trời có của riêng nhà nào ? Đến đối tượng gần hơn là đời: Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai.

Tức quá, hắn chửi tất cả làng Vũ Đại, chửi tất cả những ai không chửi nhau với hắn và hắn giận dữ điên cuồng khi không ai lên tiếng cả. Trong cơn say, hắn vẫn cảm thấy tuy mơ hồ mà thấm thía nỗi khốn khổ của thân phận mình. Đó là nỗi khổ bị khinh bỉ, né tránh, ghẻ lạnh.

Không có người nào chịu chửi nhau với hắn. Không có ai thèm dây vào hắn. Có nghĩa là dân làng Vũ Đại đã dứt khoát không coi hắn là người. Chửi lại là còn chịu giao tiếp, đối thoại với hắn.

Chí Phèo chửi cả làng với hi vọng được nghe người nào đó chửi lại, nhưng hắn chỉ nhận được sự im lặng đáng sợ. Hắn cô độc, chửi rồi lại nghe, chi có ba con trỏ dữ với một thằng say rượu.

Nam Cao đau xót nhận xét: Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi. Nếu hát được thì đau khổ sẽ vơi bớt. Khổ cho hắn và khổ cho mọi người là trời không phú cho hắn giọng hát. Không biết hát thì hắn chửi, vậy những tiếng chửi rủa kia cũng là một bài hát đặc biệt của riêng Chí Phèo chứ sao? Bài hát lộn ngược của một linh hồn méo mó và đau khổ.

Trong cách chửi của Chí Phèo có cái logic của một tâm lí tỉnh táo – tỉnh táo trong đau khổ cùng cực. Chí Phèo muốn cạy miệng thiên hạ nhưng không được. Hắn đau khổ vì bị tẩy chay trong khi muốn hòa đồng với mọi người. Cuộc đời Chí Phèo có thể chia làm hai chặng lớn: trước và sau khi gặp Thị Nở. Trước khi gặp Thị Nở, đời Chí cũng diễn ra hai chặng nhỏ mà cái mốc của nó là nhà tù.

Nhà tù thực dân đã biến một chàng trai lương thiện thành một tên lưu manh. Sau khi ra tù, Chí về làng thì cả thế lực hắc ám như bá Kiến đã hoàn thành nốt cái công đoạn cuối cùng của quy trình tha hóa là biến một tên lưu manh thành con quỷ dữ.

Nam Cao miêu tả cuộc đời Chí Phèo là một cơn say dài, và có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ rằng có hắn ở trên đời. Chí Phèo rơi vào một tình huống bi thảm. Lúc bấy giờ, nếu sự tỉnh táo có hiện ra thấp thoáng sau những cơn say thì đấy mới là tỉnh rượu chứ chưa phải tỉnh ngộ. Mà tỉnh rượu thì chưa mấy ý nghĩa.

Chỉ sau khi gặp Thị Nở, Chí Phèo mới có sự bừng tỉnh của lương tri. Hắn thực sự đau đớn vì đã ý thức được về nỗi khổ của mình. Ý thức càng sâu sắc thì nỗi khổ càng thấm thía. Thị Nở đóng vai trò là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mà trước nhất là trong tâm lí của Chí Phèo.

Trong một lần say rượu, vô tình Chí Phèo gặp Thị Nở – một người đàn bà xấu xí đần độn và quá lứa lỡ thì. Chút tình yêu thương mộc mạc của Thị Nở đã khơi lên ngọn lửa lương tri còn leo lét nơi đáy lòng Chí. Đoạn miêu tả tâm trạng Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở chứng tỏ Nam Cao là bậc thầy về phân tích tâm lí nhân vật.

Sớm hôm ấy, Chí Phèo bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài, lòng mơ hồ buồn. Bên ngoài là tiếng chim hót ríu rít, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng cười nói của những người đi chợ… Những tiếng quen thuộc đó hôm nào chẳng có nhưng bấy lâu nay, Chí Phèo đâu có nghe thấy, bởi hắn luôn chìm ngập trong những cơn say.

Giờ đây, những âm thanh ấy vọng đến tai hắn, bỗng trở thành tiếng gọi thiết tha của sự sống, gợi dậy cái ước mơ chính đáng một thời: Hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ.

Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm… Đó cũng là mong muốn một cuộc sống hạnh phúc giản đơn của bao nông dân nghèo trong xã hội cũ.

Khi thấy Thị Nở bưng nồi cháo hành nóng hổi đến, Chí Phèo ngạc nhiên và xúc động. Ăn bát cháo từ tay Thị Nở, hắn bỗng nhận ra rằng cháo hành rất ngon; bát cháo của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chi gây thù? Hương vị cháo hành lúc này chính là hương vị của tình yêu thương chân chất, của hạnh phúc giản dị mà lần đầu tiên trong đời Chí Phèo được hưởng.

Lần đầu tiên, mắt hắn như ươn ướt. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người? Lúc này, Chí Phèo đã trở tại con người thật của mình, trở lại là anh canh điền chất phác, thật thà năm xưa.

Trái tim tưởng chừng như chai đá của Chí Phèo đã dần dần sống dậy. Cái phần người trong Chí cũng hồi sinh. Hắn khao khát được trở lại với cuộc đời bình thường: Trời ơi Ị Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao Ị Thị Nở sẽ mở đường cho hắn, sẽ là cây cầu nối giữa hắn với dân làng Vũ Đại… Chí băn khoăn, háo hức nghỉ tới một tương lai tốt đẹp: mọi người sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện.

Vậy Thị Nở là ai? Đó là hiện thân của tình người. Chỉ có tình người mới cứu được tính người. Tình người là một sức mạnh nhưng tình người cùng thật mong manh. Đối diện với một định kiến hà khắc, tình người rất dễ tiêu tan, Chút tình thương yêu của Thị Nở không đủ khả năng để cứu Chí Phèo.

Con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa hé mở đã bị đóng sầm lại. Định kiến ghê gớm của xã hội (thông qua bà cô Thị Nở) không cho hắn đặt chân lên nhịp cầu hi vọng. Chí Phèo một lần nữa lại bị hắt hủi, ruồng bỏ phũ phàng. Bị từ chối, bị bỏ rơi, Chí Phèo đau đớn, uất ức cùng cực và lại mang rượu ra uống.

Trạng thái tâm lí phức tạp của Chí Phèo ở đoạn này được Nam Cao miêu tả thật sống động với những diễn biến tinh vi nhất bằng độc thoại bên trong, bằng hành động bên ngoài, bằng lời bình trực tiếp của người kể chuyện… Tuy nhiên, độc đáo nhất vẫn là dùng chi tiết.

Đó là chi tiết hơi cháo hành. Hơi cháo hành là dư vị của tình thương ít ỏi mà Chí Phèo đang rất cần, rất khát khao: Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng hơi cháo hành…

Lần này khác mọi lần, càng uống vào Chí Phèo lại càng tỉnh ra. Rượu cũng bất lực, không thể làm lương tri đau đớn của Chí Phèo tê liệt được. Hắn cứ ôm mặt khóc rưng rức.

Đã bao lâu nay hắn mới có được cử chi và những giọt nước mắt của con người?! Từ hi vọng đến tuyệt vọng, khởi đầu là nước mắt cảm động khi hắn bưng bát cháo hành trên tay và kết thúc lại là nước mắt đau khổ vì bị Thị Nở bỏ rơi.

Vào lúc tuyệt vọng nhất, hơi cháo hành cứ thoang thoáng khiến cho hắn chìm sâu hơn vào nỗi tuyệt vọng. Sang bên kia dốc cuộc đời rồi mà lần đầu tiên hắn mới được ăn cháo hành. Muộn màng, nhưng còn là có.

Cháo hành tuy được nấu bằng bàn tay Thị Nở… nhưng dẫu sao có còn hơn không. Đã tưởng đời mình từ nay đã có hơi cháo hành của riêng mình rồi, nào ngờ Chí Phèo không có quyền được hưởng. Cuộc đời nhẫn tâm cướp nốt của hắn. Mất Thị Nở, Chí mất luôn hơi cháo hành.

Mất hơi cháo hành là mất cái hi vọng cuối cùng của hắn vào cuộc đời này. Nhưng tại sao nó lại thoang thoáng hiện lên vào lúc này? Để trêu ngươi, để chọc tức Chí Phèo chăng?! Nó cứ chờn vờn đâu đó. Hạnh phúc nhỏ bé ấy, hắn ngỡ trong tầm tay nhưng không sao giữ được vì nó quá đỗi mong manh.

Nó cứ thoang thoáng hiện lên để làm cho Chí Phèo thêm tủi, thêm đau; để đẩy tấn bi kịch của hắn lên đến tột cùng. Mất hơi cháo hành – tình thương đồng nghĩa với sự bấu víu cuối cùng cũng hết. Chẳng còn gì để hi vọng nữa. Lòng Chí tan hoang!

Không gì bình thường đến vô nghĩa như hơi cháo hành, vậy mà qua cái nhìn và tấm lòng nhân hậu sâu thẳm của Nam Cao, hơi cháo hành thoáng qua ấy đã hằn như một vết cứa rớm máu trong tâm linh con người. Viết được như vậy chỉ có thể là bút lực tài hoa của một thiên tài!

Bản chất lương thiện của Chí Phèo bị vùi lấp bấy lâu nay giờ đã trỗi dậy lương tri con người đã trở về. Nhưng sự trở về của lương tri, trớ trêu thay, lại nhanh chóng đẩy bi kịch tha hóa của Chí Phèo lên đến điểm đỉnh của nó.

Từ tận cùng tuyệt vọng, Chí Phèo đã chuyển sang tột cùng căm uất và hắn đã dắt dao đi… Cũng như mọi lần, Chí Phèo vừa đi vừa chửi… Chí Phèo đau đớn vì tuyệt vọng, đồng thời hiểu rõ hơn bao giờ hết tội ác của kẻ đã huỷ hoại đời hắn. Chí Phèo đã đến thẳng nhà bá Kiến, trợn mắt, chi tay vào mặt lão, dõng dạc đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt người đã bị vằm nát của mình.

Thống thiết thay là tiếng kêu của Chí Phèo ở cuối tác phẩm: Tao muốn làm người lương thiện!… Ai cho tao lương thiện ?… Tao không thể là người lương thiện được nữa! Biết không! Chỉ có một cách… biết không… Lời nói của Chí Phèo đanh thép và phẫn nộ, âm điệu bi thống đầy ám ảnh, làm người đọc sững sờ và day dứt.

Kẻ thù đã bị đền tội nhưng ngay sau đó, Chí Phèo tự sát. Chí Phèo phải chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí không thể chấp nhận trở lại kiếp sống thú hoang. Chí Phèo đã chết trước ngưỡng cửa trở về cuộc sống bình thường, chết trong tâm trạng bi kịch đau đớn. Trước đây, để được tồn tại, Chí Phèo phải từ bỏ nhân phẩm, phải bán linh hồn cho quỷ dữ.

Giờ đây, khi ý thức nhân phẩm thức dậy, linh hồn trở về thì Chí Phèo lại phải từ bỏ cuộc sống của mình. Chí Phèo chết quằn quại giữa vũng máu trong niềm đau thương tột độ vì mong ước giản dị, chính đáng và được làm người lương thiện không thể trở thành hiện thực.

Chí Phèo chết nhưng chưa hết chuyện. Khi nghe tin hắn chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không xa nhà cửa và vắng người lại qua… Một “Chí Phèo con” sắp ra đời?! Nam Cao đã gióng một hồi chuông cảnh báo: Còn những “cái lò gạch cũ” trong xã hội ấy thì vẫn còn có những Chí Phèo khác ra đời. Nghĩa là tuy Chí Phèo đã chết nhưng bi kịch Chí Phèo vẫn còn, nếu không xoá bỏ cái xã hội thối nát ấy đi.

Từ hình tượng Chí Phèo, tác phẩm toát lên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Thứ nhất là giá trị hiện thực. Câu chuyện là bức tranh phản ánh sự tha hoá của người nông dân nghèo khổ dưới ách thống trị của thực dân phong kiến thời Pháp thuộc.

Phản ánh nỗi khổ của nông dân, Nam Cao không đi sâu vào nạn sưu thuế, nạn chiếm đoạt ruộng đất, nạn tô tức, quan lại tham nhũng, thiên tai địch họa,.. mà ở truyện ngắn Chí Phèo, tác giả tập trung khai thác trên phương diện người, nông dân nghèo bị bạo lực đen tối tàn phá về tâm hồn, huỷ hoại nhân tính, phi định giá trị và tư cách làm người.

Chí Phèo phản ứng quyết liệt, gay gắt bằng thái độ ngang ngược, liều mạng, gây gổ, chửi bới… Lúc nào hắn cũng say, lúc nào cũng sẵn sàng rạch mặt ăn vạ, kêu làng. Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm. Hắn biết đâu vì hắn làm tất cả lúc say, hắn say thì hắn làm bất cứ thứ gì người ta sai hắn làm.

Dân làng sợ hãi xa lánh và ghê tởm hắn. Từ anh Chí lương thiện, bị hai thế lực cường quyền và định kiến làm cho tha hoá, đã biến thành Chí Phèo, con quỷ làng Vũ Đại. Chí Phèo sống cũng như chết. Sinh ra ở làng Vũ Đại nhưng hắn lại bị chính dân làng Vũ Đại từ chối, ruồng bỏ.

Không những Chí Phèo khổ về vật chất mà còn phải sống kiếp sống tối tăm như thú vật. Chí Phèo đã bị xã hội rạch nát cả bộ mặt người, bị cướp đi linh hồn người để rồi bị loại khỏi cộng đồng xã hội.

Quá trình biến đổi dữ dội trong tính cách của nhân vật Chí Phèo có ý nghĩa tố cáo sự huỷ hoại ghê gớm của cái xã hội suy đồi đối với phẩm chất, nhân cách của người nông dân cùng khổ.

Tác phẩm Chí Phèo là bức tranh phản ánh chân thực và sâu sắc bộ mặt nông thôn Việt Nam trong xã hội thực dân, phong kiến trên bình diện đấu tranh giai cấp. Hành động Chí Phèo vung dao đâm chết bá Kiến không phải là vô thức, càng không phải là vụ giết người của gã Chí Phèo lưu manh mà cao hơn thế, đó là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân cùng khổ đã thức tỉnh về quyền sống, uất ức vùng lên.

Nhà văn Nam Cao đã khẳng định tính chất khốc liệt của mối xung đột giai cấp ở nông thôn là không thể hòa giải được. Xung đột ấy càng nén xuống càng dễ bùng nổ. Mâu thuẫn giai cấp dường như đã lên tới đỉnh điểm, cần phải được giải quyết theo chiều hướng tích cực nhất.

Hình tượng Chí Phèo còn thể hiện giá trị nhân đạo to lớn của tác phẩm. Nhà văn Nam Cao đã phản ánh sự cùng cực không lối thoát của nông dân trong xã hội đương thời bằng ngòi bút hiện thực sắc sảo và sự thông cảm, thương xót chân thành. Nam Cao đi sâu thể hiện tình cảnh khốn khổ của người nông dân nghèo bị áp bức, mà Chí Phèo là đại diện.

Tuổi trẻ, Chí là người thấp cổ bé họng nhất và cũng bị ức hiếp nhiều nhất ở làng Vũ Đại. Càng ở hiền thì càng không gặp lành, Chí bị hắt hủi, bị xúc phạm về nhân phẩm, bị lăng nhục một cách bất công.

Chí khốn cùng hơn cả hạng cùng đinh. Vốn hiền như đất, nhưng càng hiền thì hắn lại càng bị đạp sâu xuống bùn đen và cuối cùng thì không còn được coi là con người, phải sống kiếp thú hoang. Tuy nhiên, Chí Phèo vẫn mong muốn được sống một cuộc đời bình thường, được hưởng hạnh phúc đơn sơ như mọi người. Chất nhân văn thấm đẫm trong ngòi bút của nhà văn toát lên từ những chi tiết ấy.

Đoạn viết về sự thức tỉnh của tính người trong lương tri Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở là một đoạn tuyệt bút đầy chất thơ, thể hiện tư tưởng nhân đạo cao cả của ngòi bút Nam Cao: khi cái ác gặp tình thương thì nó sẽ được hòa giải và bản tính lương thiện sẽ trở về.

Tư tưởng nhân đạo còn thể hiện ở đoạn văn miêu tả điểm mạnh tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo. Tuy là con quỷ của làng Vũ Đại nhưng tính thiện trong con người Chí Phèo chưa chết hẳn. Chí Phèo thà chết chứ quyết không chịu quay về kiếp sống thú vật nữa.

Qua hình tượng Chí Phèo, Nam Cao muốn đặt ra một vấn đề lớn về quyền sống của con người: Làm thế nào để con người được sống đúng nghĩa là người trong cái xã hội tàn bạo, phi nhân tính đương thời? Đó là câu hỏi mà xã hội khi ấy chưa thể có lời giải đáp.

Nam Cao đã thành công xuất sắc trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để diễn tả quá trình tâm lí phức tạp và khắc họa tính cách nhân vật vừa độc đáo vừa có ý nghĩa điển hình cao độ. Với giá trị nội dung sâu sắc và giá trị nghệ thuật độc đáo, truyện ngắn Chí Phèo được coi là một trong những tác phẩm hay nhất của nền văn xuôi hiện đại và Nam Cao xứng đáng là nhà văn hiện thực nổi tiếng của giai đoạn văn học trước Cách mạng tháng Tám.

Số 10: Phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo

Trong nền văn học hiện thực nước ta ngoài những cái tên như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng…thì cái tên Nam Cao được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao về những tác phẩm tố cáo hiện thực của nhà văn này. Với những quan điểm tích cực về văn chương Nam Cao đã cho ra đời những tác phẩm “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.

Hẳn ai cũng biết đến tác phẩm nổi tiếng của ông đó chính là Chí Phèo, vẫn là một đề tài về người nông dân trong xã hội phong kiến thế nhưng Nam Cao không đi khám phá nhân vật về cuộc sống nghèo khổ phải bán chó bán con mà nhà văn nói về những số phận nông dân bị tước đoạt quyền làm người. Đặc biệt qua truyện ngắn này ta thấy được giá trị hiện thực của tác phẩm.

Vậy giá trị hiện thực là gì? Có thể tạm định nghĩa là giá trị nói lên những bộ mặt hiện thực của cuộc sống mà từ đó khi nhìn vào đấy người ta biết rằng hiện thực nước ta lúc bấy giờ phải sống như thế nào. Chính vì thế nhà văn hiện thực Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo để từ một con số không tròn trĩnh để từ đó ta thấy được những bi kịch mà xã hội phong kiến thực dân đã gây nên cho một người dân lương thiện hiền lành.

Giá trị hiện thực trong truyện ngắn đó là phản ánh quy luật ở nước ta thời Pháp thuộc, người dân lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường cùng trở thành lưu manh hóa bần cùng hóa, thành một con quỷ dữ và không thể quay trở lại làm người được nữa. Tất cả những điều nói trên được thể hiện rõ qua cuộc đời đầy những đau thương bi kịch của nhân vật Chí Phèo.

Cách mở đầu câu chuyện của tác giả cũng góp phần thể hiện được hiện thực cuộc sống những năm ấy. Chí Phèo xuất hiện với dáng vẻ của một thằng say rượu vừa đi vừa chửi. Đó là cách mà hắn giao tiếp với mọi người xung quanh.

Thế nhưng nào có ai tiếp chuyện Chí, họ không thèm chấp Chí Phèo khi chửi cả làng Vũ Đại.Cứ say là Chí chửi “bắt đầu hắn chửi trời, có hề gì trời có của riêng nhà nào, sau đó hắn chửi đời, đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình lên hắn chửi cả làng Vũ Đại nhưng làng Vũ Đại ai cũng nghĩ chắc nó chừa mình ra”.

Cứ thế chỉ một thằng say rượu với ba con chó cũng làm inh ỏi cả làng nước lên rồi. Câu văn chua chát ấy giúp cho chúng ta thấy được Chí vốn là một con người nhưng lại được so ví đồng loại với ba con chó. Những điều Chí nói không ai thèm đáp lại. Người ta đâu coi Chí là con người.

Ngay từ nhỏ Chí sinh ra đã mang bi kịch lớn. Là một đứa bé mới đỏ hỏn vậy mà đã bị mẹ bỏ rơi. Chí chỉ được bọc trong một cái khăn, người tím ngắt lại và bỏ ở chỗ lò gạch cũ. Dẫu có may mắn được một anh nông dân cứu về đem lại sự sống cho Chí nhưng cuộc đời Chí lại chẳng một chút nào tươi sáng. Sống ở mảnh đất nghèo khó lại “quần ngư tranh thực” Chí được một người nhận nuôi nhưng vì nghèo mà Chí cũng phải đi ở đợ cho nhà người ta. Chí quả là một con người bất hạnh.

Không những tuổi thơ thiếu tình thương cha mẹ đến khi lớn lên anh cũng vẫn không thoát khỏi bi kịch. Chí lớn lên thành một chàng trai khỏe mạnh hiền lành. Chí ở đợ cho nhà Bá Kiến thế nhưng bà ba nhà Bá Kiến lại cứ thích Chí đấm bóp cho. Khổ một nỗi là Bà cứ bắt bóp lên cao cao mãi. Chí chỉ thấy nhục chứ chẳng thấy yêu thương gì. Thế rồi Bá Kiến phát hiện và đã đẩy anh chàng lương thiện vào nhà tù thực dân. Thế là quãng cuộc đời nghèo khổ nhưng bình yên của Chí cứ thế mà kết thúc một cách nhanh chóng.

Chí đi tù ra cánh cửa của nhà tù thực dân đã nhuộm đen tâm hồn chí. Anh không còn là một chàng thanh niên khỏe mạnh lương thiện nữa mà trở thành một con quỷ dữ. Người dân cứ thấy anh ở đâu là tránh xa. Nam Cao đã thành công khi miêu tả ngoại hình Chí Phèo ở tù ra. Nào là cái răng trắng hếu, cái đầu cạo trọc lóc, cái mặt thì cong cong lên, hai mắt gườm. Trang phục mà Chí mặc trên người là chiếc quần nái đen và cái áo tây vàng.

Không những thế hình ảnh ông tướng cầm chùy còn được xăm ở cánh tay hắn. Vậy là hắn trông chẳng còn vẻ gì là một người lương thiện nữa rồi. Từ đây cuộc đời Chí trải dài trên những cơn say, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, rạch mặt ăn vạ trong lúc say. Chí trở thành một tay sai đắc lực của Bá Kiến. Và kết cục thì Chí vẫn cứ không được làm người.

cho đến khi chết thì cả làng Vũ Đại cũng không ai coi Chí là người cả. Đó phải chăng là bi kịch tinh thần đau đớn nhất mà một con người phải gánh chịu. Sống là kiếp con người mà cũng không được trọn kiếp con người.

Không chỉ nói lên quy luật người nông dân lương thiện bị tước quyền làm người nhà văn còn tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến đã cướp đi quyền làm người của những người nông dân lương thiện. Xã hội ấy đã biến Chí thành một con quỷ dữ và tuyệt đối không cho Chí quay lại làm người. Chí chỉ còn có cái chết để kết thúc cuộc sống quỷ dữ ấy chứ không thể nào trở lại làm người được.

Chí Phèo trải qua biết bao thời gian đến nay vẫn là một tác phẩm được người đọc yêu thích. Nó không hấp dẫn bởi những lời hoa mĩ sáo rỗng, không cầu kì nhân vật mà chỉ với giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc Chí Phèo đã lôi cuốn biết bao nhiêu thế hệ bạn đọc. Quả thật nhà văn Nam Cao đã có công rất lớn trong việc phản ánh số phận người nông dân trong xã hội cũ.

Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu phân tích giá trị hiện thực của Chí Phèo chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.