Top 10 bài phân tích đoạn 2 bài Việt Bắc chi tiết nhất

Top 10 bài phân tích đoạn 2 Việt Bắc chi tiết nhất
Top 10 bài phân tích đoạn 2 Việt Bắc chi tiết nhất
4.8/5 - (13 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích đoạn 2 Việt Bắc của Tố Hữu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 bài phân tích khổ 2 Việt Bắc chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Dàn ý phân tích đoạn 2 Việt Bắc

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.

– Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.

– dẫn dắt vào hai khổ cuối của bài Việt Bắc

II. Thân bài

  1. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)

– Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.

– Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.

  1. Đánh giá

– Nội dung

– Nghệ thuật

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…

– Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.

Xem thêm:

Top 10 bài phân tích đoạn 2 bài Việt Bắc chi tiết nhất

Số 1:Phân tích đoạn 2 Việt Bắc

“Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ

Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền”

(Sóng Hồng)

Văn học trước hết phải là cuộc đời, sau mới là nghệ thuật. Khi biết kết hợp hai điều đó, tác phẩm mới có thể tồn tại và sống. “Việt Bắc” sống với thời gian cũng bởi điểu đó. Người đọc vẫn còn bồi hồi mãi khi chứng kiến cảnh chia li ở đó:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Bốn câu thơ mở đầu là khúc dạo đầu đầy ân tình thủy chung và niềm trăn trở, thương nhớ của người ở lại với người ra đi. Bốn câu thơ tiếp theo là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến, nhớ nhung của kẻ ở người đi.

Người ra đi bịn rịn, nhớ nhung, ngập ngừng mà lưu luyến khiến từng bước chân còn vương vấn mãi những âm thanh mơ hồ: “tiếng ai”. Đó là tiếng người ở lại hay tiếng vọng từ trong tâm tưởng người ra đi. Không gian từ ngoại giới: “bên cồn” chuyển vào “trong dạ” rồi “bồn chồn bước đi” từ hữu hình đến vô hình. Hữu hình hóa cái vô hình, ngoại giới hóa nội tâm càng làm bước đi thêm ngập ngừng, chầm chậm chẳng muốn rời. Những bước chân ngập ngường ấy ta đã bắt gặp trong giây phút chia phút chia li của “chàng” và “nàng” trong “Chinh phụ ngâm”: “Bước đi một bước giây giây lại dừng” hay trong cái nhìn của chàng trai với người mình yêu:

“Vừa đi vừa ngoảnh lại

Vừa đi vừa ngoái trông”

(“Xống chụ xôn xao”)

Nhưng ở đây lại là tình đồng chí, nghĩa đồng bào, thắm thiết và vấn vương tha thiết.

Từ âm thanh mơ hồ ấy, Tố Hữu đề cập đến hình ảnh cụ thể đến nao lòng: “áo chàm đưa buổi phân li”. Nói tới “áo” trong buổi chia li là Tố Hữu đã trở về với ngọn nguồn dân tộc:

“Áo xông hương để chàng vắt mắc

Đêm em nằm em đắp dành hơi”

(Ca dao)

“Người về để áo lại đây

Phòng khi em đặp gió Tây lạnh lùng”

(Ca dao)

“Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”

(“Truyện Kiều” – Nguyễn Du)

Nhưng chiếc áo trong thơ Tố Hữu không phải áo xông hương đài các hay áo bào sang trọng mà chỉ là “áo chàm” giản dị một sắc nâu. Đó không phải cái cầm tay “Nhủ rồi tay lại cầm tay” (“Chinh phụ ngâm” – Đoàn Thị Điểm) của nghĩa phu thê hay của tình đồng chí, đồng đội: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” mà là cái nắm tay của tình đồng chí, đồng bào. Dấu “…” như khoảng trống, khoảng trắng vô ngôn mà hữu ý, dư tình. Đôi khi, không nói là để nói được nhiều nhất. Đôi khi, ngôn ngữ cũng bất lực trước tình cảm mênh mông của con người. Khi ấy, “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh” (Lý Bạch)

Đoạn thơ của Tố Hữu chỉ ngắn gọn bốn câu mà gợi lên biết bao nghĩa tình sâu nặng, thắm thiết của tình quân dân cá nước, của nghĩa đồng bào. Chính những tình cảm ấy là động lực, là hậu phương cho con người Việt Nam vượt qua mưa bom bão đạn mà làm nên những chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu”. Đặc biệt, những câu thơ với lối nói dân gian gần gũi, giọng điệu tâm tình nhẹ nhàng với ngôn ngữ, hình ảnh trở về với cội nguồn dân tộc mà vẫn mang hơi thở thời đại càng làm cho đoạn thơ thêm hấp dẫn. Chính trị mà không khô khan, truyền thống mà vẫn hiện đại, đó chính là những nét riêng của Tố Hữu.

Thơ văn chỉ sống được khi nó thực sự là một phần của cuộc sống, là một phần của mỗi người dù dấu chấm hết đã được đặt nơi cuối trang giấy. Những câu thơ của Tố Hữu đã sống như thế.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Xem thêm:

Số 2:Phân tích Việt Bắc đoạn 2

Tố Hữu được xem như là lá cờ đầu của cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị. Tư tưởng  chính trị trong thơ Tố Hữu là niềm say mê lý tưởng, tính dân tộc đậm đà và tinh thần cách mạng sáng chói. Tác phẩm Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp và của nền thơ hiện đại. Bài thơ ghi lại thật cảm động tình cảm luyến lưu của người đi (người cán bộ về xuối) và kẻ ở (nhân dân Việt Bắc) khi chính phủ kháng chiến trở về thủ đô. Cuộc chia tay lịch sử ấy được thể hiện sâu sắc qua đoạn thơ đầu của bài thơ.

Tác phẩm Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc. Các cơ quan trung ương của chính phủ rời Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Đây là lúc giao thời giữa lịch sử và lòng người. Trong không khí hân hoan của cuộc sống mới, nhà thơ đã tự hỏi có khi nào tao đã quên đi cuộc kháng chiến vĩ đại và niềm vui ở thực tại và lãng quên quần chúng kháng chiến đã hi sinh xương máu và cách mạnh. Vì vậy, bài thơ ra đời như một khúc hát ân tình thủy chung thể hiện lòng biết ơn của tác giả với mảnh đất và con người Việt Bắc, nơi đã che chở cho cách mạng suốt những năm tháng trường kì chống Pháp.

Trích đoạn viết về một sự kiện mang tầm lịch sử nhưng Tố Hữu đã lựa chọn cách mở đầu bằng một cuộc đối đáp mang âm tưởng dân ca và cách xưng hô “mình – ta” ngọt ngào đầm thấm. Câu chuyện ân tình cách mạng đã được tố Hữu khéo léo thể hiện như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau đoạn thơ mở ra khung cảnh chí tay với tâm trạng buân khuâng lưu luyến của ẻ ở với người đi.

“Mình về mình có như ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.

Với kết cấu theo lối đối đáp giao duyên, đoạn thơ miêu tả cuộc chia tay giữa người Việt Bắc và cáng bộ kháng chiến. Người ở lại lên tiếng trước, gợi nhắc những kĩ niệm đã từng gắn bó. Câu thơ sử dụng cập đại từ xưng hô “mình – ta” mang đậm chất dân gian, gợi liên tưởng đến những bài ca dao:

“Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ”

hay:

“Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”

 

“Mình nhớ ta như là cá nhớ muối

Ta nhớ mình như chú cuội nhớ trăng”

Trong đoạn thơ cặp đại từ “mình – ta” được nhắc lại nhiều lần là một thư pháp nghệ thuật độc đáo vừa khơi gọi tâm trạng, vừa khắc sau tình của của kẻ ở người về câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta, mình có nhớ không” khẳng định tình cảm gắn bó sâu nặng mà người Việt Bắc dành cho cán bộ kháng chiến. Các từ ngữ “thiết tha, mặn nồng” càng khắc sâu thêm tình cảm mặn mà, sự gắn kết đậm sâu không bao giờ đổi thay.

Người Việt Bắc gợi nhắc tới “mười lắm năm ấy” chính là khoảng thời gian mà người Việt Bắc và cán bộ kháng chiến cùng đồng cam cộng khổ kể từ ngày dầu tiên khi căn cứ địa kháng chiến được thành lập đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều “mười lăm năm” bằng thời gian Kim – Kiều xa cách nhưng vẫn luôn thương nhớ đợi chờ và biết bao nghĩa tình:

“Những là rầy ước mai ao

Mười lắm năm ấy biết bao nhiêu tình”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Câu thơ “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” gợi liên tưởng đến triết lý dân gian “uống nước nhớ nguồn”, vừa chứa đựng tình cảm lưu luyến, vừa bao hàm với lời dặn dò kín đáo: Đừng quên Việt Bắc là cội nguồn cách mạng, cũng là cội nguồn của chiến thắng. Âm hưởng câu thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, rất gần gũi vói câu ca dao:

“Con người có tổ có tông

Như cây có cội, như sông có nguồn”.

Tình cảm của người cán bộ về xuôi và nhân dân Việt Bắc là tình cảm thiêng liêng. Tình cảm ấy sẽ không bao giờ phai mờ. Người đi, kẻ ở chỉ non, chỉ núi để nhắc nhở nhau về nghĩa tình của mười lăm năm gắn bó. Đó đâu chỉ là lời nhắc nhở mà là lời thề thủy chung, mãi mãi không bao giờ lãng quên.

Lời thề ấy chứa đựng biết bao tấm lòng mong mỏi một ngày đất nước được giải phóng, non sông liền một dải để người miền xuôi, kẻ miền ngược còn có dịp gặp gỡ. Lời thề ấy ghi khắc trong lòng con người nghĩa tình thiêng liêng, bất diệt của tình quân dân như cá nước. Chính đó là sức mạnh nguồn cội làm nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta. Tố Hữu đã tài tình gói gọn tình cảm ấy trong bốn câu thơ này.

Đến khổ thơ thứ hai, đó là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi. Người ra đi tuy không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại trong lòng bồi hồi lưu luyến không nỡ rời xa:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Các từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” đã diễn tả tình cảm thấm thiết của cán bộ cách mạng đối với người  Việt Bắc. Từ láy “bâng khuâng” đã nhấn mạnh trạng thái tâm hồn đầy nuối tiếc, trong lòng nôn nao, trông ngóng không yên.

Hình ảnh hoán dụ “áo chàm”  chỉ trang phục đặc trưng truyền thống của người dân Việt Bắc đồng thời màu áo chàm còn tượng trung cho phẩm chất con người Việt Bắc giản dị, mộc mạc mà thấm được ân tình đoạn thơ gợi lên cảm nhận toàn dân Việt Bắc đều ân cần tiễn đưa những người cán bộ kháng chiến về xuôi. Tình cảm lớn lai ấy khiến người ra đi càng xúc động ngậm ngùi.

Bao nhiêu nhớ thương của kẽ ở người về dồn cả trong thơ giầu sức biểu cảm: “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” . Từ chỉ “cầm tay” nói lên tình cảm chân tình quyến luyến không nỡ chia xa. Cụm từ “biết nói gì hôm nay” diễn tả tâm trạng xúc động nghẹn ngào không nói thành lời khi nghĩa tình quá sâu nặng.

Đoạn thơ sử dụng thể thơ lục bát truyền thống giầu nhạc điệu, đại từng xưng hô mình ta, giọng điệu thơ tâm tình ngọt ngào, đậm đà tính dân tộc. Đoạn thơ chính là khúc dạo đầu của bản tình ca cách mạng. Tố Hữu đã mượn lời người ở lại hỏi người ra đi để nhắc nhở mọi người cũng chính là tự nhắc nhở chính mình nhớ lấy dạo lý “uống nước nhớ nguồn” vốn là đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Xem thêm:

Số 3:Phân tích đoạn 2 bài Việt Bắc

Tố Hữu là một trong những nhà thơ cách mạng nổi tiếng nhất, ông có những tác phẩm thơ sống mãi như tập Việt Bắc (1947-1954), tập Gió lộng (1955-1961), tập Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977),…. Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông là bài Từ ấy. Từ ấy là bài thơ mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu, bài thơ đồng thời là một chân lý sống của tác giả trong cuộc sống. Khổ 2 của bài thơ thể hiện sự nhận thức của tác giả về chân lý sống, lẽ sống mới của lí tưởng đảng. Chúng ta cùng đi tìm hiểu khổ 2 của bài thơ Từ ấy để hiểu rõ hơn những vấn đề trong bài.

Khi giác ngộ lý tưởng Tố hữu đã khẳng định quan niệm mới về lẽ sống. Đó là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

 Để tình trang trải với muôn nơi

 Để hồn tôi với bao hồn khổ

 Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Động từ “buộc” thể hiện một ý thức tự nguyện và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người. “Buộc” còn có nghĩa là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng. Mọi người ở đây là những người lao khổ, những con người cùng chung giai cấp vô sản.

Từ “trang trải” khiến ta liên tưởng tới tâm hồn của nhà thơ đang trải rộng với cuộc đời: tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể. “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” là tác giả nói đến tinh thần đoàn kết. “Khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung một cảnh ngộ, cùng chung một lý tưởng, đoàn kết với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng phấn đấu vì một mục đích chung: đấu tranh giành lại quyền sống và quyền độc lập dân tộc.

Như vậy, toàn bộ khổ thơ trên bằng lối sử dụng những từ ngữ chính xác, giàu ẩn ý, nhà thơ đã gửi gắm một cách sâu sắc về tư tưởng, tình cảm của mình. Đó là tình yêu thương con người của Tố Hữu gắn với tình cảm hữu ái giai cấp. Nó thể hiện niềm tin của tác giả vào sức mạnh đoàn kết, câu thơ trên cũng là một lời khẳng định: khi cái tôi chan hòa với cái ta, khi cá nhân hòa vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh nhân lên gấp bội.

Những câu thơ cũng là biểu hiện nhận thức mới về lẽ sống chan hòa cá nhân và tập thể, giữa cái tôi và cái ta. Trong lẽ sống ấy con người tìm thấy niềm vui và sức mạnh. Sự thay đổi nhận thức ấy, nó bắt nguồn sâu xa từ sự tự giác ngộ lý tưởng của nhà thơ Tố Hữu.

Số 4:Phân tích khổ 2 Việt Bắc

Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại của Việt Nam. Trong kho tàng tác phẩm đồ sộ của mình, Việt Bắc được biết đến là một bài thơ tiêu biểu, là một trong những thành công lớn trong sự nghiệp thơ văn yêu nước của Tố Hữu.

Việt Bắc được sáng tác vào năm 1954, sau ngày miền Bắc giải phóng, hòa bình lập lại, nhà thơ cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về miền xuôi, tạm biệt nơi đại ngàn rừng núi. Đoạn thơ thứ 2 trong bài với nhiều tâm tư, tình cảm của nhà thơ gửi vào đã thực sự làm lay động nhiều trái tim và tâm hồn của bạn đọc, khiến họ thê yêu và trận trọng tác giả – tác phẩm hơn.

Tiếp nối 8 câu thơ ở đoạn đầu nói về tâm trọng lưu luyến, bịn rịn trong ngày chia tay giữa kẻ ở người đi là những dòng thơ với ý nghĩa như lời nhắn nhủ được thể hiện qua hàng loạt câu hỏi tu từ:

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù?

/…/

Lối xưng hô “mình – ta” chúng ta được nghe nhiều trong ca dao, dân ca Việt Nam để thể hiện sự thắm thiết trong tình cảm của con người. Trong bài thơ, tác giả cũng vận dụng thành công lối xưng hô ấy, tạo sức gần gũi, ân tình của người đi, kẻ ở. Những câu hỏi vờ như có sự trách móc nhưng vô cùng ngọt ngào, kèm theo chút lo lắng, phân vân, không biết mình đi rồi thì có còn nhớ những ngày xưa hay không.

Tác giả sử dụng nhịp thơ 2/4; 2/2/4 nhịp nhàng, đều đặn lại càng thể hiện được sự thiết tha trong lòng người ở lại. Nỗi nhớ của người cách mạng càng đong đầy thì hình ảnh năm xưa càng dạt dào, xúc động. Bằng biện pháp liệt kê quen thuộc, tác giả đã cho người đọc thấy được câu chuyện hành quân cùng dân dân Việt Bắc. Nơi tiền tuyến với mây mù giăng lối, suối lũ nguy hiểm nhưng với tinh tình yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, chẳng ai mệt mỏi, sợ hãi và chùn chân cả,

Trong tiếng thơ, ta không hề thấy sự than vãn, mệt mỏi trước những khó khăn vất vả, ngược lại đó là cảm xúc tự hào về những ngày tháng anh dũng chiến đấu, hành trình vượt khó, mình và ta cùng sáng cánh, đồng hành với nhau đánh tan quân quỳ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Tác giả tự hỏi sau khi các cán bộ trở về thủ đô phồn hoa, liệu có nhớ chăng chốn núi rừng xưa cũ với đại ngàn nắng gió. Còn đối với những người ở lại, họ vẫn luôn sắt son vớ nỗi nhớ thấm trong từng cảnh vật: rừng núi, trám bùi, măng mai…Cảm xúc buồn bã vì phải chia xa mà nhân dân dành cho chiến sĩ thật chân thành, thắm thiết, đầy xúc động.

Tác giả khéo léo sử dụng hình ảnh lau xám hắt hiu – một đặc trưng riêng của thiên nhiên Việt Bắc để hỏi về tình cảm mà người cách mạng dành cho họ. Người ra đi có còn nhớ chăng những ngôi nhà thấp thoáng sau rặng lau, thấp thoáng giữa núi rừng hùng vĩ. Người ra đi có nhớ chăng những tình cảm ấm áp, đậm đà của người ở lại ? Còn với riêng nhân dân Việt Bắc thì vẫn luôn thắm thiết một mối tình son sắt với cách mạng, với cán bộ miền xa.

Dường như không còn là sự phân biệt rạch ròi “mình”, “ta” nữa mà là sự thấu hiểu, hài hoà vào nhau. Đó là câu hỏi cũng là lời nhắc nhở ân tình rằng đừng bao giờ lãng quên đi những ngày gắn bố nghĩa tình, chung thủy cùng nhau. Đừng bao giờ quên đi những hy sinh, mất mát đã trải qua, phải sống sao cho có trách nhiệm với hôm nay, không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng, mà phải luôn tập trung cảnh giác, vừa bảo vệ đất nước vừa dựng xây đời. Đừng bao giờ phản bội quá khứ hào hùng của lịch sử dân tộc chúng ta.

Bằng nghệ thuật biểu hiện giàu tình cảm cùng giọng thơ tâm tình tha thiết, ngọt ngào, nhà thơ Tố Hữu đã thành công khắc họa tình cảm giữa người đi và người, những con người đã từng một thời gắn bó, sẻ chia gian khổ để giành lại chủ quyền cho dân tộc. Đó không chỉ là tình quân dân mà còn là tình cảm gắn bó thân thương, đáng trân trọng.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 5:Phân tích khổ 2 bài thơ Việt Bắc

Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20. Không chỉ sở hữu số lượng bài thơ lớn mà ông còn có những sáng tác xuất sắc, bám sát và kịp thời phản ánh các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước ta. Bài thơ Việt Bắc là một trong những tác phẩm xuất sắc đó. Tình cảm luyến lưu, bịn rịn giữa kẻ ở, người đi thật thắm thiết, được thể hiện rõ ở đoạn 2 của bài thơ.

Ở đoạn thơ này, người ở lại nhắc về những kỷ niệm về thiên thiên con người và cả cuộc kháng chiến nơi núi rừng Việt Bắc. Cụm từ “mình đi, mình về” và điệp từ “nhớ” được lập lại nhiều lần tạo nên âm hưởng thơ sâu sắc, khắc thêm những kỷ niệm đáng nhớ chẳng thể nào quên. Hàng loạt các câu hỏi tu từ cũng được sử dụng để diễn tả tình cảm tha thiết của người dân Việt Bắc dành cho các cán bộ trở về xuôi.

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”

Hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, như mây cùng mù” là nét đặc trưng của Việt Bắc, vừa nói lên giai đoạn kháng chiến đầy khó khăn gian khổ. Đó chính là những gian truân mà cả người đi và người ở đã từng trải qua, thấm thía trên mảnh đất Việt Bắc trong suốt những ngày tháng kháng chiến.

“Mình về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

Câu thơ thứ 2 ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối tạo nên một cấu trúc hài hoà. Ý thơ diễn tả về cuộc kháng chiến thiếu thốn với nhiều khó khăn. Thế nhưng giữa sự thiếu thốn, nghèo khổ đó, nhân dân Việt Bắc vẫn một lòng chung thủ, chia nhau từng miếng cơm, lúc nào cũng sát cánh của cán bộ cách mạng chiến đấu với chung một lòng căm thù giặc sâu sắc.

Câu thơ như một biểu tượng về sự đồng lòng, đoàn kết giữa cán bộ cách mạng và quần chúng nhân dân Việt Bắc. Cụm từ “mối thù nặng vai” thể hiện khả năng dùng từ độc đáo của nhà thơ Tố Hữu. Tác giả thành công biến cảm xúc vốn trừu tượng thành cái cụ thể, được cân đó bằng sức nặng để biết đạt cho lòng căm thù giặc.

Trong sự lưu luyến chia xa, người ở lại tiếp tục gọi nhắc về những kỷ niệm cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ.

“Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già”

Câu thơ miêu tả tình cảm mộc mạc và chân thành của người dân Việt Bắc với cách mạng qua 2 vế tiểu đối “hắt hiu lau xám” và “đậm đà lòng son”. Cũng chính vì ân tình sâu nặng ấy nên khi các cán bộ kháng chiến trở về xuôi, dường như cả núi rừng Việt Bắc cũng trở nên hoang vu, hiu quạnh.

Trám và măng được biết đến là đặc sản của núi rừng Việt Bắc, là món ăn thường nhật của bộ đội ở chiến khu. Phép hoán dụ trong câu thơ “mình về, rừng núi nhớ ai” gợi nhiều cảm xúc động. Người về rồi rám không ai hái để rụng khắc rằng, măng chẳng ai ăn để già khắp núi. Đại từ phiếm chỉ “ai” trong “nhớ ai” làm cho nỗi nhớ giữ kẻ ở người đi càng thêm tha thiết.

Người ở lại tiếp tục gợi nhắc kỷ niệm về cuộc kháng chiến. Đó là nhắc tới chiến khu Việt Bắc gắn liền với những sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

“Mình về còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”

Việt Bắc chứng kiến bao nhiêu sự kiện chính trị quan trọng những ngày đầu của cách mạng, những địa danh “Tân Trào”, “Hồng Thái”, “mái đình”, “cây đa” đã trở thành nhân chứng lịch sử cho thời kỳ vất vả nhưng hào hùng của cách mạng Việt Nam.

Chữ “mình” được sử dụng với nhiều ý nghĩa, bao hàm cả người Việt Bắc và những cán bộ kháng chiến. Ý thơ nhắc nhở người ra đi đừng quên đi những ân tình sâu nặng, quãng thời gian gắn bó keo sơn. Mỗi kỷ niệm đều được nhắc lại mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc: Việt Bắc là cội nguồn, là quê hương của cách mạng; Việt Bắc là nơi sinh ra lực lượng cách mạng và nơi bắc đầu của mọi thắng lợi.

12 câu thơ của đoạn 2 Việt Bắc, tác giả sử dụng 8 từ “mình” và 7 từ “nhớ” và hai cặp từ “mình đi, mình về” được lặp đi lặp lại, kết hợp cùng ngôn ngữ mộc mạc giản dị, giọng thơ du dương ngọt ngào đã thành công khắc họa tình cảm sâu nặng giữa người ở lại và người ra đi. Đoạn thơ đã cho thấy “Việt Bắc” chính là khúc tình ca về cách mạng về cuộc sống và con người kháng chiến.

Số 6: Phân tích đoạn 2 Việt Bắc

Giữa dòng chảy mãnh liệt của văn học cách mạng muốn làm tròn sứ mệnh phục vụ thời đại, tiếng thơ “ Việt Bắc” của Tố Hữu không bị mờ lấp trong dòng cảm hứng quen thuộc đó. Văn học trước hết là cuộc đời sau mới là hiện thực. Đọc bài thơ người đọc vẫn không khỏi xúc động trước cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến nhớ nhung của người kẻ ở.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Tháng 7 – 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại. Tháng 10 – 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khi Việt Bắc về lại thủ đô. Lịch sử dân tộc sang một trang mới. Ở thời khắc lịch sử ấy, người ta có nhu cầu được nhìn lại đoạn đường vừa qua đồng thời mong ước hướng tới tương lai. “Việt Bắc” ra đời để đáp ứng những nhu cầu ấy. Bài thơ là bản trường ca- tình ca về quê hương, đất nước, về con người và những ân tình, nghĩa tình cách mạng, yêu thương.

Đại từ phiếm chỉ “ai” mang lên như một cung bậc mơ hồ của cảm xúc. “Ai” ở đây có thể là người ra đi, cũng có thể là người ở lại. Mười lăm năm mặn nồng cùng nhau vào sinh ra tử, cùng vượt qua những gian nan của cuộc chiến khốc liệt cho nên tình cảm quân với dân không đơn thuần là tình đồng đội cùng nhau kháng chiến, đó còn là tình ruột thịt, tình anh em trong gia đình. Bốn câu thơ tuyệt bút hay không phải ở những cấu trúc độc đáo hay tư tưởng lớn lao mà bởi cái cảm giác “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” mà ai cũng có. “Bâng khuâng” như một nỗi hụt hẫng, một niềm vui vừa rời bỏ; “bồn chốn” là trạng thái nôn nao, không yên ở trong lòng như muốn níu kéo bước chân người ở lại. Đáp lại lời dặn dò của người ở lại, người ra đi dành trọn tấm lòng mình để ghi nhớ giờ phút ít ỏi này, để cảm kích trước tấm lòng mà những người dân Tây Bắc đã ưu ái dành cho họ:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Hình ảnh “áo chàm” vừa quen thuộc, thân thương của đồng bào Nam Bộ lại rất bền, khôn phai khó nhạt. Lấy sắc áo để nói lòng người ở lại, từ cảm nhận của người ra đi. Giữa kẻ ở người đi đã tồn tại một sợi dây vô hình, sự thấu hiểu đến lúc ấy “biết nói gì hôm nay” – không phải không biết nói gì mà không cần phải nói, không bao giờ nói hết được bằng lời. Để rồi tất cả tình cảm được dồn vào cử chỉ: “cầm tay”. Một cái cầm tay cũng có thể bày tỏ được khúc ngân dài của nỗi nhớ. Giờ phút xúc động ấy, không ai có thể thốt thành câu, họ không biết nói gì hay quá xúc động mà không thể bật ra lời nói? Khoảng lặng ngôn từ ấy khiến người đọc chợt lặng thinh theo dòng tâm tư nhân vật, để xúc động trước tình quân dân cá nước của thời đại Hồ Chí Minh.

Chiến tranh đã qua đi gần nửa thế kỉ, nhưng những khúc ca của một thời hoa đỏ luôn thắp lửa trong trái tim người đọc bao thế hệ. Bởi lẽ văn chương chân chính sẽ trường tồn bất diệt dẫu thời gian có nghiệt ngã tới mức nào. “Việt Bắc” là đỉnh cao thơ Tố Hữu và sẽ mãi là một đóa hoa đỏ tươi trong vườn thơ cách mạng Việt Nam.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 7: Phân tích Việt Bắc đoạn 2

Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ của dân tộc. Thơ ca của ông có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của nhân dân những năm Cách Mạng. Tập thơ “Từ ấy” mở đầu cho chặng đường thơ ca Cách mạng của ông. Bài thơ cùng tên sáng tác năm 1938 như khúc hát sôi nổi về nhiệt huyết, tình yêu niềm tin với Đảng và Cách mạng. Mở đầu bài thơ là những câu thơ diễn tả cảm xúc dạt dào của người thanh niên trẻ tuổi, thì những vẫn thơ tiếp vẫn là mạch cảm xúc đó tác giả nói lên tiếng nói tình cảm gắn kết khối đại đoàn kết của dân tộc trong ánh sáng Cách mạng Đảng.

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Tố Hữu tự nguyện“ buộc” lòng mình với long mọi người. Dưới ánh sáng của Cách Mạng, tác giả như hòa mình vào với muôn triệu trái tim Việt Nam. Từ “buộc” thể hiện sự gắn bó chặt chẽ, đoàn kết. Tác giả nguyện cùng đứng trong đau khổ, cùng đói nghèo, cùng vui sướng cùng hạnh phúc với người dân Việt Nam. Ông không ngại khổng ngại khó.

Cũng từ chữ “buộc” ta như thấy được sự trách nhiệm của ông đối với dân tộc, đất nước. Trách nhiệm của một người dân Việt Nam là bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trách nhiệm của người chiến sĩ Cách mạng là yêu thương lấy đồng bào, bảo vệ nhân dân thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi đói nghèo.

Tác giả “để tình trang trải với muôn nơi”. Phải chăng cái tình của tác giả bao la rộng lớn có thể “trang trải” tới muôn nơi? Đúng thế, đó là tình yêu với muôn vàn người dân đất Việt. Tình yêu đó bao la, tình yêu đó rộng lớn. Tác giả cuốn tình yêu của mình được hòa cùng tính yêu của muôn người. Đó là tình yêu to lớn, tình yêu gắn bó.

Không chỉ “trang trải tới muôn nơi” mà Tố Hữu còn muốn “Để hồn tôi với bao hồn khổ”. “ Hồn khổ” đó là cách nói hình ảnh về những con người Việt Nam thời kì này bị chiến tranh làm cho đói nghèo, bị thực dân đàn áp, cuộc sống khó khăn, vất vả. Những con người đó sống trong những tháng ngày tăm tối của nô lệ, của đàn áp. Tác giả nguyện để mình sống cùng những đau khổ, sống cùng những khó khăn để san sẻ những nỗi khổ, nỗi đau của triệu người dân.

Điệp từ “để” đứng ở đầu câu nhấn mạnh tình cảm, sự vị tha của một con người không chỉ yêu Cách Mạng mà yêu cả những con người xung quanh. Đó là lí tưởng mới khi ánh sáng Đảng đã soi chiếu. Sống không chỉ vì ta mà còn vì mọi người.

Câu thơ cuối vang lên đầy cảm xúc:

“Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

“Khối đời” một cách nói trừu tượng về tình đoàn kết, sự gắn bó chặt chẽ của mọi người dân đất Việt Nam. Đó là những con người cùng chung cảnh ngộ khó khăn, cùng chung hoàn cảnh đau khổ. Đó cũng là cũng con người chung lý tưởng, chung chí hướng: sống vì đất nước, vì dân tộc, đấu tranh cho một hòa bình độc lập dân tộc. Tố Hữu muốn nhấn mạnh trong khó khăn gian khổ, con người cùng nhau gần gũi, cùng nhau sát cánh, cùng nhau đứng lên chiến đấu thể hiện tình đoàn kết, tình dân tộc thì mọi điều đều vượt qua dễ dàng.

Khổ thơ với cách sử dụng từ ngữ hình ảnh chính xác, hình ảnh, thơ mộng lãng mạn đã thể hiện rõ tư tưởng tình cảm, lý tưởng của tác giả. Khi cái tôi hòa vào cùng cái ta, khi cái riêng tư hòa cùng cái chung của cộng đồng thì lý tưởng ý chí được nhân lên, được củng cố thêm mạnh mẽ, vững chắc. Và ánh sáng của Đảng của Cách Mạng đã soi sáng cho lý tưởng, cho ý chí đó.

Số 8: Phân tích đoạn 2 bài Việt Bắc

Việt Bắc, cái nôi của quê hương cách mạng đã khơi nguồn cảm hứng cho bao tác phẩm nghệ thuật. Nổi bật lên trong dòng thơ ca Việt Bắc của Tố Hữu. Là một trong những thành tựu xuất sắc của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung, tập thơ Việt Bắc (1946 – 1954) chứa đựng trong mình những giá trị nội dung và tư tưởng nghệ thuật đặc sắc.

Bài thơ là bản hùng ca cũng là bản tình ca về cách mạng kháng chiến và con người kháng chiến. Góp phần làm nên thành công của Việt Bắc, ta không thể không nhắc tới đoạn thơ:

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

/…./

Nhắc đến Tố Hữu thì ai cũng biết ông làm một trong những nhà thơ trữ tình cách mạng hàng đầu của nền Văn học Việt Nam. Thơ Tố Hữu là thơ của tiếng sống lớn, tình cảm lớn niềm vui lớn của con người Cách mạng và cuộc sống Cách mạng. Bài thơ Việt Bắc là đinh cao thơ Tố Hữu, cũng là xuất thần trong văn học kháng chiến chống Pháp. Nhắc đến Việt Bắc , ta nhắc đến lịch sử hào hùng của dân tộc.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Tháng 10 – 1954, trung ương Đảng và Chính phủ đã trở về tiếp quả Hà Nội. Sự kiện lịch sử đã trở thành nguồn cảm hứng viết bài thơ Việt Bắc. Có thể nói, bài “Việt Bắc” là một khúc tình ca cũng là khúc hùng ca thể hiện ân tình sâu nặng, thủy chung của nhà thơ đối với căn cứ địa Cách mạng trong cả nước.

Theo dòng hồi tưởng, đông bào Việt Bắc nhắn nhủ, gợi nhắc bao kỉ niệm suốt 15 năm gắn bó tha thiết, mặn nồn. Đó là những ngày tháng đồng bào và cán bộ cùng nhau chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt, vượt mưa nguồn, suối lũ, xuyên sương mù, mây mịt. Đó là kỉ niệm của cuộc sống nơi chiến khu vô vùng thiếu thốn, gian khổ. Bữa ăn đạm bạc chỉ có lưng cơm chộn với muối trắng. Cũng có khi đồng bào và cán bộ chia nhau từng củ sắn, củ khoai, chung đắp một mảnh chăn bằng vỏ cây rừng.

Nhưng càng thiếu thốn, gian lao bao nhiêu thì ý chí nung nấu, quyết tâm trả thù, chiến đấu đánh giặc sôi sục bấy nhiêu. Đó là những gia đình Việt Bắc, dẫu sông cuộc sống bộn bề khó khăn, thiếu thốn, tuy nhà tranh, vách nứa, nền đất, mái lau nhưng vẫn luôn giữ tấm lòng son sắt với kháng chiến, với cán bộ.

Đồng bào Việt Bắc còn khéo léo gợi nhắc những ngày tháng Cách mạng, sục sôi những dấu son, lịch sử không thẻ nào phai mờ. Đó là mái cây đa Tân Trào – nơi làm lễ xuất quân của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đó là mái đình Hồng Thái – nơi họp quốc dân đại hội đi đến quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, làm nên cuộc Cách mạng tháng 8 vĩ đại. Bằng giọng kể đầy phấn khởi, đồng bào chiến khu đã làm sống dậy không khí lịch sử thiêng liêng, hào hùng của dân tộc. Dòng hổi tưởng thực ra chưa phải là tất cả kỉ niệm trong suốt 15 năm nhưng đó là những gì sâu sắc nhất khẳng định sự gắn bó, tình cảm tha thiết, mặn nồng giữa đồng bào và cán bộ giữa chiến khu với Đảng, Chính phủ,…

Trong khúc thơ này, có một câu thật đặc biệt: Mình đi, mình có nhớ mình. Câu thơ sáu chữ mà có tới 3 chữ mình lặp lại. Chữ “mình” thứ nhất, thứ hai để chỉ cán bộ kháng chiến miền xuôi còn chữ “mình” thứ ba lại vừa chỉ đồng bào ở lại và cán bộ kháng chiến. Không dùng chữ “ta” mà dùng chữ “mình” để chỉ người ở lại, câu thơ kín đáo thể hiện sự gắn bó khăng khít giữa kẻ ở người đi: Mình với ta tuy hai mà một – Ta mới mình tuy một mà hai. Chữ “mình” còn chỉ cán bộ về xuôi.

Hỏi núi rừng nhớ ai, thực chất là cách khéo léo để diến tả nỗi nhớ trong trái tim mình. Với hình ảnh hoán dụ :rừng núi nhớ ai, nỗi nhớ của đồng bào chiến khu được biểu đạt sâu sắc, kín đáo. Dường như đâu chỉ có đồng bào ở lại nhớ người về xuôi mà nỗi nhớ mênh mang, da diết đã lan thấm vào không gian đất trời. Rừng núi cỏ cây bổng rưng rưng thương nhớ

Không chĩ xúc động người đọc bởi cái tình tha thiết, đoạn thơ còn lôi cuốn người đọc bởi nghệ thuật biểu đạt tài hoa, đậm đà tính dân tộc. Chỉ với 8 câu thơ, Tố Hữu đã đưa ta vào thế giới hoài niệm, kỉ niệm của Cách mạng. “Giọng thơ tâm tình tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc” của Tố Hữu đã góp phần làm nên thành công của Việt Bắc. Vì vậy, Việt Bắc là một “bài ca không quên” của con người, là những gì không thể sói mòn của cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 9: Phân tích khổ 2 Việt Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Quân với dân như cá với nước, đoàn kết một lòng”. Có lẽ cuộc chiến tranh vệ quốc của ta đã thắng lợi vẻ vang là nhờ vào quân và dân gắn bó, cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Đọc “Việt Bắc” của Tố Hữu, cảm nhận được cuộc chia li đầy bịn rịn, luyến tiếc ta lại càng thêm trân trọng tình cảm gắn bó keo sơn ấy:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Tháng 10 năm 1954, trung ương Đảng và chính phủ rời thủ đô gió ngàn Việt Bắc trở về Hà Nội. Với Tố Hữu, chiến khu Việt Bắc là nơi ông đã sinh sống và gắn bó suốt chặng đường kháng chiến, nay lại phải tạm biệt, chia xa. Trong không khí xúc động của buổi chia tay, chứng kiến tình cảm thắm nồng của người dân miền núi dành cho các chiến sĩ, người ra đi – những người lính bộ đội cụ Hồ không khỏi không xao xuyến. Bởi vậy mà Tố Hữu – một người lính đã ăn cơm chiến đấu của người dân Tây Bắc, đã uống nước suối, ăn măng rừng cũng không tránh khỏi sự nhớ nhung tiếc nuối. Nhà thơ bỗng nhớ về những kỉ niệm cũ mà xúc động không nguôi:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

Lời nói cũng trở nên “tha thiết” – từ láy giàu sức gợi hình như cực tả cảm xúc nhớ nhung, bịn rịn của người ra đi và người ở lại. Chế Lan Viên đã từng nói:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

Có lẽ vì sắp phải rời xa, sắp đến giờ phút chia tay mà người lính cho phép cảm xúc mình nhớ nhung và thiết tha hơn một chút. Các từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” càng đậm tô nét cảm xúc quyến luyến chẳng nỡ rời xa. Người ra đi mà lòng nặng trĩu, nặng trĩu vì nhớ nhung, nặng trĩu vì luyến tiếc hay nặng trĩu vì cảm động trước tình cảm người dân miền núi dành cho mình? Có lẽ vì vậy mà bước chân cũng dần trở nên khó khăn, đi một bước lại quay về một bước, họ cứ quyến luyến, xúc động như vậy bởi tình cảm suốt chín năm trường kì kháng chiến đã ăn sâu vào tiềm thức.

“Áo chàm” là hình ảnh hoán dụ đặc sắc để chỉ những người dân miền núi. Họ mộc mạc, chân chất, giản dị như tấm áo chàm, mà tấm lòng họ cũng bền chặt như màu sắc của lá chàm. Hóa ra hình ảnh tưởng như rất tự nhiên ấy lại ẩn chứa những gửi gắm sâu xa: người dân miền Tây Bắc vốn mang sẵn trong mình tình cảm chân thành dành cho những anh bộ đội cụ Hồ, để bây giờ họ đem tình cảm thiêng liêng ấy tiễn đưa họ về xuôi. Người dân miền núi luôn chí tình và trọng tình như vậy. Cho nên buổi chia li dẫu buồn nhưng lại ăm ắp tình cảm, nỗi nhớ đã vượt thoát khỏi thứ tâm trạng thông thường mà biến thành niềm cảm ơn sâu sắc của nhân dân dành cho bộ đội. Tình cảm đậm sâu đến thế nên dẫu không cần thể hiện bằng lời nói, họ vần có thể cảm nhận được tình cảm họ dành cho nhau:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Nhịp thơ 3/ 4 như tạo một khoảng lặng giữa khúc phân li ngậm ngùi, cầm tay nhau mà nghẹn ngào không biết nói gì để thỏa tấm lòng mong nhớ. Nhưng tình cảm đôi khi không cần thể hiện bằng lời nói và chỉ cần một dấu chấm ngân dài ở cuối đoạn, ta cũng có thể hình dung ra nỗi nhớ đã thành nốt ngân trong điệu hồn của người ra đi.

Đoạn thơ vỏn vẹn gồm 4 dòng thơ nhưng đã gợi trong tâm trí người đọc bao suy ngẫm về tình cảm quân dân giữa khói bom ác liệt của kẻ thù. Phải chăng chính những tình cảm ấy đã giúp người lính tạm gác lại nỗi nhớ quê hương, gia đình, quên đi những gian nan vất vả để “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”?

Là một nhà thơ chiến sĩ, hơn ai hết Tố Hữu thấu hiểu điều ấy, ông đã dùng ngòi bút của mình viết nên một trong những bài thơ hay nhất về thứ tình cảm dù chẳng máu thịt nhưng lại vô cùng gắn bó giữa quân và dân.

Số 10: Phân tích khổ 2 bài thơ Việt Bắc 

Tố Hữu là một trong những cánh chim đầu đàn trong nền thơ ca, văn học Việt Nam. Cả cuộc đời sự nghiệp sáng tác của ông đều hướng tới tư tưởng yêu nước, tự hào dân tộc và lý tưởng cách mạng chiến đấu của nhân dân ta. Trong vô vàn những tập thơ tiêu biểu, chắc hẳn những người yêu thơ không thể quên được tập thơ đầu tay của ông mang tên “ Từ ấy”. Đặc biệt, qua hai khổ thơ đầu của bài thơ “ từ ấy”, tác giả đã gửi gắm, thể hiện trọn niềm vui của người thanh niên trẻ khi được giác ngộ với cách mạng.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1938, trong giai đoạn Tố Hữu được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Đây được xem là một trong những dấu mốc quan trọng nhất cuộc đời nhà thơ, khi ông tìm được con đường chân lý sẽ đi trong những tháng năm tuổi trẻ. Luôn trong tâm thế khát vọng được chiến đấu, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, tác giả đã viết nên bằng tất cả niềm say mê, hạnh phúc khi có đảng qua những câu thơ đầu tiên:

“Từ ấy” là khoảng thời gian từ khi tác giả được giác ngộ lý tưởng cộng sản, ông cảm thấy vô cùng vui sướng, hạnh phúc biết bao. Hình ảnh “ bừng nắng hạ” bừng lên biết bao cảm xúc vỡ òa của tác giả khi được trải qua những khoảnh khắc thiêng liêng ấy. Một luồng ánh sáng chói sáng, hòa mình cũng hình ảnh ẩn dụ “ mặt trời chân lí chói qua tim” cho lí tưởng cách mạng.

Tố Hữu đặc biệt sử dụng động từ “ bừng” và “ chói” đã gợi tả nên ánh sáng rực rỡ, mạnh mẽ từ khi Đảng mang lại cho cuộc đời ông. Trái tim ông như được tiếp thêm ngọn lửa rực cháy. Khi trái đất không thể tồn tại khi không có sự hiện diện của mặt trời, tựa như cuộc đời của nhà thơ sẽ chẳng thể nào có lối sáng, nhận được những điều tốt lành nếu như không có sự soi đường dẫn lối của cách mạng.

Tiếp nối mạch cảm xúc, bằng tâm hồn và bút pháp trữ tình lãng mạn, giàu sức tạo hình, Tố Hữu đã tiếp tục diễn tả nỗi niềm vui mừng vô hạn trong những phút giây đầu tiên được sánh vai trong hàng ngũ của Đảng:

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Những cặp hình ảnh ẩn dụ như “vườn hoa lá” và “ rộn tiếng chim” đại diện cho một thế giới mới tràn đầy hương sắc và sức sống. Phía sâu trong tâm hồn của người con người trẻ tuổi là những mong muốn, khát vọng đang thi nhau “đâm chồi nảy nở” tựa như hoa lá mùa xuân. Nó là một hình ảnh so sánh trừu tượng nhưng tác giả vẫn khiến cho người đọc như cũng cảm nhận được vô cùng chân thực của chính nhà thơ.

Đối với Tố Hữu, lí tưởng cách mạng không chỉ mang đến ngọn nguồn sức sống mới mà còn mang đến những niềm đam mê cho tác giả. Rồi ngày mai đây, ta sẽ còn có nhiều cơ hội được trải lòng mình đón ánh nắng sớm mai, cùng hương thơm ngào ngạt trong gió thoảng và tiếng chim lảnh lót bên tai. Những cảnh sắc yên bình, hài hòa và đẹp tươi mà đất nước sẽ được đón chào nhờ có Đảng sẽ là động lực lớn lao cho tác giả phấn đấu.

Khi giác ngộ lý tưởng ấy, Tố Hữu đã khẳng định quan niệm về lẽ sống mới. Ta với Đảng tuy hai mà một, đã là một đảng viên, cần phải biết hòa chung cái tôi cá nhân và cái ta chung của tập thể:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Ngay từ khi ấy, nhà thơ đã tự nguyện “ buộc” lòng mình với mọi người, mọi người chính là cả nhân dân, những người dân máu đỏ da vàng luôn hướng về lá cờ đỏ sao vàng. “ Buộc” còn có nghĩa là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng. Từ những người nông dân cần cù lao động, đến những người cùng chung giai cấp, họ đều ở đây, cùng nhau chiến đấu vì đất nước. Tâm hồn nhà thơ đang được “ trang trải” khắp bốn bề tổ quốc, để góp chút sức mạnh vào khối đoàn kết của dân tộc.

“Khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, lý tưởng , gắn bó với nhau và cùng phấn đấu vì một lợi ích chung của toàn dân tộc. Toàn bộ khổ thơ trên, nhà thơ đã bộc bạch hết những nỗi lòng, tâm tư thương yêu mến mộ đồng bào. Tình yêu giữa người với người, tình thương khi đất nước bị chia cắt, giặc thù xâm hại sẽ thôi thúc những con người ấy đoàn kết, gắn bó nhau hơn. Khi ta có thể gạt bỏ cái tôi cá nhân, những mưu cầu cá thể để hướng đến mục đích chung của một dân tộc, thì “kẻ thù nào cũng bị tiêu diệt, khó khăn nào cũng có thể vượt qua”.

Chỉ qua những câu thơ ngắn ngủi nhưng hết mực chân thành, từ niềm vui, hân hoan của tác giả khi được bắt gặp ánh sáng chân lý của Đảng đã khiến cuộc đời Tố Hữu bừng sáng biết bao. Những hình ảnh ẩn dụ hết sức gần gũi và giàu ý nghĩa đã giúp người đọc cảm nhận được hết lòng quyết tâm, lời thề trung thành với nước với dân của nhà thơ.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 bài phân tích đoạn 2 Việt Bắc chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chia sẻ
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.