Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng chi tiết nhất

210
Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng chi tiết nhất
Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng chi tiết nhất
Rate this post

Tổng hợp các bài mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong bài Vợ nhặt của tác giả Kim Lân một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Dàn ý phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng

I. Mở bài

Giới thiệu tác giả Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt, vấn đề – diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng.

II. Thân bài

a) Tổng quát

– Ngoại hình: Xấu xí, thô kệch “hai mắt gà nhỏ, hai bên quai hàm phập phồng, dáng người to cao vạm vỡ, lưng rộng như lưng gấu”.

– Hoàn cảnh sống: Nghèo khó, sống bằng nghề kéo xe bò thuê.

– Diễn biến tâm trạng: Từ khi “nhặt” được vợ, Tràng trải qua những trạng thái tâm lý phức tạp, từ bất ngờ, lo lắng đến hạnh phúc, cảm giác yêu thương, gắn bó và trách nhiệm với mái ấm gia đình.

b) Phân tích diễn biến tâm trạng của Tràng

* Hoàn cảnh của Trang:

– Tội nghiệp, sống với mẹ già trong lán.

– Sống bằng nghề kéo xe bò thuê

– Xấu xí, ngu ngốc

→ Khó lấy vợ

– Bỗng dưng lấy được vợ khi nạn đói khốc liệt nhất

* Diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng:

– Khi gặp gỡ và quyết định kết hôn: kể những câu chuyện tiếu lâm nhưng ẩn sâu những khát khao hạnh phúc, hạnh phúc gia đình.

– Trên đường đưa vợ về: niềm vui hiện rõ bên ngoài “gánh phở”, “nụ cười một mình mỉm cười”, “hai mắt long lanh”.

– Khi về đến nhà: Tràng có vẻ ngượng ngùng, bối rối chờ mẹ về. Trang coi trọng người lớn và muốn cuộc hôn nhân của mình là một cuộc tình đàng hoàng.

– Buổi sáng đầu tiên sau khi lấy chồng: Tràng nhận ra những thay đổi từ khi lấy chồng, sự thay đổi từ khung cảnh xung quanh đến không khí của một bữa cơm gia đình thực sự. Nhận thức về vai trò, trách nhiệm và những hiểu biết đầu tiên về Việt Minh.

c) Nhận xét về nội dung và nghệ thuật.

Về nội dung: Nhân vật Tràng là người luôn khao khát hạnh phúc, có ý thức vươn lên, vượt qua nghịch cảnh. Nhận thức rõ nghĩa vụ của người đàn ông khi lập gia đình và trách nhiệm chăm lo tổ ấm gia đình. Thông qua nhân vật Tràng, tác giả muốn nhắn nhủ mọi người đừng cúi đầu trước khó khăn, hãy luôn cầu thị, cố gắng và nỗ lực hơn nữa.

Về nghệ thuật:

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật

+ Miêu tả chân thực và tinh tế diễn biến tâm trạng của nhân vật.

+ Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, chân chất.

III. Kết bài

Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật, giá trị của tác phẩm, tài năng nghệ thuật của tác giả.

Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng

Số 1: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng

Chia sẻ về truyện ngắn Nhặt Vợ, nhà văn Kim Lân đã từng viết: “Giữa cái đói cùng cực, trong hoàn cảnh éo le, những con người bạc mệnh vẫn biết vươn lên để sống, để hy vọng”. Điều đó được thể hiện qua nhân vật bà cụ Tứ, người chị dâu nhặt, đặc biệt là nhân vật Tràng. Qua diễn biến tâm trạng của Tràng từ lúc tình cờ gặp vợ cho thấy sức sống và niềm hi vọng mãnh liệt của con người trong nạn đói.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” như một thước phim đen trắng về nạn đói năm 1945. Đoạn phim ấy không chỉ phản ánh hiện thực thảm khốc, thê thảm của nạn đói mà còn hướng ống kính đến vẻ đẹp đáng quý của con người. . Ông Tráng là người dân trong tổ dân phố, xuất thân từ một gia đình nghèo, có ngoại hình xấu xí, thô kệch với “hai mắt gà nhỏ, hai bên hàm trợn trừng, dáng người to cao vạm vỡ, người to cao. trở lại. rộng như lưng gấu. ” Tính tình của Trang cũng đơn giản, vô tư và có thói quen lảm nhảm những điều mình nghĩ khi đi đường.

Khi bị bọn trẻ trêu chọc, anh chỉ “nhìn lên trời và cười. Gia cảnh của Trang cũng không mấy khấm khá, anh sống với mẹ già trong túp lều lụp xụp bên bờ sông, cạnh đống rác trên bãi cỏ. Trong bát đũa, quần áo vứt ngổn ngang trên giường dưới đất. Hàng ngày, anh Trang kéo xe bò thuê để kiếm sống. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh ấy ta vẫn thấy ở Tràng có khát vọng hạnh phúc và ý chí vươn lên, thể hiện rõ nhất ở tâm trạng của Tràng trong hai lần gặp lại người đàn bà. Tràng đã nói đùa hai lần, nhưng trong câu đùa ấy ẩn chứa một niềm khát khao đầy khát khao:

“Tôi muốn ăn dăm bông này với cơm trắng!

Hãy đến và đẩy xe bò với tôi, meo! “

Ngay cả khi cái đói bủa vây và biến con người ta trở nên cùng cực, nhưng ông Tràng vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Trong lúc kéo xe bò, dù mệt nhưng anh ta vẫn nói vài câu bông đùa với người phụ nữ lạ mặt. Ngay cả khi bị người phụ nữ mắng mỏ rằng “Diao, đồ đồi bại” vì quên lời hứa vu vơ, anh ta vẫn chấp nhận “chuộc lỗi” bằng cách mời người phụ nữ đi ăn. Trong lần gặp thứ hai, ông Tráng có nói với người phụ nữ: “Đùa vậy thôi chứ khi nào về với anh thì xếp hàng lên xe rồi về”.

Có thể thấy lời nói này giống như một câu nói đùa, nhưng ẩn sau đó là khát vọng hạnh phúc, mong ai đó quay lại, lại là một ước nguyện nghiêm túc. Khi người phụ nữ đồng ý, chuyện đùa thành thật, chúng tôi thấy niềm hạnh phúc ngập tràn trong lòng Tràng hiện rõ trên gương mặt. Trên đường về nhà vợ, Tràng có vẻ mặt hạnh phúc và tự hào lạ thường, đôi mắt long lanh rạng ngời, miệng luôn cười một mình, điều đó có nghĩa là niềm vui trào dâng khiến Tràng không kìm được, không giấu được, anh mừng như khẩy. đứa trẻ với một món quà. Niềm hạnh phúc bất chợt khiến Tràng không dám tin “đến bây giờ anh vẫn ngờ ngợ là không phải vậy.

Vậy là anh đã có vợ rồi sao?”, Phút chốc Tràng chợt quên hết cơn đói đang rình rập, “Trong lòng anh giờ chỉ có mình thôi.” tình yêu giữa anh và người phụ nữ bên cạnh anh vẫn còn. ” Trong lòng Tràng có một cái gì đó thật mới mẻ và lạ lẫm “nó được âu yếm… như có một bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve lưng nàng”. Tâm trạng đó của Tràng khiến ta thấy anh vừa có cảm giác hạnh phúc, vừa rất trân trọng và say mê hạnh phúc đó. Niềm hạnh phúc lớn lao khiến Trang quên đi tất cả, niềm hạnh phúc đó cũng chính là sức mạnh giúp Trang chấp nhận tất cả.

Tràng đưa vợ về nhà gặp mẹ, nghĩa là Tràng lúc đó rất tôn trọng ý kiến ​​của người lớn, dù là người đi sau nhưng chị vẫn rất nể. Tràng muốn vợ được danh chính ngôn thuận, chuyện đã có vợ rất quan trọng. công việc vương giả, hào hùng. Tràng còn hào phóng chở vợ đi chợ mua những món đồ lặt vặt cần thiết cho người phụ nữ khi về nhà chồng. Những việc làm đó cho thấy tâm trạng Tràng không chỉ vui tươi, hạnh phúc mà còn rất trân trọng, nâng niu niềm hạnh phúc lớn lao đó. Tâm trạng thất thường của Trang thể hiện rõ nhất vào sáng hôm sau. Tràng thức dậy với tâm trạng vui vẻ, lâng lâng, không khí gia đình trở nên khác lạ, anh nhận ra những thay đổi của cảnh vật xung quanh. Anh nhận ra rằng, có bàn tay của người phụ nữ, gia đình này mới thực sự là gia đình, thực sự là tổ ấm.

Mọi việc nhà cửa đều ngăn nắp, sạch sẽ, anh có những suy nghĩ về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với gia đình. Tưởng chừng như trước đây, mẹ con Tràng chỉ sống tạm bợ thì nay, Tràng bỗng thấy “nhớ nhà mình đến lạ… Một nguồn vui, rạo rực bỗng tràn ngập trong lòng”. Cảm giác này ở một người như Trang thực sự rất cảm động, người ta lấy nhau thì không có gì đặc biệt lắm nhưng với Trang, đó là một ước mơ lớn tưởng chừng không bao giờ thành hiện thực. Trong bữa ăn sáng đầu tiên với vợ, anh Trang cũng được giác ngộ cách mạng, những hiểu lầm, lo sợ về Việt Minh từ trước đã được vợ anh hóa giải. Với tâm trạng lúc đó Tràng không còn sợ Việt Minh nữa, anh cũng ngầm hiểu ai là nguyên nhân gây ra nạn đói khổ sở này và làm cách nào để đứng lên giành lại sự sống cho mình.

Qua việc khắc họa tâm lý nhân vật Tràng, Kim Lân không chỉ trực tiếp lên án tội ác diệt chủng của bọn thực dân, phát xít mà còn từ tâm trạng của Tràng để đi sâu khám phá cũng như khẳng định khát vọng hạnh phúc. gia đình, niềm tin mãnh liệt của nhân dân lao động vào cuộc sống và tương lai. Vì thiếu cơm áo gạo tiền, Tràng và những người như Tràng buộc phải sống gắn bó với cộng đồng, sống quyết liệt, sống hết mình thì mới có được niềm tin bền bỉ và kỳ diệu ấy.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 2: Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng

Tràng là một thân phận thấp hèn nhưng lại là một chú rể thực sự hạnh phúc. Trước tình huống “nhặt” vợ, tâm lý của Tràng diễn biến thành những chặng sau: Chặng một là Tràng đến với người vợ nhặt trong một quyết định vừa tầm vơ tầm phào, liều lĩnh, bởi ban đầu chủ tâm Tràng hò một câu cho đỡ nhọc:

“Muốn ăn cơm trắng với giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì!”

Mọi sự mời mọc nhất nhất là đùa, về phía cô vợ nhặt, bàn đầu chủ yếu cũng là đùa. Tràng mới đầu cũng “chợn” nghĩa là sợ, nhưng rồi tặc lưỡi: “Chậc! Kệ” – một quyết định có vẻ như đùa đối với sự kiện trọng đại của đời người. Song hoàn cảnh ấy, cái tặc lưỡi của Tràng là một sự táo bạo liều lĩnh. Tràng đã dám đánh cuộc với cái đói, cái nghèo để đi đến miền hạnh phúc của đời thường.

Chặng hai của diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng là những cảm xúc tự đắc, hồi hộp xen lẫn niềm vui khi “nhặt” được vợ. Hạnh phúc tạo niềm vui lớn cho Tràng , nhà văn Kim Lân nhắc ta nhớ đến hình ảnh đôi mắt của Tràng lúc này sáng lên lấp lánh, nụ cười tủm tỉm. Đó là ánh mắt nụ cười của con người đang sống trong cảm giác hạnh phúc. Lần đầu tiên đi bên cạnh người đàn bà, Tràng lấy làm hãnh diện vô cùng, mốn nói một câu cho thật tình tứ nhưng chẳng biết nói thế nào thành ra những câu đối đáp với vợ trở nên cộc lốc, nhát gừng, rời rạc, bởi hạnh phúc đến với Tràng quá bất ngờ. Tràng đã sống trong cảm giác hạnh phúc: “mặt hắn có một vẻ gì phớn phở”. Kim Lân đã chọn được một từ chân quê nhưng rất chính xác “phớn phở” để diễn tả tâm trạng sung sướng, hồ hởi, hân hoan được biểu lộ ra ngoài gương mặt nhân vật. Khi chứng kiến hình ảnh những người dân ngụ cư tò mò quan sát sự xuất hiện của mình với người đàn bà lạ, Tràng lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc.

Càng về gần nhà thì dường như chất men tình say sưa trong Tràng càng ngấm nhiều hơn và trở thành cái nghĩa tình hết sức thấm thía: “Trong một lúc, hình như Tràng quên hết những cảnh sống khổ cực ê trề…trong lòng hắn lúc đó chỉ còn lại cái nghĩ tình giữa hắn và người đàn bà đang đi bên cạnh. Có cái gì mới mẻ, lạ lắm “ở người đàn ông nghèo khổ này”. Cũng trên đường về nhà, hình tượng Tràng cũng được nhà văn Kim Lân khắc họa rất chân thực, người đàn ông ấy hình như cũng có cái nhìn bối rối khi thấy người dân xóm ngụ cư quan tâm.

Nhưng có lẽ, cùng với niềm vui hạnh phúc, người ta bắt gặp ở Tràng một người đàn ông đã trưởng thành, chững trạc, điều đó bộc lộ ở cách ứng xử. Trước lời trên đừa của đám trẻ con Tràng đã mắng yêu: “Bố ranh”. Tràng khéo léo từ chối những lời chèo khéo mời mọc của những người dân xóm ngụ cư để đưa vợ về một cách khéo léo. Tràng khoe chai dầu mới mua bằng hai hào với lí do “vợ mới vợ miết cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ”. Lời nói giản dị nhưng chứa đựng trong đó bao nhiêu nhận thức, tình cảm của nhân vật: có được vợ một cách dễ dàng nhưng không vì thế mà Tràng coi thường vợ, ngược lại vẫn trân trọng hạnh phúc.

Khi vào nhà, với người đàn ông, lấy vợ là một việc hệ trọng trong cuộc đời, quyết định tương lai hạnh phúc. Thông thường việc này phải được hai bên cha mệ cho phép. Nhưng việc lấy vợ của của Tràng hoàn toàn bất ngờ. Bởi vậy ban đầu Tràng cũng có tâm lý lo âu hồi hộp. Tràng bước ra sân, khi gặp mẹ, Tràng như một đứa trẻ, reo lên: “U đã về đấy!….sao u về muộn thế! Làm tôi đợi nóng cả ruột”. Nhưng sau thoáng lo âu hồi hộp ấy, Tràng lấy lại được sự bifh tĩnh cần thiết, giới thiệu vợ với mẹ bằng một câu ý nghĩa “kìa nhà tôi nó chào u”.

Thấy mẹ vẫn chưa hiểu Tràng lại nói: “nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ…chẳng qua nó cũng là cái số cả…” Bằng câu nói ấy, Tràng đã xác định rõ ràng mối quan hệ của mình với người phụ nữ đẩy người nghe và bà cụ Tứ buộc phải chấp nhận. Không chỉ vậy câu nói còn lý giải mối quan hệ với vợ là duyên số – một cách lý giải của một người từng trải, chín chắn, chững chạc.

Bên cạnh cảm giác tự đắc, phớn phở, hạnh phúc, Tràng vẫn còn tâm lý nghi hoặc, bàng hoàng. Nhìn cô vợ ngồi ngay giữa nhà mà Tràng vẫn không thể tin là vợ mình. “Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Chao ôi hạnh phúc giữa năm đói như một điều xa xỉ, cầm mắm ở trong tay mà vẫn không tin đó là sự thật.

Những cảm xúc hồi hộp, lo lắng, hạnh phúc lẫn lộn Tràng dần chuyển sang ý thức được hạnh phúc bản thân. Con người mong hạnh phúc đến và hạnh phúc đến lượt nó có thể làm thay đổi con người. Trước hạnh phúc Tràng như lột xác, lần đầu tiên, anh ta run rấy sống trong một cảm giác rất người: “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Hắn đã có một gia đình: Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy…”Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”. Hai chữ “nên người” hạ xuống như một điểm nhấn xác nhận sự biến đổi về chất ở Tràng. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân tính. Tràng phục sinh nhân tính nhờ vươn tới ý thức về gia đình.

Song chi tiết đắt nhất của Kim Lân không phải ở đó mà có lẽ là ở câu văn này:” Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn là một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức trong bước chân của Tràng tìm đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một bước ngoặt lớn ở Tràng. So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, hành động xăm xăm này là một đột biến không chỉ ở dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức.

Nàng Kiều xưa từng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Gót chân đến với hạnh phúc của Kiều táo bạo thế mà cứ chênh vênh, đơn độc khiến cho người đọc lo lắng bởi chỉ có một mình giữa đêm trăng trung cổ. Còn cái “xăm xăm” của Tràng mới vững khỏe, tự tin làm sao, bởi Tràng có cả một gia đình. Và đó là cái xăm xăm của con người trong hạnh phúc.

Khi ý thức được tương lai hạnh phúc của riêng mình, tâm trạng Tràng chuyển biến sang một dự cảm đội đời. Khi miếng cám đắng chát, ngậm ứ xuất hiện trong âm thanh tiếng trống thu thuế, dồn dập, tự là lúc cuộc sống đã bị đẩy đến miệng vưc của cái đói, cái chết thì cũng là lúc hình ảnh lá cờ đỏ hiện lên làm nên một câu rất quan trọng của tác phẩm. “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Lá cờ đỏ – hình tượng thoáng qua ấy khi được đặt vào đoạn kết mang bao sức nặng về tư tưởng và nghệ thuật cho thiên truyện.

Nếu vắng chi tiết này tác phẩm sẽ xa lối kết cấu khép của văn học hiện thực phê phán. Sự có mặt của chi tiết nghệ thuật này khiến cho câu chuyện có một cái kết mở nhờ thế thiên truyện đã đóng lại. Nhưng số phận nhân vật vẫn tiếp tục được vận động theo hướng lạc quan, đi lên chứ không bế tắc như anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Nguyễn Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao…Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đã vẫy lên như một tín hiệu đổi đời, một tương lai tươi sáng.

Qua hình tượng nhân vật Tràng, Kim Lân còn khẳng định hiện thực cuộc sống có ngột ngạt, tăm tối đến đâu thì sự sống vẫn trỗi dậy, vươn lên mãnh liệt, con người vẫn cố gắng vật lộn với hoàn cảnh để khẳng định tư cách Người ngời sáng của mình. Xét cho cùng, hình tượng nhân vật Tràng đã giúp Kim Lân thể hiện được thành công một khúc ca chứa đựng niềm tin mãnh liệt của con người vào sự sống: “sự sống chẳng bao giờ chán nản” (Xuân Diệu), chính là biểu hiện giá trị nhân đạo mang những nét nhân văn cao cả và rất riêng của Kim Lân. Nó giúp người đọc nhận ra được nét đặc sắc riêng của tác phẩm khi đặt bên cạnh những sáng tác viết về người nông dân trước sự thử thách của cái nghèo, cái đói.

Số 3: Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong Vợ nhặt

Kim Lân là nhà văn sớm tham gia xã hội. Ông là tấm gương lớn về sự nỗ lực tự học. Do thực trạng mái ấm gia đình khó khắn Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Cuộc đời to lớn chính là trường ĐH của ông. Đấy là cơ sở cho những trang viết vừa bộn bề chất sống, vừa rất đỗi tinh xảo, tài hoa. Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Truyện ngắn này không chỉ mê hoặc người đọc bởi trường hợp truyện độc lạ, giật mình, mà còn ở chỗ nhà văn đã thiết kế xây dựng thành công xuất sắc những nhân vật chính như anh cu Tràng để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng thâm thúy. Diễn biến tâm trạng của nhân vật cũng bộc lộ giá trị nhân đạo và vẻ đẹp của tình người trong tác phẩm .

“Vợ nhặt” được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp năm 1945 với hai triệu người chết đói. Nhân dân Việt Nam cùng lúc bị áp bức, bóc lột bởi phát xít Nhật và thực dân Pháp. Ở miền Bắc, Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, trong khi đó thực dân Pháp ra sức vơ vét thóc gạo. Hậu quả là cuối năm 1945 dân ta rơi vào thảm cảnh bi cùng. Đó là nạn đói chưa từng có trong lịch sử. Nhưng điều kì lạ là trong đói khát tăm tối ấy, cận kề bên miệng vực của cái chết, những người lao động Việt Nam không nghĩ đến cái chết mà luôn hướng về sự sống, ánh sáng, hạnh phúc, tương lai. Đó là chất người kì diệu, là khát vọng sống mạnh mẽ của con người Việt Nam đã khơi nguồn cảm hứng cho Kim Lân sáng tác nên thiên truyện ngắn đặc sắc này.

Tràng là một gã trai nghèo khó, cái nghèo khó đến tột cùng. Cái nghèo ấy hiện hữu trong “ chiếc áo nâu tàng ”, cái nhà Tràng thì “ vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại ”, và Tràng chỉ là người kéo xe bò thuê. Đến cái tên cũng biểu lộ sự thô kệch, nghèo khó : Tràng – một dụng cụ dùng trong nghề mộc. Ngòi bút của Kim Lân đã vô cùng sôi động khi khắc họa bức chân dung của Tràng : ” hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạch ra ”, bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạp vạm, cái đầu thì trọc lốc … Dưới ngòi bút của Kim Lân, Tràng hiện lên như một bức chân dung vẽ vội, một hình hài mà tạo hóa đẽo gọt quá ư sơ sài, cẩu thả.

Không chỉ xấu xí, nghèo khó, ở những tầng lớp cùng đinh mà Tràng còn là người dở tính, “ hắn có tật vừa đi vừa nói ”, “ hắn lảm nhảm than phiền những điều hắn nghĩ nhiều lúc còn ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch ” .Tràng là một thân phận thấp hèn nhưng lại là một chú rể thực sự niềm hạnh phúc. Trước trường hợp “ nhặt ” vợ, tâm ý của Tràng diễn biến thành những chặng sau .

Chặng một là Tràng đến với người vợ nhặt trong một quyết định hành động vừa tầm vơ tầm phào, liều lĩnh, bởi bắt đầu chủ tâm Tràng hò một câu cho đỡ nhọc :“ Muốn ăn cơm trắng với giò nàyLại đây mà đẩy xe bò với anh nì ! ”Mọi sự mời mọc nhất nhất là đùa, về phía cô vợ nhặt, bàn đầu hầu hết cũng là đùa. Tràng mới đầu cũng “ chợn ” nghĩa là sợ, nhưng rồi tặc lưỡi : ” Chậc ! kệ ” – một quyết định hành động có vẻ như như đùa so với sự kiện trọng đại của đời người. Song thực trạng ấy, cái tặc lưỡi của Tràng là một sự táo bạo liều lĩnh. Tràng đã dám đánh cuộc với cái đói, cái nghèo để đi đến miền niềm hạnh phúc của đời thường .Chặng hai của diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng là những cảm hứng tự đắc, hoảng sợ xen lẫn niềm vui khi “ nhặt ” được vợ.

Hạnh phúc tạo niềm vui lớn cho Tràng, nhà văn Kim Lân nhắc ta nhớ đến hình ảnh đôi mắt của Tràng lúc này sáng lên lấp lánh lung linh, nụ cười tủm tỉm. Đó là ánh mắt nụ cười của con người đang sống trong cảm xúc niềm hạnh phúc. Lần tiên phong đi bên cạnh người đàn bà, Tràng lấy làm hãnh diện vô cùng, mốn nói một câu cho thật tình tứ nhưng chẳng biết nói thế nào thành ra những câu đối đáp với vợ trở nên cộc lốc, nhát gừng, rời rạc, bởi niềm hạnh phúc đến với Tràng quá giật mình. Tràng đã sống trong cảm xúc niềm hạnh phúc : “ mặt hắn có một vẻ gì phớn phở ”. Kim Lân đã chọn được một từ chân quê nhưng rất đúng chuẩn “ phớn phở ” để diễn đạt tâm trạng sung sướng, hồ hởi, hân hoan được biểu lộ ra ngoài khuôn mặt nhân vật.

Khi tận mắt chứng kiến hình ảnh những người dân ngụ cư tò mò quan sát sự Open của mình với người đàn bà lạ, Tràng lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc. Càng về gần nhà thì có vẻ như chất men tình say sưa trong Tràng càng ngấm nhiều hơn và trở thành cái nghĩa tình rất là thấm thía : “ Trong một lúc, hình như Tràng quên hết những cảnh sống khổ cực ê chề … trong lòng hắn lúc đó chỉ còn lại cái nghĩa tình giữa hắn và người đàn bà đang đi bên cạnh. Có cái gì mới lạ, lạ lắm “ ở người đàn ông bần hàn này ”. Cũng trên đường về nhà, hình tượng Tràng cũng được nhà văn Kim Lân khắc họa rất chân thực, người đàn ông ấy hình như cũng có cái nhìn hoảng sợ khi thấy người dân xóm ngụ cư chăm sóc.

Nhưng có lẽ rằng, cùng với niềm vui niềm hạnh phúc, người ta phát hiện ở Tràng một người đàn ông đã trưởng thành, chững trạc, điều đó thể hiện ở cách ứng xử. Trước lời trêu đùa của đám trẻ con Tràng đã mắng yêu : “ Bố ranh ”. Tràng khôn khéo khước từ những lời chèo khéo mời mọc của những người dân xóm ngụ cư để đưa vợ về một cách khôn khéo. Tràng khoe chai dầu mới mua bằng hai hào với lí do “ vợ mới vợ miết cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ ”. Lời nói giản dị và đơn giản nhưng tiềm ẩn trong đó bao nhiêu nhận thức, tình cảm của nhân vật : có được vợ một cách thuận tiện nhưng không vì vậy mà Tràng coi thường vợ, ngược lại vẫn trân trọng niềm hạnh phúc .Khi vào nhà, với người đàn ông, lấy vợ là một việc hệ trọng trong cuộc sống, quyết định hành động tương lai niềm hạnh phúc. Thông thường việc này phải được hai bên cha mẹ được cho phép. Nhưng việc lấy vợ của của Tràng trọn vẹn giật mình.

Bởi vậy bắt đầu Tràng cũng có tâm lí lo âu bồn chồn. Tràng bước ra sân, khi gặp mẹ, Tràng như một đứa trẻ, reo lên : “ U đã về đấy ! … Sao u về muộn thế ! Làm tôi đợi nóng cả ruột ”. Nhưng sau thoáng lo âu hoảng sợ ấy, Tràng lấy lại được sự bình tĩnh thiết yếu, trình làng vợ với mẹ bằng một câu ý nghĩa “ Kìa nhà tôi nó chào u ”. Thấy mẹ vẫn chưa hiểu Tràng lại nói : “ Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ … chẳng qua nó cũng là cái số cả … ”. Bằng câu nói ấy, Tràng đã xác lập rõ ràng mối quan hệ của mình với người phụ nữ để người nghe và bà cụ Tứ buộc phải đồng ý. Không chỉ vậy câu nói còn lí giải mối quan hệ với vợ là duyên số – một cách lý giải của một người từng trải, chín chắn, chững chạc .Bên cạnh cảm xúc tự đắc, phớn phở, niềm hạnh phúc, Tràng vẫn còn tâm ý nghi vấn, bàng hoàng. Nhìn cô vợ ngồi ngay giữa nhà mà Tràng vẫn không hề tin là vợ mình. “ Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ? ”.

Chao ôi niềm hạnh phúc giữa năm đói như một điều xa xỉ, cầm nắm ở trong tay mà vẫn không tin đó là thực sự .Những xúc cảm bồn chồn, lo ngại, niềm hạnh phúc lẫn lộn Tràng dần chuyển sang ý thức được niềm hạnh phúc bản thân. Con người mong niềm hạnh phúc đến và niềm hạnh phúc đến lượt nó hoàn toàn có thể làm đổi khác con người. Trước niềm hạnh phúc Tràng như lột xác, lần tiên phong, anh ta run rẩy sống trong một cảm xúc rất người : “ Bỗng nhiên hắn thấy thương mến, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng ”.

Hắn đã có một mái ấm gia đình : Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy … ”. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người ”. Hai chữ “ nên người ” hạ xuống như một điểm nhấn xác nhận sự đổi khác về chất ở Tràng. Cái gốc của sự biến hóa ấy chính là mái ấm gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Cái gốc của sự biến hóa ấy chính là mái ấm gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân tính. Tràng Phục hồi nhân tính nhờ vươn tới ý thức về mái ấm gia đình .

Song chi tiết đắt nhất của Kim Lân không phải ở đó mà có lẽ là ở câu văn này:” Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn là một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức trong bước chân của Tràng tìm đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một bước ngoặt lớn ở Tràng. So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, hành động xăm xăm này là một đột biến không chỉ ở dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức.

Nàng Kiều xưa từng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Gót chân đến với hạnh phúc của Kiều táo bạo thế mà cứ chênh vênh, đơn độc khiến cho người đọc lo lắng bởi chỉ có một mình giữa đêm trăng trung cổ. Còn cái “xăm xăm” của Tràng mới vững khỏe, tự tin làm sao, bởi Tràng có cả một gia đình. Và đó là cái xăm xăm của con người trong hạnh phúc.

Khi ý thức được tương lai niềm hạnh phúc của riêng mình, tâm trạng Tràng chuyển biến sang một dự cảm đổi đời. Khi miếng cám đắng chát, ngậm ứ Open trong âm thanh tiếng trống thu thuế, dồn dập, là lúc đời sống đã bị đẩy đến miệng vực của cái đói, cái chết thì cũng là lúc hình ảnh lá cờ đỏ hiện lên tạo ra sự một câu rất quan trọng của tác phẩm : “ Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ”. Lá cờ đỏ – hình tượng thoáng qua ấy khi được đặt vào đoạn kết mang bao sức nặng về tư tưởng và thẩm mỹ và nghệ thuật cho thiên truyện. Nếu vắng cụ thể này tác phẩm sẽ xa lối cấu trúc khép của văn học hiện thực phê phán.

Sự xuất hiện của cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ này khiến cho câu truyện có một cái kết mở nhờ thế thiên truyện đã đóng lại. Nhưng số phận nhân vật vẫn liên tục được hoạt động theo hướng sáng sủa, đi lên chứ không bế tắc như anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao … Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đã vẫy lên như một tín hiệu đổi đời, một tương lai tươi tắn .Qua hình tượng nhân vật Tràng, Kim Lân còn khẳng định chắc chắn hiện thực đời sống có ngột ngạt, tăm tối đến đâu thì sự sống vẫn trỗi dậy, vươn lên mãnh liệt, con người vẫn cố gắng nỗ lực vật lộn với thực trạng để chứng minh và khẳng định tư cách ngời sáng của mình.

Xét cho cùng, hình tượng nhân vật Tràng đã giúp Kim Lân bộc lộ được thành công xuất sắc một khúc ca tiềm ẩn niềm tin mãnh liệt của con người vào sự sống : “ sự sống chẳng khi nào chán nản ” ( Xuân Diệu ), chính là bộc lộ giá trị nhân đạo mang những nét nhân văn cao quý và rất riêng của Kim Lân. Nó giúp người đọc nhận ra được nét rực rỡ riêng của tác phẩm khi đặt bên cạnh những sáng tác viết về người nông dân trước sự thử thách của cái nghèo, cái đói .

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 4: Cảm nhận về tâm trạng nhân vật Tràng

Chia sẻ về truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân từng viết: “Trong cái đói quay quắt, trong hoàn cảnh khốn cùng, những con người cơ cực vẫn biết vươn lên để mà sống, để mà hi vọng”. Điều này được thể hiện qua nhân vật bà cụ Tứ, chị vợ nhặt, đặc biệt là nhân vật Tràng. Thông qua diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi gặp gỡ tình cờ đến khi có một người vợ thể hiện được sức sống và niềm hi vọng sống mạnh mẽ của con người trong nạn đói.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” tựa như thước phim đen trắng về nạn đói năm 1945. Thước phim ấy không chỉ phản ánh hiện thực đói khát, thê thảm của nạn đói mà còn hướng ống kính vào những vẻ đẹp đáng trân trọng của con người. Anh Tràng là người dân xóm Ngụ cư, gia cảnh nghèo khó, ngoại hình xấu xí, thô kệch với “hai mắt nhỏ tí gà gà, hai bên quai hàm bạnh ra rung rung, hắn có thân hình to lớn, vập vạm, lưng rộng như lưng gấu”. Tính cách của Tràng cũng đơn giản, vô tư lại có tật vừa đi vừa lảm nhảm những điều hắn nghĩ, khi bị trẻ con trêu hắn chỉ “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”.

Gia cảnh của anh Tràng cũng không mấy khá khẩm, anh sống cùng mẹ già trong một túp lều rúm ró ngoài bờ sông, cạnh đống rác trên bãi cỏ. Trong lều niêu bát, quần áo vứt bừa bộn cả trên giường dưới đất. Hàng ngày, anh Tràng đi kéo xe bò thuê để kiếm sống. Tuy nhiên trong hoàn cảnh ấy ta vẫn thấy Tràng có khát vọng hạnh phúc và ý chí vươn lên, thể hiện rõ nhất qua tâm trạng của Tràng trong hai lần gặp người đàn bà. Tràng có hai lần nói đùa nhưng trong câu đùa lại ẩn chứa niềm mong ước đầy khát khao:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”

Ngay cả khi nạn đói bủa vây, quay quắt con người trong đói khổ cùng cực thì anh Tràng vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Khi kéo xe bò, dù mệt nhưng anh vẫn nói vài câu bông đùa với người đàn bà lạ mặt. Ngay cả khi bị người đàn bà trách mắng “Điêu, người thế mà điêu” vì quên lời hứa hẹn vu vơ, anh vẫn chấp nhận “chuộc lỗi” bằng cách mời người đàn bà ấy ăn. Trong lần gặp mặt thứ hai, anh Tràng đã nói với người đàn bà: “Nói đùa chứ mình về với tớ thì xếp hàng lên xe rồi cùng về”.

Có thể thấy lời nói ấy giống như một lời bông đùa nhưng ẩn sau đó lại là khát khao hạnh phúc, là mong ước có người cùng về, đó là ao ước nghiêm túc. Khi người đàn bà đã đồng ý, chuyện đùa đã thành chuyện thật, ta thấy niềm hạnh phúc ngập tràn trong lòng Tràng đã biểu hiện ra cả nét mặt. Trên đường dẫn vợ về nhà, Tràng có nét mặt phớn phở khác thường và cứ vênh lên tự đắc, hai mắt thì sáng lên lấp lánh, miệng luôn cười tủm một mình, như vậy có nghĩa là niềm vui sướng trào dâng, khiến Tràng không thể kiềm chế, không thể giấu giếm, hắn vui sướng như một đứa trẻ được quà.

Hạnh phúc bất ngờ khiến Tràng không dám tin “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”, trong phút chốc Tràng bỗng quên hết những đói khổ đang rình rập “Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Trong lòng Tràng có một cái gì đó mới mẻ, lạ lắm “nó ôm ấp mơn man… tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Tâm trạng ấy của Tràng khiến ta thấy được hắn đã có cảm nhận về hạnh phúc và rất trân trọng, say mê niềm hạnh phúc ấy. Hạnh phúc lớn lao khiến Tràng quên đi tất cả, hạnh phúc ấy cũng là sức mạnh giúp Tràng chấp nhận tất cả.

Tràng đưa vợ về ra mắt mẹ, nghĩa là Tràng khi ấy rất coi trọng ý kiến của người lớn, dù là vợ theo không nhưng vẫn rất đáng trân trọng, Tràng muốn vợ mình phải được danh chính ngôn thuận, việc mình có vợ là việc đoàng hoàng, quang minh chính đại. Tràng còn hào phóng đưa vợ vào chợ mua những thứ lặt vặt là những điều thiết yếu cho người phụ nữ khi về nhà chồng. Những hành động đó chứng tỏ tâm trạng của Tràng không chỉ biết hân hoan vui sướng hạnh phúc mà còn đang rất trân trọng và nâng niu hạnh phúc lớn lao ấy. Sự thay đổi tâm trạng của Tràng thể hiện rõ nét nhất trong buổi sáng hôm sau.

Tràng thức dậy với tâm trạng vui sướng, lâng lâng, không khí gia đình trở nên khác hẳn, hắn nhận ra những thay đổi của khung cảnh xung quanh. Hắn nhận ra rằng, có bàn tay người phụ nữ, cái gia đình này mới thật sự là một gia đình, thật sự là tổ ấm. Mọi thứ nhà cửa, sân vườn gọn gàng sạch sẽ, hắn đã có những suy nghĩ về bổn phận và trách nhiệm của mình đối với gia đình. Dường như trước kia mẹ con Tràng chỉ là sống tạm bợ, qua ngày, nay Tràng bỗng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng… Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”.

Tâm trạng này có được ở một người như Tràng mới thật cảm động, người ta lấy vợ lấy chồng cũng không có gì đặc biệt lắm nhưng với Tràng thì là cả một ước mơ lớn tưởng chừng như không bao giờ có thể thực hiện được. Trong bữa cơm sáng đầu tiên có vợ, Tràng còn được giác ngộ cách mạng, những hiểu lầm và cái sợ Việt Minh từ trước giờ của Tràng đã được câu nói của vợ biến tan thành mây khói. Trong tâm trạng Tràng khi ấy không còn nỗi sợ Việt Minh, chàng còn ngầm hiểu ra ai mới là kẻ gây ra nạn đói khốn khổ này và phải đứng lên như thế nào để giành lại được sự sống.

Qua việc diễn tả tâm lí nhân vật Tràng, Kim Lân không chỉ trực tiếp lên án tội ác diệt chủng của bọn thực dân, phát xít mà còn từ tâm trạng của Tràng đi sâu và phát hiện cũng như khẳng định niềm khao khát hạnh phúc gia đình, niềm tin mãnh liệt của người dân lao động ở sự sống và tương lai. Vì miếng cơm manh áo nên Tràng và những người dân như Tràng buộc phải sống gắn bó với cộng đồng, sống quyết liệt, sống hết mình nên mới có được niềm tin dai dẳng và kì diệu ấy.

Số 5: Phân tích tâm trạng của nhân vật Tràng

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn với đề tài quen thuộc là hình ảnh nông thôn và người nông dân. Khác với tác giả Tô Hoài – ông không khai thác cuộc sống của người dân nơi rẻo cao Tây Bắc mà lại lặn sâu vào cuộc sống của người dân quê – những con người gắn bó thiết tha với quê hương và cách mạng. Trong đó, “Vợ nhặt” là một tác phẩm tiêu biểu minh chứng cho tài năng của Kim Lân. Và trong suốt những trang sách kể về tình huống nhặt vợ có một không hai trong nền văn học Việt Nam, diễn biến tâm lí nhân vật Tràng đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc.

Nạn đói năm 1945 đã khiến cho hơn hai triệu người chết, tình hình đất nước rơi hẳn vào cảnh u ám, tối tăm: “Ta đi giữa đường dương thế/ Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây/ Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy/ Xác truỵ lạc rũ bên thềm lá phủ” (Văn Cao). Nhiều gia đình trở thành nạn nhân, rơi vào cảnh khốn cùng, bị đe dọa bởi miếng cơm manh áo, trong đó, có gia đình Tràng. Tràng là một thanh niên xấu xí, nghèo khổ, mưu sinh bằng nghề kéo xe bò thuê, cùng sống với mẹ già nơi xóm ngụ cư.

Giữa lúc cái đói đang bám riết sự sống, Tràng dẫn về một người phụ nữ xa lạ, đúng hơn là một người vợ anh mới “nhặt” được bằng bốn bát bánh đúc và một câu nói nửa đùa, nửa thật. Bà cụ Tứ – mẹ Tràng đón nhận người con dâu đáng thương kia bằng tâm trạng ngổn ngang, âu lo. Và kết thúc tác phẩm là chi tiết bữa cơm thảm hại ngày đói được đan cài cùng niềm tin tưởng le lói vào tương lai qua hình ảnh lá cờ trong óc Tràng “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…” Trong suốt đoạn trích, ta có thể dễ dàng quan sát tâm trạng của Tràng qua sự kiện nhặt vợ: Tràng trước khi nhặt được vợ và Trang sau khi nhặt được vợ.

Trước khi nhặt được vợ, sự gặp gỡ giữa Tràng và thị chẳng có gì đặc biệt. Thâm chí, đó còn chẳng được gọi là một cuộc gặp gỡ hay một cuộc hẹn hò đúng nghĩa. Họ chỉ là những người lao động nghèo khổ, những người vật vờ đói khát trong thảm cảnh lịch sử. Họ chỉ là những nạn nhân của mất mát đau thương, ngày ngày đi trên lằn ranh của sự sống và cái chết. Mới lần đầu gặp gỡ, “thị cười tít mắt” với Tràng sau khi đẩy xe bò lên dốc tỉnh. Gặp gỡ lần thứ hai, thị “sưng sỉa, cong cớn, chao chát, chỏng lỏn” đòi ăn cho bằng được. Cô dâu của Tràng đích thị là nạn nhân của cái đói. Chỉ tầm phơ tầm phào có hai bận như thế, Tràng và thị đã thành vợ thành chồng.

Tràng hò chơi cho đỡ nhọc, Tràng mời thị bốn bát bánh đúc vì lời thất hứa và sự xót thương cho hoàn cảnh: “thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” và cùng lời nói đùa: “Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Nhưng ai ngờ được: “Nói thế Tràng cũng được là nói đùa, ai ngờ thị về thật”. Tràng thật sự thấy lo lắng cho cuộc hôn nhân quá đỗi bất ngờ: “Mới đầu anh Tràng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”. Nhưng sau đó, sự lo lắng của Tràng bắt đầu nhường chỗ cho hạnh phúc mới – hạnh phúc lứa đôi – dù là lứa đôi khốn khổ và bất hạnh: “Chậc, kệ!”.

Sau khi nhặt được vợ, tâm trạng Tràng có sự thay đổi rõ rệt. Có ai ngờ được làm câu hôn ngờ nghệch đã thay đổi tâm trạng và số phận của những con người trong gia đình đói khổ. Đời sống tinh thần chuyển những gam màu u ám, chết chóc sang ấm áp và hi vọng. Trong hoàn cảnh khốn cùng, Tràng vẫn khao khát hạnh phúc, có ý thức tạo dựng mái ấm gia đình.

Khi chấp nhận thị làm vợ, Tràng đã thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của một người chồng: “hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê…” Tràng còn hào phóng “mua hai hào dầu để thắp sáng”. Trên đường về nhà, Tràng cảm nhận được niềm vui mới đang len lỏi trong từng nấc thang suy nghĩ “phớn phở khác thường”. Thỉnh thoảng lại còn cười nụ một mình. Khi đi bên thị, Tràng rụt rè bỡ ngỡ khác thường, khi thì hắn đi sát người đàn bà, lúc lại lùi ra sau một tí, hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia. Tràng muốn nói bông đùa đôi câu nhưng lại cứ cảm thấy ngường ngượng. Ngòi bút tài hoa của Kim Lân đã cho người đọc thấy được diễn biến tâm lí chân thực, sinh động của Tràng.

Tràng hôm nay đã thực sự khác với Tràng hôm qua. Một cuộc hôn nhân đã khơi dậy biết bao nhiêu cảm xúc thầm kín bên trong, bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp chưa có điều kiện bộc lộ. Cảnh đời tối tăm, sự đói khát dường như đã tạm lùi để còn lại là niềm vui sướng miên man: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve dọc sống lưng”. Hạnh phúc đã thực sự làm thay đổi mọi thứ.

Về đến nhà, lúc đầu Tràng cảm thấy “ngượng nghịu” rồi cứ thế “đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ”. Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua. Tràng vẫn sung sướng tột bực, sung sướng đến mức không dám tin là mình đã có vợ – lại có vợ trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le như thế này: “hắn vẫn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Trong lúc đợi bà cụ Tứ về, Tràng nôn nóng sốt ruột, cứ đi đi lại lại. Chưa bao giờ hắn lại thấy nôn nóng như thế. Phải chăng Tràng nóng lòng thông báo tin vui này cùng mẹ, nóng lòng khoe cái hạnh phúc đơn sơ giản dị này cho những người thương yêu? Khi mẹ về, hắn mừng rỡ, rối rít như trẻ con. Anh không phải là người vô tư, nông cạn mà vô cùng sâu sắc và hiểu đời. Tràng đã ý thức được việc lấy vợ là hệ trọng cả đời, ý thức được sự thay đổi tinh thần của mình. Đây là khoảnh khắc thiêng liêng mà trong hoàn cảnh đói kém đương thời, không phải ai cũng có được.

Sáng hôm sau, cảm nhận đầu tiên của Tràng là: “Trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Tràng cảm động khi thấy hình ảnh mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa, cảm động nghe tiếng chổi sàn sạt trên sân. Sự yêu thương nảy nở từ bên trong: “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng”. Tràng bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa của sự sống, suy nghĩ về cuộc đời ở tương lai. Khi nghe tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên dữ dội, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi. Tràng nghĩ đến cảnh “những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp” để cướp kho thóc của Nhật và “đằng trước là lá cờ đỏ”.

Xây dựng nhân vật Tràng, Kim Lân đã cho người đọc thấy được tài miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Lúc này đây, Tràng không còn là nhân vật khô cứng trên trang giấy nữa mà như một con người thật hiển hiện trước mắt người đọc. Đặt nhân vật trong một hoàn cảnh độc đáo cùng với ngôn ngữ phù hợp với tính cách, Kim Lân đã khắc họa thành công giá trị hiện thực cùng giá trị nhân đạo cao cả, thể hiện niềm tin yêu vào cuộc sống, về tương lai như lời ông từng nói về tác phẩm: “Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình người vẫn vượt lên trên tất cả. Có tình người là có cuộc sống. Có tình người là có hi vọng vào tương lai”.

Tóm lại, qua diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng, Kim Lân đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn và tính cánh nhân vật. Chính những con người như Tràng, như thị, như bà cụ Tứ đã làm cho ta thực sự yêu thương, khâm phục và kính trọng.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 5 mẫu phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.