Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác chi tiết nhất

Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác chi tiết nhất
Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác chi tiết nhất
4.8/5 - (15 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác trong tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Dàn ý phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

I. Mở bài

Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm: Lưu Quang Vũ là được mệnh danh là “cây bút vàng” của sân khấu Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được viết năm 1981, và là vở kịch nói đầu tiên mang ra nước ngoài công diễn. Bằng ngòi bút giàu chất triết lý, Lưu Quang Vũ đã thổi vào tích xưa một luồng gió mới. Kịch bản của ông không đơn thuần là chuyện vay mượn xác – tái sinh. Đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, qua mâu thuẫn giữa tâm hồn (thanh cao) và thể xác (phàm tục), vở kịch mang chứa những triết lý nhân sinh.

II. Thân bài

  1. Hồn Trương Ba

– Tâm thế của Hồn Trương Ba trong cuộc đối thoại: Lời thoại của Hồn Trương Ba ở đầu đoạn trích đã bộc lộ rõ tâm trạng vừa chán ngán, vừa sợ hãi cái thân xác mà ông đang vay mượn: “Tôi chán cái chỗ không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta muốn rời xa mi ngay tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỏ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!”.

=> Ước muốn của Hồn Trương Ba đã được thỏa nguyện. Sự phân tách và đối đầu giữa Hồn Trương Ba và Xác hàng thịt trước hết có thể hiểu là sự tranh cãi quyết liệt giữa một bên là Hồn Trương Ba (tượng trưng cho sự cao khiết, cho đạo đức, cho “phần Người” chân chính của mỗi con người) và một bên là Xác hàng thịt (tượng trưng cho bản năng, cho những ham muốn trần tục, là “phần Con” tầm thường ẩn nấp trong mỗi con người).

– Nội dung lời nói của Hồn Trương Ba:

+ Hồn có cơ hội bày tỏ tâm trạng uất ức, tức giận vì phải chung sống với Xác thô lỗ, tầm thường, dung tục. Hồn cũng không che giấu sự coi thường, khinh bỉ đối với xác, “kẻ âm u đui mù, không cảm xúc, không tư tưởng, không có tiếng nói”…; kẻ có nhu cầu vật chất thấp kém gần với con thú (thèm ăn ngon, thèm rượu thịt), sức mạnh thể chất gắn với sự tàn bạo…

+ Hồn cũng phủ nhận sự lệ thuộc của linh hồn vào xác thịt, khẳng định linh hồn có đời sống riêng: “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”…

=> Hồn Trương Ba sẽ phần nào giải tỏa được nỗi đau khổ bị dồn nén bấy lâu khi có cơ hội cất lên tiếng nói của mình.

  1. Xác hàng thịt

– Tâm thế của Xác hàng thịt trong cuộc đối thoại: Xác không bị động, nhún nhường. Ngược lại, Xác có thái độ khi thì ngạo nghễ, thách thức, khi thì ranh mãnh với những câu hỏi mang tính phản biện đầy bỡn cợt, châm chọc.

– Nội dung lời nói của Xác hàng thịt :

+ Xác âm u, đui mù nhưng có thể lấn át, sai khiến, thậm chí đồng hóa linh hồn cao khiết. Hồn không thể còn nguyên vẹn, trong sạch, khi phải chung sống và chiều theo những đòi hỏi của xác thịt dung tục (Hồn Trương Ba đã có cảm giác xao xuyến, khao khat khi đứng bên vợ hàng thịt đến nỗi chân tay run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại; đã có cảm xúc lâng lâng trước các món ăn mà ông cho là dung tục như tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi; đã sử dụng vũ lực mà ông cho là tàn bạo để tát thằng con toé máu mồm, máu mũi…). Rõ ràng, Hồn Trương Ba đã nhiễm những thói hư tật xấu của Xác hàng thịt .

=> Như vậy, Hồn Trương Ba đau đớn, dằn vặt, khao khát khẳng định mình vẫn là mình, nhưng cuối cùng phải thừa nhận rằng, mình đang sống nhờ thể xác kẻ khác và bị thể xác đó điều khiển, dẫn đến sự tha hoá không có cách gì chuyển biến được. Bi kịch của Hồn Trương Ba, vì thế, không những không được giải tỏa, mà còn trở nên đau đớn, xót xa hơn.

+  Trước đó, Hồn Trương Ba cho mình là cao khiết và coi thường, khinh bỉ Xác hàng thịt, thậm chí uất ức vì phải chung sống với Xác hàng thịt. Nhưng Xác hàng thịt đã chỉ ra thói hư tật xấu trong Hồn Trương Ba “Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông cứ vin vào cớ linh hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn để rồi bỏ bê thân xác mãi khổ sở nhếch nhác” và “làm xong điều xấu gì, ông cứ việc đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết: cần phải để cho tính tự ái của ông được ve vuốt. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện” . Đồng thời, Xác hàng thịt đã bày tỏ những bất công mà mình phải gánh chịu khi sống với linh Hồn Trương Ba: bị xúc phạm, bị bỏ bê nhếch nhác, khổ sở…vì những lý do không chính đáng.

=> Những lý lẽ và dẫn chứng mà Xác hàng thịt đưa ra khiến Hồn Trương Ba không thể phủ nhận được.

  1. Ý nghĩa

Cuộc đối thoại căng thẳng, quyết liệt giữa hồn và xác mang ý nghĩa sâu sắc.

– Trước hết, ở góc độ Hồn Trương Ba, ta nhận ra khát vọng sống cao thượng, thánh thiện của con người, khi bị những cám dỗ vật chất phàm tục làm cho tha hoá, biến chất.

– Ở góc độ Xác hàng thịt, ta nhận ra những nếp nghĩ sai lầm của con người: Đó là thói quen đề cao tinh thần mà coi thường vật chất, tự ru ngủ mình trong những giấc mơ cao thượng mà quên đi rằng, cần phải thiết lập mối quan hệ hoà hợp, gắn bó giữa chúng.

=> Như vậy, Hồn và Xác là những ẩn dụ nghệ thuật lớn. Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác là một tình huống kịch đặc sắc, tô đậm bi kịch “bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo”, sự thiếu hài hòa, không thống nhất trên các phương diện: linh hồn và thể xác, vật chất và tinh thần, nội dung và hình thức, bản năng và lý tưởng, cao cả và tầm thường… ở mỗi con người.

– Kết thúc cuộc đối thoại, Hồn Trương Ba dằn vặt, đau đớn, hoang mang, tuyệt vọng trở về cuộc sống trái với chính mình. Chi tiết “Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào Xác hàng thịt, ngồi lặng lẽ bên chõng” diễn tả cô đọng tính chất căng thẳng của xung đột kịch: mâu thuẫn không những không được giải quyết mà còn được đẩy lên đến một mức cao hơn.

III. Kết bài

Khái quát lại nội dung phân tích: “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở bi kịch đặc sắc trên nhiều phương diện. Sự kết hợp giữa nội dung hiện thực với yếu tố kì ảo, nghệ thuật tạo tình huống và dẫn dắt xung đột kịch, sắc thái đa dạng của lời thoại khiến cho tâm lí nhân vật được phơi trải, sát với đặc trưng thể loại, ngôn ngữ kịch giàu chất triết lí, giọng điệu tranh biện độc đáo.

Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

Số 1: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một câu chuyện không mấy tiêu biểu cho thi pháp cổ tích nếu đặt bên cạnh những Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh… ta đã đọc.Tuy nhiên, nhìn từ góc nhìn tự sự, người ta cũng dễ dàng nhận diện những yếu tố cơ bản tạo nên sắc thái cổ tích cho tác phẩm: Đó là nhân vật, tình huống, diễn biến cốt truyện, phép màu mang đến may mắn cho con người… Và mặc dù câu chuyện dân gian này còn phảng phất dấu ấn sáng tác bởi các cụ đồ Nho, nhân vật vua cờ Đế Thích vẫn có thể được coi là một kiểu “Bụt”, “Tiên” giáng thế để cứu vớt, bù đắp cho những mất mát, đau thương cho trần giới. Và với một kiểu nhân vật của mô-típ những con người hiền lành, Trương Ba vốn là một người làm vườn, một kỳ thủ nhưng lại lâm vào tình huống éo le và kì lạ: đang sống hạnh phúc với gia đình bỗng dưng chết oan rồi được sống lại nhưng phải sống nhờ một thân xác khác, xác người hàng thịt với một bản tính hoàn toàn đối lập. Sự chắp vá này mở đầu cho quá trình xung đột gay gắt giữa hồn và xác.

Trương Ba vô cùng đau khổ vì linh hồn thanh cao của ông phải sống lệ thuộc vào cái xác mà ông xem là âm u đui mù, không có tư tưởng, không có cảm xúc. Sự lệ thuộc này làm cho ông dần dần trở thành con người khác, đánh mất những phẩm chất vốn có. Sự thay đổi đó đúng như Huấn Cao đã từng nói với quản Ngục khi cái tốt cái đẹp khải tồn tại sống cùng với cái xấu. “… khó giữ thiên lương cho lành vững, rồi cũng đến nhem nhuốc cả đời lương thiện”

Trọng tâm của lớp kịch là cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác Trương Ba. Do đó lời thoại ở đây vừa có thể coi là độc thoại vừa có thể coi là đối thoại. Nó là một lời thoại đặc biệt, vừa chứa đựng mâu thuẫn vừa mang tính hành động, thúc đẩy tình huống kịch phát triển đến mức cao nhất. Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác là đỉnh cao tư tưởng triết lý của vở kịch. Cuộc đối thoại đó cùng với thái độ và những lời đối thoại của những người ruột thịt thân yêu nhất đã dẫn đến hành động quyết liệt – kiên quyết chối từ một cuộc sống chắp vá hồn nọ xác kia của Trương Ba.

Lưu Quang Vũ đã để cho nhân vật của mình chọn một con đường tưởng như tiêu cực nhưng hết sức cần thiết và đúng đắn: Rời bỏ cõi đời này để được đúng là mình, để giữ trong ký ức những người thân kỷ niệm tốt đẹp về mình. Có nhà nghiên cứu cho rằng “cuộc vật lộn giữa “Hồn Trương Ba” và “Da hàng thịt” thực chất là cuộc giao tranh giữa hai linh hồn trong một thân xác”.

Sau mấy tháng sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với những người thân trong gia đình và tự xung đột với bản thân mình. Hồn ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy trào ra thành dòng độc thoại đầy nước mắt: “không, không, tôi không muốn sống như thế này nữa. Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi. Ta bắt đầu sợ mi, muốn rời xa cái thân thể kềnh càng thô lỗ ngay tức khắc”.

Bước vào đến cảnh 7 hình ảnh Trương Ba hiện lên của một con người đang ngồi “ôm đầu” đã cho người đọc thấy hình ảnh của một con người cô độc hiện lên trước màn ảnh đầy sự đau khổ xâm lấn lại kết hợp cùng lúc của 3 phủ định từ liên tiếp “không…không…không” bằng một giọng điệu dứt khoát một lời độc thoại đầy khẩn thiết khẳng định việc muốn rời bỏ thân xác anh hàng thịt. “Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi” đầy chán nản, ngán ngẩm Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ. Lời thoại của Hồn là các câu cảm thán, ngắn, lời văn dồn dập, hối thúc.

Thể hiện tâm trạng căng thẳng, bức bách đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng cực, không thể chịu đựng dày vò hơn được nữa nên vụt đứng dậy. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái tuyệt vọng Nghe Hồn tự độc thoại nói, và đang tự dày vò mình Xác lên tiếng ngay: “Vô ích” chính xác đã chủ động khiêu chiến chiến nhằm dập tắt hoàn toàn khát khao của Trương Ba: “ông không tách ra khỏi tôi được đâu”.

Đang trong sự bế tắc vô vọng ấy Trương ba chợt nghe thấy những lời nói từ xác chỉ biết đáp lại bằng chính sự kinh ngạc vốn có của mình: “A, mày cũng biết nói kia à?” Trương Ba ngạc nhiên, trả lời lại bằng cách đưa ra một câu hỏi sau đó liên tục phản đối xác giọng vẫn còn khinh bỉ. Cách xưng hô mày ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, miệt thị đối với xác “Vô lý! Mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù..” Ban đầu buông ra những lời nói mạt xác.

Thấy Hồn vừa phủ định vừa khinh miệt mình, Xác khẳng định lại vị trí và tác động, suy nghĩ của mình: “Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến”,và “sức mạnh ghê gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”. Hồn tiếp tục phủ định tiếng nói của Xác: “Mày chỉ là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”.

Nghe thấy Hồn đánh giá mình thấp kém, Xác hỏi lại đầy thách thức, giọng thay đổi linh hoạt đầy châm chọc “Có thật thế không?”. Câu hỏi của Xác khiến cho Hồn chùn bước và đuối lý, buộc phải dần nhượng bộ, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác: “nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…”

Lại bị Hồn tiếp tục khinh miệt, Xác nhận thức sự lợi lí của mình, nên chuyển sang châm chọc, mỉa mai: “Tất nhiên, tất nhiên.”đầy mỉa mai:” Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại… “Đêm hôm đó, suýt nữa thì…” Đó là cảm giác “xao xuyến” “lâng lâng cảm xúc” mà trước đây Hồn cho là “phàm”. Với bằng chứng cụ thể, Hồn xấu hổ và kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở mày”. Xác vừa khẳng định vừa hỏi xoáy lại để tấn công tiếp: “Thì tôi có ghen đâu! Ai lại đi ghen với chính thân thể mình…nhưng ta nên thành thực: Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Để thỏa mãn tôi, chẳng nhẽ ông không tham dự chút đỉnh gì?” Như vậy Xác dẫn dắt Hồn vào sự thật không thể phủ nhận – Hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của thân xác.

Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến Hồn càng thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện.Lí lẽ của Xác khơi trúng điểm đen mà lâu nay vì trú ngụ trong Xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba trong khiết đã bị hóa màu. Hồn đuối lý bất lực bèn la to, ra lệnh áp chế thể xác để che giấu sự lúng túng, bối rối, do dự, yếu thế của mình “Ta…ta… đã bảo là mày im đi!” Lời thoại của Hồn ngập ngừng lí lẽ như bị hụt hơi. Hồn bị dồn vào chân tường để buộc phải công nhận sự chế ngự của Xác. Xác khẳng định một lần nữa: “Hai ta đã hòa làm một rồi”.

Xác nhấn vào sự thật đau đớn mà Hồn đang muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy tình huống kịch lên cao trào. Hồn chỉ còn Cố gắng biện minh chống chế cứu vãn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”. Xác vẫn không buông tha, tấn công bằng sự mỉa mai “Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”. Trước sự thực không sao chối cãi, Hồn phản ứng tiêu cự bằng cách “bịt tai lại”. Đó là nỗ lực chối bỏ trong tuyệt vọng hoàn toàn bế tắc. Xác tiếp tục dùng lời lẽ hiểm hóc sắc lẹm như dao mổ, phanh trần nỗi đau đang tấy mủ trong Hồn. Đó là nhờ sức mạnh của Xác mà Hồn có thể: “tát thằng con ông tóe máu mồm máu mũi”.

Mặc dù cố bịt tai, nhưng khi nghe Xác nói như vậy Hồn phải lên tiếng chối bỏ “sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo”. Xác khôn ngoan biết là lỡ lời nên biện minh cho mình bằng những lí lẽ: “là hoàn cảnh” “cũng đáng được quý trọng”, không có tội. Hồn chỉ còn phản ứng yếu ớt: “Nhưng…Nhưng”Nhận biết Hồn bị dồn vào thế bí, Xác đưa ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống, giọng ve vuốt mơn trớn xác chủ động đưa trò chơi tâm hồn: “Những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi.

Làm xong điều xấu ông cứ việc đổ tội cho tôi, để cho ông được thanh thản …miễn là…ông vẫn làm đủ mọi việc thỏa mãn những thèm khát của tôi: Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách thông cảm với “những trò chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn “làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm khát” của Xác. Nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác, Hồn than như là tuyệt vọng, bất lực: Trời! đã là một sự chấp nhận số phận trong nỗi đau đớn khôn cùng muốn tìm đường thoát nhưng hoàn toàn vô vọng.

Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu.

Quan cuộc đối thoại giữa hồn và xác, xác rõ ràng hiện lên với ưu thế của kẻ nắm giữ sự thắng thế, chứng tỏ được uy quyền chi phối khủng khiếp của nó với linh hồn, nó cũng cho thấy sự ngộ nhận về chính mình khi hồn cho rằng “Ta vẫn có một đời sống riêng trong sạch, nguyên vặn, thẳng thắn…” Linh hồn và thể xác vốn không tách rời được nhau, cuộc tranh đấu giữ hồn và xác là cuộc đấu tranh giữ cao cả và dục vọng, thấp hèn; giữa phần con và phần người.

Đó chính là lời cảnh cáo sâu xa của Lưu Quang Vũ: Khi con người sống quá lâu trong môi trường dung tục ắt sẽ bị cái dung tục chi phối, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì đừng đổ tội cho thân xác. Không thể tự an ủi mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn, do đó phải bảo vệ, hoàn thiện nhân cách con người đó là một vấn đề lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội. Đố sẽ là cuộc đấu tranh dai dẳng khi mà con người vẫn còn tồn tại trong xã hội này.

Nếu Lưu Quang Vũ cho Trương Ba kết thúc cuộc đời mình trong sự bế tắc ở đó ta sẽ liên tưởng đến những cái kết trong thời đại của văn học Hiện thực phê phán mà Nam Cao đã viết lên:”Mồn hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng không nói ra tiếng “, hay cái cảnh Chị Dậu chạy ra ngoài trời “tối đen như mực như cái tiền đồ của chị”..vv…. Nhưng bước sang một thời đại mới, và vốn dĩ Lưu Quang Vũ cũng không thuộc lớp nhà văn của Hiện thực phê phán của thời đại mặt trận dân chủ Hiện thực phê phán 30 – 45…… Nên cuộc đời Trương Ba tiếp tục được vẽ ra:

Không dừng lại chỉ là đoạn đối thoại ấy bi kịch nối tiếp bi kịch. Bi kịch thứ hai của Hồn Trương Ba là bi kịch không được người thân thừa nhân. Trương Ba không còn là mình nữa nên bị người thân xa lánh đẩy lên cao nỗi đau khổ vốn có của Trương Ba. Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của Hồn Trương Ba được đẩy lên khi đối thoại với những người thân:

Vừa dứt cuộc đối thoại, Hồn Trương Ba đang ngồi lặng lẽ bên cái chõng, thì vợ bước vào hỏi: “Cái Gái chưa về hả ông?” Hồn Trương Ba thẫn thờ trả lời: “Chưa” Vợ Trương Ba tiếp tục giải thích: “Nó sang nhà cu Tị từ sớm. Cu Tị bị ốm nặng”. Hồn Trương Ba không giấu sự ngạc nhiên nói: “Ốm Nặng? Vậy mà tôi không biết”. Hai lời thoại đầu chỉ mang tính giao tiếp thông thường chẳng một dấu hiện gì mang đến cơn sóng gió tiếp theo cho Trương Ba lúc này thì từ lời thoại thứ ba: “Ông bây giờ con biết đến ai nữa Cu Tị ốm thập tử nhất sinh… Khổ thằng bé ngoan là thế…Cái thân tôi thì sao trời lại không bắt đi cho rảnh “đã là sự thay đổi hoàn toàn cảm xúc của cái hờn trách, giận dỗi và càng chua xót của cái tủi thân tủi phận mà bất lực. Không để vợ nói tiếp nữa, Hồn Trương Ba cắt ngang: Sao bà lại nói thế. Nghe chồng nói, người vợ đi thẳng vào vấn đề mà bà đang ấm ức: “Tôi nói thật đấy …Ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kĩ …Có lẽ tôi phải đi”.

Hồn Trương Ba hỏi lại: “Đi đâu?”. Người vợ tiếp tục nói thực lòng với bao hờn dỗi: “Chưa biết! Đi cấy thuê làm mướn…đi biệt để ông được thảnh thơi…với cô vợ người hàng thịt.. Còn hơn là thế này?”. Nghe vợ nói, Hồn Trương Ba chỉ còn biết kêu gào: “Bà! Sao lại đến nông nỗi này?” Vợ: “Chỉ tại bây giờ.. ông đâu còn là ông Trương Ba nữa….Thằng Cả đã quyết định bán khu vườn để có tiền mở thêm vốn liếng cửa hàng thịt. Hồn Trương Ba quá ngạc nhiên nói: “Thật sao? Không được!”. Nghe chồng phản đối bà vợ: “Ông bảo không được nhưng tôi biết sự thể sẽ dẫn đến như vậy. Ông sẽ đành ưng chịu như vậy” Người vợ của Trương Ba dù rất mực yêu thương chồng, giàu lòng vị tha nhưng cuối cùng vẫn rơi vào sự bế tắc.

Những dấu ba chấm kết hợp với câu cảm thán và các từ rưng rưng …khóc… diễn tả đầy đủ sự buồn bã, bất lực. Trong cuộc đối thoại với vợ Trương Ba chỉ sử dụng câu ngắn, câu hỏi liên tiếp cùng với đó là các câu cảm thán đã cho thấy sự thảng thốt, ngỡ ngãng tê sót của ông. Cuối đoạn hội thoại với vợ tiếng gọi “Bà!” nấc lên uất nghẹn bởi đó là sự bất lực, đau khổ nghẹn ngào không thể thốt ra thành lời. Kết thúc đợt thoại này Hồn Trương Ba chỉ còn biết ngồi xuống tay ôm đầu.

Khi Hồn Trương Ba ngẩng lên thì thấy Gái đứng trước mặt, Hồn Trương Ba kêu đứa cháu như là cầu cứu: “Gái, cháu!” Đó đã không còn chỉ là lời gọi thông thường nữa mà là tiếng kêu của một trái tim được phát ra từ miệng khát khao có một điểm tựa, sự đồng cảm cầu cứu.

Có lẽ lúc ấy Trương ba nhưỡng tưởng đứa cháu gái bé bỏng sẻ xà vào lòng thì trái lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội: Nó lùi lại nói đã tạo nên một khoảng cách không chỉ về mặt không gian mà còn cả về tâm hồn giữ ông và cháu sau đó lại nói: “Tôi không phải là cháu của ông”. Câu nói như là gáo nước lạnh phũ phàng tạt thẳng vào mặt Hồn Trương Ba. Nhưng Hồn Trương Ba vẫn giữ bình tĩnh dịu giọng nhẫn nhục giải thích, khẳng định: “Ông đúng là ông nội cháu. Nếu ông nội tôi hiện về được sẽ bóp cổ ông”.

Hồn Trương Ba vẫn cố ra sức thuyết phục bằng những chứng cứ mặc cho sự đe dọa từ đứa cháu gái: “Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn …chỉ có ông nội cháu mới biết quý cây như thế” Cố giải thích cho đứa cháu giải thích thì Trương Ba càng về sau giọng nói càng ngập ngừng ; những dấu ba chấm xuất hiện liên tục đã là sự ngập ngừng bế tắc không giải thích được.Tâm hồn tuổi thơ vốn trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục nên không chấp nhận người ông trong thể xác anh hàng thịt thô lỗ. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân.

Chính vì quá yêu thương, tôn thơ thì giờ đây nó không thể chấp nhận, cũng không thể nào mở lòng mình đớn nhận con người trước mặt mình cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã khiến cho cái gái không buông tha, tiếp tục kể tội “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự kết tội, ruồng bỏ xua đuổi người thân yêu: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”.

Như vậy cái Gái là người yêu thương gắn bó với ông hết mực. Ông chết, đêm nào cũng khóc, nâng niu từng chút kỉ niệm của ông. Bây giờ lại phản ứng dữ dội. Lời lẽ tàn nhẫn, phũ phàng. Chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba. Những dấu chấm than liên tiếp với giọt nước mắt vừa khóc vừa chạy Phản ứng quyết liệt của một đứa trẻ vốn tâm hồn trẻ thơ trong trẻo, chỉ có hai màu sáng tối, kiên quyết không chấp nhận cái xấu, cái ác đã khiến Hồn Trương Ba run rẩy, tự nhìn lại mình một lần nữa. Những lời nói của đứa cháu nhỏ, thêm một lần nữa xoáy khoét vào nỗi đau sâu thẳm của ông, để ông cảm nhận thấm thía bi kịch bị chính những người thân yêu chối bỏ.

Chị con dâu ở trong nhà bước ra nghe thấy những lời cuối cùng của Gái. Một mặt chị gọi theo con gái: “Gái, quay lại đây, Gái”. Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt Một mặt chị quay sang nói với Hồn Trương Ba: “Thầy, thầy đừng giận con trẻ …Chỉ tại nó nghĩ thầy không phải là ông nội nó, con dỗ dành thế nào nó cũng không nghe (rưng rưng) khổ thân thầy”. Hồn Trương Ba cảm thấy ấm lòng: “Đến lúc này, cả nhà chỉ một mình con vẫn thương thầy như xưa”.

Người con dâu khẳng định thêm: “Hơn xưa nữa…nhưng thầy ơi con sợ lắm…mỗi ngày thầy một đổi khác dần… có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…làm sao giữ được thầy ở lại hiền hậu vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”? Hồn Trương Ba lại thất vọng buồn rầu nói: “Giờ thì con cũng…”? Người đâu vội chữa lại nói: “Thầy đừng giận nếu con đã nói điều gì không phải”. “Không ta không giận. Cảm ơn con đã nói thật. Bây giờ thì đi đi, cho ta được ngồi yên một lát”.

Trương Ba như được an ủi phần nào, bởi nhận ra cái Gái rất thương ông, ông nghĩ cô con dâu sẽ là điểm tựa để sẻ chia tâm sự. Nhưng trước những lời nói vừa yêu thương, vừa thẳng thắn của cô con dâu Trương Ba lặng ngắt như đá tảng đau khổ đến cùng cực đầy sợ hãi. Có lẽ lúc ấy Trương Ba giống như người đứng trước một cái vực thẳm sâu hoắm khắc khoải cần một ai đó níu giữ nhưng kết quả vẫn là sự bế tắc đi vào vô vọng.

Tất cả những người ấy: người thì chua xót dằn dỗi, tủi thân (vợ), người hì tức tưởi xua đuổi (cháu); người thì lại thấu hiểu sẻ chia (con dâu) nhưng họ nhận ra và đau khổ trước sự thay đổi của Trương Ba. Tuy yêu quý, muốn níu giữ Trương Ba xưa tìm giải pháp để thoát khỏi hoàn cảnh nhưng trớ trêu thay đều bất lực. Đó là bi kịch của Hồn Trương Ba càng bị đẩy lên tới điểm đỉnh.

Những người thân thiết nhất cũng không chấp nhận nỗi tình trạng hai mảnh hồn, người bất nhất của chồng, cha, ông mình. Không còn gia đình nền tảng của một sự bấu víu hy vọng vào mặt đất không có ý nghĩa và dường như cũng chẳng còn tồn tại. Trương Ba hiểu mình đã mất tất cả rơi vào trạng thái hoàn toàn cô độc. Đó là bi kịch trong bi kịch!

Màn đối thoại giữa Trương Ba với người thân Không phải ngẫu nhiên, tác giả không đưa anh con trai thực dụng của Trương Ba vào cuộc đối thoại của Trương Ba với những người thân là một hữu ý bởi người con trai của Trương Ba đã bị tha hóa nên có lẽ cái tình yêu dành cho chỉ ít nhiều cũng tha hóa. Các cuộc đối thoại với vợ con dâu và cháu gái càng làm cho Trương Ba đau khổ hơn. Ông hiểu tất những gì mình đã, đang gây ra và có lẽ nếu tồn tại tiếp tục bi kịch ấy sẽ còn tiếp diễn và thiêu chiều hướng tiêu cực hơn nữa. Trương Ba sống làm gì khi mà điều hồn còn sống là để mang lại hạnh phúc cho người thân hoàn toàn trái ngược lại, vô nghĩa lý.

Những câu hỏi liên tiếp “lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?….chẳng còn cách nào khác” đó thật sự là cuộn xoáy dữ dội đang giằng xé, cuộn xoáy trong lòng Trương Ba để rồi dẫn đến một quyết định từ bỏ thân xác như một mong muốn được giải thoát không chỉ cho mình mà cả người thân. Hồn Trương Ba dứt khoát thắp nhang khấn mời tiên Đế Thích để từ giã sự sống ấy.

Cách lựa chọn cách sống, một cách phục sinh tâm hồn như đã mà dần, tan biến dân ấy mở ra cho Trương Ba những thử thách mới, lựa chọn mới trong cuộc đối thoại với Đế Thích. Nhưng đó chính là cách Lưu Quang Vũ tô đậm lên được vẻ đẹp nhân cách vẫn còn sóng ngời trong mảnh hồn tưởng như đã mờ nhạt ấy. Để rồi Trương Ba đã sống đúng phần người theo nghĩa viết viết hoa của nó.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 2: Phân tích đoạn đối thoại giữa hồn và xác

Hồn Trương Ba – Da hàng thịt là 1 trong những vở kịch nổi danh vào những 5 80 của thế kỷ 20. Cha đẻ của tác phẩm là nhà văn Lưu Quang Vũ. Ông được mệnh danh là cây bút vàng trong làng sàn diễn Việt Nam thời ấy. Tác phẩm Hồn Trương Ba- Da Hàng Thịt là 1 trong những tác phẩm tuyệt vời để đời, ngay sau lúc công chiếu đã được nhận hàng trăm lời khen ngợi về nội dung, ý tứ sâu xa của tác phẩm.

Bằng ngòi bút giàu chất triết lí, ông đã thổi vào tích xưa 1 luồng gió mới. Tác phẩm trình bày lẽ sống của con người qua việc “ bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo”, con người lúc chẳng thể sống là chính mình thì chính là thảm kịch đớn đau nhất của con người. Qua Phân tích cuộc hội thoại giữa hồn trương 3 và xác hàng thịt chúng ta cũng cảm thấy, tá giả cũng phê phán lối sống giả tạo, sống nhờ và không hề là chính mình.

Trương Ba là 1 người con trai khoảng 50 tuổi, tính nết thẳng thắn, thật thà và rất giỏi đánh cờ. Tuy nhiên, vì sự tác trách của Nam Tào và Bắc Đẩu nhưng ông bị chết oan. Do thương cho kẻ hiền lại chết oan cùng với việc giỏi đánh cờ, vị Tiên cờ Đế Thích đã cho phép hồn Trương Ba được nhập vào xác ông hàng thịt vừa chết.Vậy là giờ đây, Trương Ba vẫn sống nhưng mà lại sống trong cơ thể của 1 người khác. Từ đây xảy ra rất nhiều tranh chấp trong tâm hồn và thân xác. Tiên cờ Đế Thích nghĩ rằng đây là cách khắc phục tốt nhất, vẫn để cho 1 người giỏi và hiền được sống dưới thế gian, nhưng mà ngài ko ngờ rằng, nó lại chính là thảm kịch của Trương Ba ko được sống là chính mình.

Đáng buồn thay, trong chính gia đình mình ông lại bị người nhà chê trách, xa lánh, khinh thường. Ông bị dồn vào sự âu sầu nhất, tự mình nhận thấy sự tha hóa, đàn ông thì hư hỏng chẳng thể khuyên bảo, cường hào thì nhũng nhiễu… Chừng như Trương Ba chẳng thể chịu đựng được nữa, ông quyết định vùng lên và tranh đấu với thân xác thế tục – thân xác của người bán thịt. Ông chẳng thể sống chung với xác của ông hàng thịt, ông tác ra khỏi thể xác để bàn cãi.

Cuộc bàn cãi diễn ra cực kỳ tàn khốc, cam go. 1 bên là thân xác ông hàng thịt với bụi bặm, cuộc đời phong trần hay nói đúng hơn là phàm phu tục tử. Đã là người bán thịt thì khó người nào nhưng có thể thanh cao, nhẹ nhõm, nhàn hạ chơi cờ được. Họ còn được gọi là đồ thể nếu hành nghề mổ heo. Cho nên do vậy thể xác này cực kỳ thế tục nhưng mà nó cũng có những luận điểm cực kỳ sắc bén và ko chịu thua hồn Trương Ba. Nó tự vỗ ngực, tự tin nói rằng vai trò, địa điểm của xác rất quan trọng. Nhờ có thể xác nhưng vong hồn mới có nơi cư trú, mới cảm thu được mùi vị cuộc sống, mới có cảm giác lâng lâng hạnh phúc hay thừa hưởng những món ăn ngon ở đời.

Nhìn chung, thể xác chính nhập vai trò quan trọng nhất chẳng thể chối bỏ. Thân xác còn đưa ra các luận điểm cực kỳ sắc bén: “Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng cạnh vợ tôi, chân tay run rẩy, hơi thở hot nực, cổ nghẹn lại… Ban đêm ấy, suýt nữa thì… […] Chẳng lẽ ông ko xao xuyến chút gì ? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác ko làm hồn ông lâng lâng xúc cảm sao ? . Chứng tỏ, thể xác rất biết rõ địa điểm và lợi thế của mình. Nó là nơi tạo điều kiện cho vong hồn trình bày các nhu cầu, xúc cảm, hỉ nộ ái ố. Không có thể xác thì vong hồn sao có thể cảm thu được cuộc đời và sao có thể còn đó.

Tuy nhiên, Hồn Trương Ba ko chịu thua, ông phủ nhận vai trò thân xác nhưng khẳng định sự thanh cao của tâm hồn. Ông vốn là người có đời sống nhẹ nhõm, thanh thản, chơi cờ giỏi vì thế sống trong cơ thể thế tục ông cực kỳ giận dữ và bức bối. Ông cho rằng, thể xác chỉ là cái vỏ bên ngoài, ko có ý nghĩa gì, ko có tư tưởng, xúc cảm, hoặc nếu có cũng chỉ là cái xác nhưng con thú nào cũng có được. Ông rất đề cao tâm hồn. Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, ko có ý nghĩa gì hết, ko có tư tưởng, ko có xúc cảm {. .] Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ kém cỏi, nhưng bất kỳ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt; Ta vẫn có 1 đời sống riêng: nguyên lành, trong lành, ngay thẳng…

Cả 2 đều có những lý luận nhưng ko người nào chịu thua người nào làm cho cuộc bàn cãi khó có thể khắc phục toàn vẹn. Tuy nhiên, trước những lí lẽ gian trá, đê tiện của thân xác, chung cuộc vong hồn cũng phải chịu thua. Khi thân xác chế nhạo khinh thường vong hồn trước những nhu cầu thân xác và tranh đấu có những nhu cầu chính đáng của mình. Nó ve vuốt vong hồn Trương Ba hãy trở về sống hòa hợp. Chứng tỏ nó nhận thấy vai trò của nó rất quan trọng, phải còn đó thân xác thì mới là 1 thân thể đích thực. Về phía hồn Trương Ba, 1 mặt hậm hực trước những lí lẽ của xác hàng thịt, nhưng mà cũng rất bối rối lúng túng trước những luận điểm của xác hàng thịt và chẳng thể phản bác. Cuối cùng, hồn Trương Ba cũng phải bằng lòng quay về xác hàng thịt và sống trong nỗi khổ, thất vọng.

Cuộc đối thoại của Hồn Trương Ba và Da hàng thịt mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ. 1 bên đại diện cho khát vọng trong lành, khát vọng sống thanh cao, còn 1 bên là sự bình thường, dung tục. Nội dung cuộc hội thoại quay quanh vấn đề mang tính triết lí, trình bày khao khát sống thẳng thắn, trong lành, là ngôn ngữ từ tầm hồn, thực chất sâu thẳm của con người. Hồn Trương Ba và da hàng thịt chính là vấn đề trong 1 con người. Con người đều có 2 vấn đề ấy là khát vọng sống đẹp và sự dung tục.

Qua đây tác giả cũng cảnh báo: Khi con người phải sống trong sự dung tục, nếu ko tranh đấu mạnh bạo sẽ bị sự dung tục chiếm lĩnh và át đi những gì trong lành và đẹp tươi nhất bên trong con người. Cùng lúc cũng nhấn mạnh, tâm hồn và thân xác là 2 thể hợp nhất bên ngoài và bên trong. Thành ra, con người sống chỉ có ý nghĩa lúc là chính mình, lúc được dung hòa giữa nhu cầu vật chất và ý thức. Nếu chỉ chạy theo những dục vọng bình thường thì con người tự hạ thấp mình và sống lối sống dục vọng, bản năng. Vậy thì cuộc sống đâu có thể tăng trưởng được!

Có thể nói, Lưu Quang Vỹ đã xây dựng lên 1 tình tiết cực kỳ lạ mắt, thú vị và mang nhiều ý nghĩa sâu xa. Bên ngoài nhìn vào là cuộc hội thoại giữa 2 con người không giống nhau nhưng mà bản chất là cuộc hội thoại giữa vong hồn trong lành và thân xác dung tục. Qua đây ông cũng gửi gắm tư tưởng, con người cần là 1 sự hợp nhất, đề cao khát vọng sống thanh cao, sống đẹp, con người chỉ có thể là chính mình thì mới ko có thảm kịch cuộc đời. Dù là thân xác hay tâm hồn cũng đều rất quan trọng, ko có phần nào tốt hơn phần nào,bởi vì thiếu đi 1 trong 2 thứ đều khó có thể còn đó được. Do ấy, hãy sống dung hòa, sống thật tâm, sống tốt với nhau.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 3: Phân tích hội thoại giữa hồn và xác

Hồn Trương Ba – Da hàng thịt là một trong những vở kịch nổi tiếng vào những năm 80 của thế kỷ 20. Cha đẻ của tác phẩm là nhà văn Lưu Quang Vũ. Ông được mệnh danh là cây bút vàng trong làng sân khấu Việt Nam thời đó. Tác phẩm Hồn Trương Ba- Da Hàng Thịt là một trong những tác phẩm xuất sắc để đời, ngay sau khi công chiếu đã được nhận hàng trăm lời khen ngợi về nội dung, ý tứ sâu xa của tác phẩm. Bằng ngòi bút giàu chất triết lí, ông đã thổi vào tích xưa một luồng gió mới. Tác phẩm thể hiện lẽ sống của con người qua việc “ bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, con người khi không thể sống là chính mình thì chính là bi kịch đau đớn nhất của con người. Qua Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn trương ba và xác hàng thịt chúng ta cũng cảm thấy, tá giả cũng phê phán lối sống giả tạo, sống nhờ và không phải là chính mình.

Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn trương ba và xác hàng thịt – Trương Ba là một người đàn ông khoảng 50 tuổi, tính tình ngay thẳng, trung thực và rất giỏi đánh cờ. Tuy nhiên, vì sự tác trách của Nam Tào và Bắc Đẩu mà ông bị chết oan. Do thương cho kẻ hiền lại chết oan cộng với việc giỏi đánh cờ, vị Tiên cờ Đế Thích đã cho phép hồn Trương Ba được nhập vào xác ông hàng thịt vừa chết.Vậy là giờ đây, Trương Ba vẫn sống nhưng lại sống trong thân thể của một người khác. Từ đây xảy ra rất nhiều mâu thuẫn trong tâm hồn và thể xác. Tiên cờ Đế Thích nghĩ rằng đây là cách giải quyết tốt nhất, vẫn để cho một người giỏi và hiền được sống dưới nhân gian, nhưng ngài không ngờ rằng, nó lại chính là bi kịch của Trương Ba không được sống là chính mình.

Đáng buồn thay, trong chính gia đình mình ông lại bị người thân chê trách, xa lánh, coi thường. Ông bị dồn vào sự đau khổ nhất, tự mình nhận thấy sự tha hóa, con trai thì hư hỏng không thể dạy bảo, cường hào thì nhũng nhiễu… Dường như Trương Ba không thể chịu đựng được nữa, ông quyết định vùng lên và đấu tranh với thể xác phàm tục – thể xác của người bán thịt. Ông không thể sống chung với xác của ông hàng thịt, ông tác ra khỏi thân xác để tranh luận.

Cuộc tranh luận diễn ra vô cùng khốc liệt, gay cấn. Một bên là thể xác ông hàng thịt với bụi bặm, cuộc đời phong trần hay nói đúng hơn là phàm phu tục tử. Đã là người bán thịt thì khó ai mà có thể thanh cao, nhẹ nhàng, thảnh thơi chơi cờ được. Họ còn được gọi là đồ thể nếu hành nghề mổ heo. Bởi vậy cho nên thân xác này vô cùng phàm tục nhưng nó cung có những luận điểm vô cùng sắc bén và không chịu thua hồn Trương Ba. Nó tự vỗ  ngực, tự tin nói rằng vai trò, vị trí của xác rất quan trọng. Nhờ có thân xác mà linh hồn mới có nơi trú ngụ, mới cảm nhận được mùi vị cuộc sống, mới có cảm giác lâng lâng hạnh phúc hay được hưởng những món ăn ngon ở đời.

Nhìn chung, thân xác chính đóng vai trò quan trọng nhất không thể chối bỏ. Thân xác còn đưa ra các luận điểm vô cùng sắc bén: “ Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng nực, cổ nghẹn lại… Đêm hôm đó, suýt nữa thì… […] Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì ? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao ? . Chứng tỏ, thân xác rất biết rõ vị trí và lợi thế của mình. Nó là nơi giúp cho linh hồn thể hiện các nhu cầu, cảm xúc, hỉ nộ ái ố. Không có thân xác thì linh hồn sao có thể cảm nhận được cuộc đời và sao có thể tồn tại.

Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn trương ba và xác hàng thịt – Tuy nhiên, Hồn Trương Ba không chịu thua, ông phủ nhận vai trò thể xác mà khẳng định sự thanh cao của tâm hồn. Ông vốn là người có đời sống nhẹ nhàng, thanh thản, chơi cờ giỏi vì vậy sống trong thân thể phàm tục ông vô cùng tức giận và bức bối. Ông cho rằng, thân xác chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì, không có tư tưởng, cảm xúc, hoặc nếu có cũng chỉ là cái xác mà con thú nào cũng có được. Ông rất đề cao tâm hồn. Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc {. .] Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt; Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…

Cả hai đều có những lý luận mà không ai chịu thua ai khiến cho cuộc tranh luận khó có thể giải quyết trọn vẹn. Tuy nhiên, trước những lí lẽ giảo hoạt, ti tiện của thể xác, cuối cùng linh hồn cũng phải chịu thua. Khi thể xác chế giễu coi thường linh hồn trước những nhu cầu thể xác và đáu tranh có những nhu cầu chính đáng của mình. Nó vuốt ve linh hồn Trương Ba hãy trở về sống hòa hợp. Chứng tỏ nó nhận thấy vai trò của nó rất quan trọng, phải tồn tại thể xác thì mới là một cơ thể thực sự. Về phía hồn Trương Ba, một mặt tức tối trước những lí lẽ của xác hàng thịt, nhưng cũng rất lúng túng bối rối trước những luận điểm của xác hàng thịt và không thể phản bác. Cuối cùng, hồn Trương Ba cũng phải chấp nhận trở lại xác hàng thịt và sống trong nỗi khổ, tuyệt vọng.

Cuộc hội thoại của Hồn Trương Ba và Da hàng thịt mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ. Một bên dại diện cho khát vọng trong sạch, khát vọng sống thanh cao, còn một bên là sự tầm thường, dung tục. Nội dung cuộc đối thoại xoay quanh vấn đề mang tính triết lí, thể hiện khát khao sống ngay thẳng, trong sạch, là tiếng nói từ tầm hồn, bản chất sâu thẳm của con người. Hồn Trương Ba và da hàng thịt chính là vấn đề trong một con người. Con người đều có hai vấn đề đó là khát vọng sống đẹp và sự dung tục.

Qua đây tác giả cũng cảnh báo: Khi con người phải sống trong sự dung tục, nếu không đấu tranh mạnh mẽ sẽ bị sự dung tục chiếm lĩnh và át đi những gì trong sạch và đẹp đẽ nhất bên trong con người. Đồng thời cũng nhấn mạnh, tâm hồn và thể xác là hai thể thống nhất bên ngoài và bên trong. Vì vậy, con người sống chỉ có ý nghĩa khi là chính mình, khi được dung hòa giữa nhu cầu vật chất và tinh thần. Nếu chỉ chạy theo những dục vọng tầm thương thì con người tự hạ thấp mình và sống lối sống dục vọng,b ản năng. Vậy thì cuộc sống đâu có thể phát triển được!

Có thể nói, Lưu Quang Vỹ đã xây dựng lên một cốt truyện vô cùng độc đáo, thú vị và mang nhiều ý nghĩa sâu xa. Bên ngoài nhìn vào là cuộc đối thoại giữa hai con người khác nhau nhưng thực chất là cuộc đối thoại giữa linh hồn trong sạch và thể xác dung tục. Qua đây ông cũng gửi gắm tư tưởng, con người cần là một sự thống nhất, đề cao khát vọng sống thanh cao, sống đẹp, con người chỉ có thể là chính mình thì mới không có bi kịch cuộc đời. Dù là thể xác hay tâm hồn cũng đều rất quan trọng, không có phần nào tốt hơn phần nào,bởi vì thiếu đi một trong hai thứ đều khó có thể tồn tại được. Do đó, hãy sống dung hòa, sống chân thành, sống tốt với nhau.

Số 4: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

“Con người sinh ra không hề để tan biến đi như 1 hạt cát vô danh. Họ sinh ra để in dấu lại trên mặt đất, in dấu lại trong trái tim mọi người” Nếu mỗi con người sinh ra để làm tròn phận sự đấy cho tới suốt cuộc đời thì Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) nhà biên kịch phệ của nền văn chương Việt Nam đã làm lên điều đấy bằng tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt “chỉ trong khoảng 1 thời kì ngắn ngủi của đời người từ 5 1981 tới 1983 đặc thù là với việc giải đáp cho câu thơ mình chừng như đã bỏ ngỏ “Có những khi tâm hồn tôi rách nát /… Tôi biết làm gì, tôi biết đi đâu?” qua việc xây dựng cuộc hội thoại của Hồn Trương Ba với xác và người nhà hình thành 1 xung đánh úp mang thước đo chuẩn mực của kịch nói Việt Nam sau này:

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là 1 câu chuyện ko mấy điển hình cho thi pháp cổ tích nếu đặt kế bên những Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh… ta đã đọc.Tuy nhiên, nhìn từ góc nhìn tự sự, người ta cũng dễ ợt nhận biết những nhân tố căn bản hình thành sắc thái cổ tích cho tác phẩm: Đấy là đối tượng, cảnh huống, diễn biến tình tiết, phép màu đem lại may mắn cho con người… Và mặc dầu câu chuyện dân gian này còn phảng phất dấu ấn sáng tác bởi các cụ đồ Nho, đối tượng vua cờ Đế Thích vẫn có thể được coi là 1 kiểu “Bụt”, “Tiên” giáng trần để cứu vớt, bù đắp cho những mất mát, đau thương cho nhân gian.

Và với 1 kiểu đối tượng của mô-típ những con người hiền từ, Trương Ba vốn là 1 người làm vườn, 1 kỳ thủ nhưng mà lại lâm vào cảnh huống trớ trêu và kì dị: đang sống hạnh phúc với gia đình tự dưng chết oan rồi được sống lại nhưng mà phải sống nhờ 1 thể xác khác, xác người hàng thịt với 1 bản tính hoàn toàn đối lập. Sự chắp vá này bắt đầu cho giai đoạn xung đột gay gắt giữa hồn và xác.

Trương Ba cực kỳ âu sầu vì vong hồn thanh cao của ông phải sống dựa dẫm vào cái xác nhưng ông xem là ảm đạm đui mù mù, ko có tư tưởng, ko có xúc cảm. Sự dựa dẫm này khiến cho ông dần dần biến thành con người khác, đánh mất những nhân phẩm vốn có. Sự chỉnh sửa ấy đúng như Huấn Cao đã từng nói với quản Ngục lúc cái tốt cái đẹp khải còn đó sống cộng với cái xấu. “… khó giữ thiên lương cho lành vững, rồi cũng tới tèm lem cả đời lương thiện”

Trọng tâm của lớp kịch là cuộc hội thoại giữa Hồn và Xác Trương Ba. Do ấy lời thoại ở đây vừa có thể coi là độc thoại vừa có thể coi là hội thoại. Nó là 1 lời thoại đặc thù, vừa chứa đựng tranh chấp vừa mang tính hành động, xúc tiến cảnh huống kịch tăng trưởng tới mức cao nhất. Cuộc hội thoại giữa Hồn và Xác là đỉnh cao tư tưởng triết lý của vở kịch. Cuộc hội thoại ấy cộng với thái độ và những lời hội thoại của những người cật ruột thân thương nhất đã dẫn tới hành động quyết liệt – cương quyết từ chối 1 cuộc sống chắp vá hồn nọ xác kia của Trương Ba.

Lưu Quang Vũ đã để cho đối tượng của mình chọn 1 trục đường tưởng như thụ động nhưng mà vô cùng cần phải có và đúng mực: Rời bỏ cõi đời này để được đúng là mình, để giữ trong ký ức những người nhà kỷ niệm tốt đẹp về mình. Có nhà nghiên cứu cho rằng “cuộc vật lộn giữa “Hồn Trương Ba” và “Da hàng thịt” bản chất là cuộc giao đấu giữa 2 vong hồn trong 1 thể xác”.

Sau mấy tháng sống bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo đối tượng Hồn Trương Ba càng ngày càng trở thành lạ lẫm với những người nhà trong gia đình và tự xung đột với bản thân mình. Hồn ngồi ôm đầu 1 hồi lâu rồi vụt đứng dậy trào ra thành dòng độc thoại đầy nước mắt: “ko, ko, tôi ko muốn sống như thế này nữa. Tôi chán cái chỗ ở không hề của tôi lắm rồi. Ta mở màn sợ mi, muốn rời xa cái cơ thể cồng kềnh thô tục ngay ngay lập tức”.

Bước vào tới cảnh 7 hình ảnh Trương Ba hiện lên của 1 con người đang ngồi “ôm đầu” đã cho người đọc thấy hình ảnh của 1 con người cô độc hiện lên trước màn ảnh đầy sự âu sầu lấn chiếm lại liên kết đồng thời của 3 phủ định từ liên tục “ko…ko…ko” bằng 1 giọng điệu dứt khoát 1 lời độc thoại đầy tha thiết khẳng định việc muốn rời bỏ thể xác anh hàng thịt. “Tôi chán cái chỗ ở không hề của tôi lắm rồi” đầy chán nản, chán ngán Hồn Trương Ba đang ở trong tâm cảnh cực kỳ bức bối, âu sầu. Lời thoại của Hồn là các câu cảm thán, ngắn, lời văn dập dồn, thúc giục.

Thể hiện tâm cảnh căng thẳng, bức bách âu sầu, dằn vặt, cùng quẫn tới cơ cực, chẳng thể chịu đựng dày vò hơn được nữa nên vụt đứng dậy. Hồn âu sầu bởi mình ko còn là mình nữa. Trương Ba hiện thời hậu đậu, thô tục, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng khi càng rơi vào tình trạng thất vọng Nghe Hồn tự độc thoại nói, và đang tự dày vò mình Xác lên tiếng ngay: “Vô dụng” xác thực đã chủ động khiêu chiến chiến nhằm dập tắt hoàn toàn khao khát của Trương Ba: “ông ko tách ra khỏi tôi được đâu”.

Đang trong sự tuyệt vọng tuyệt vọng đấy Trương 3 chợt nghe thấy những lời nói từ xác chỉ biết đáp lại bằng chính sự ngạc nhiên vốn có của mình: “A, mày cũng biết nói kia à?” Trương Ba kinh ngạc, giải đáp lại bằng cách đưa ra 1 câu hỏi sau ấy liên tiếp phản đối xác giọng vẫn còn khinh bỉ. Cách xưng hô mày ta trình bày rõ sự khinh bỉ, miệt thị đối với xác “Vô lý! Mày chẳng thể biết nói! Mày ko có ngôn ngữ, mày chỉ là xác thịt ảm đạm đui mù mù..” Ban đầu buông ra những lời nói mạt xác.

Thđấy Hồn vừa phủ định vừa khinh miệt mình, Xác khẳng định lại địa điểm và ảnh hưởng, nghĩ suy của mình: “Ông đã biết ngôn ngữ của tôi rồi, đã xoành xoạch bị ngôn ngữ đấy sai khiến”,và “sức mạnh gớm ghê, lấn lướt cả vong hồn cao khiết”. Hồn tiếp diễn phủ định ngôn ngữ của Xác: “Mày chỉ là vỏ hình thức, ko có ý nghĩa gì hết, ko có tư tưởng, ko có xúc cảm”.

Nghe thấy Hồn bình chọn mình kém cỏi, Xác hỏi lại đầy thử thách, giọng chỉnh sửa cởi mở đầy châm chọc “Có thật thế ko?”. Câu hỏi của Xác làm cho Hồn chùn bước và đuối lý, bắt buộc dần nhượng bộ, công nhận sự tác động của Xác: “nếu có, thì chỉ là những thứ kém cỏi, nhưng bất kỳ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…”

Lại bị Hồn tiếp diễn khinh miệt, Công nhận thức sự lợi lí của mình, nên chuyển sang châm chọc, mai mỉa: “Hẳn nhiên, đương nhiên.”đầy mai mỉa:” Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng kế bên vợ tôi, chân tay run rẩy, hơi thở hot rực, cổ nghẹn lại… “Ban đêm ấy, suýt nữa thì…” Đấy là cảm giác “xao xuyến” “lâng lâng xúc cảm” nhưng trước đây Hồn cho là “phàm”.

Với chứng cứ chi tiết, Hồn mắc cỡ và cương quyết phủ định: “là mày chứ, tay chân mày, hơi thở mày”. Xác vừa khẳng định vừa hỏi xoáy lại để tấn công tiếp: “Thì tôi có ghen tuông đâu! Ai lại đi ghen tuông với chính cơ thể mình…nhưng mà ta nên thành thực: Chẳng lẽ ông ko xao xuyến chút gì? Để thỏa mãn tôi, chẳng nhẽ ông ko tham gia chút ít gì?” Như vậy Xác dẫn dắt Hồn vào sự thực chẳng thể phủ nhận – Hồn nhiều ít đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của thể xác. Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thực đấy khiến Hồn càng thấy mắc cỡ, cảm thấy mình đê tiện.

Lí lẽ của Xác khơi trúng điểm đen nhưng bấy lâu vì cư trú trong Xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba trong khiết đã bị hóa màu. Hồn đuối lý bất lực bèn la bự, ra lệnh áp chế thân xác để che đậy sự bối rối, lúng túng, chần chừ, yếu thế của mình “Ta…ta… đã bảo là mày im đi!” Lời thoại của Hồn ngập dừng lí lẽ như bị hụt hơi. Hồn bị dồn vào chân tường để bắt buộc xác nhận sự chế ngự của Xác. Xác khẳng định 1 lần nữa: “Hai ta đã hòa làm 1 rồi”.

Xác nhấn vào sự thực đớn đau nhưng Hồn đang muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy cảnh huống kịch lên cao trào. Hồn chỉ còn Nỗ lực biện minh chống chế cứu vãn: “Ta vẫn có 1 đời sống riêng: nguyên lành, trong lành, ngay thẳng…”. Xác vẫn ko buông tha, tấn công bình sự mai mỉa “Khi ông phải còn đó nhờ tôi, chiều theo những yêu cầu của tôi, nhưng còn nhận là nguyên lành, trong lành, ngay thẳng!”. Trước sự thật ko sao chối cãi, Hồn phản ứng tiêu cự bằng cách “bịt tai lại”. Đấy là phấn đấu chối bỏ trong thất vọng hoàn toàn tuyệt vọng. Xác tiếp diễn dùng lời lẽ hiểm hóc sắc lẹm như dao mổ, phanh trần nỗi đau đang rái cá mủ trong Hồn.

Đấy là nhờ sức mạnh của Xác nhưng Hồn có thể: “tát thằng con ông tóe máu miệng máu mũi”. Mặc dầu cố bịt tai, nhưng mà lúc nghe Xác nói tương tự Hồn phải lên tiếng chối bỏ “sức mạnh làm ta biến thành hung tàn”. Xác khôn ngoan biết là lỡ lời nên biện minh cho mình bằng những lí lẽ: “là cảnh ngộ” “cũng đáng được quý trọng”, vô tội. Hồn chỉ còn phản ứng yếu đuối: “Nhưng…Nhưng”Nhận biết Hồn bị dồn vào thế bí, Xác đưa ra hiệp đồng thỏa hiệp để chung sống, giọng vuốt ve mơn trớn xác chủ động đưa trò chơi tâm hồn: “Những khi 1 mình 1 bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có 1 tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì cảnh ngộ vì để sống nhưng ông phải khoan nhượng tôi.

Làm xong điều xấu ông cứ việc đổ tội cho tôi, để cho ông được thanh thản …miễn sao…ông vẫn làm đủ mọi việc thỏa mãn những thèm muốn của tôi: Xác sẽ “vuốt ve” Hồn bằng cách cảm thông với “những trò chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn sao Hồn vẫn “làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm muốn” của Xác. Nhận thức “lí lẽ đê tiện” của Xác, Hồn than như là thất vọng, bất lực: Trời! đã là 1 sự bằng lòng căn số trong nỗi đớn đau khôn xiết muốn tìm đường thoát nhưng mà hoàn toàn tuyệt vọng.

Trong cuộc hội thoại này, xác thắng thế nên rất hả hê tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng lúc thì mai mỉa cười nhạo lúc thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu.

Quan cuộc hội thoại giữa hồn và xác, xác rõ ràng hiện lên với điểm mạnh của kẻ nắm giữ sự thắng thế, chứng tỏ được quyền uy chi phối kinh khủng của nó với vong hồn, nó cũng cho thấy sự ngộ nhận về chính mình lúc hồn cho rằng “Ta vẫn có 1 đời sống riêng trong lành, nguyên vặn, ngay thẳng…” Linh hồn và thân xác vốn ko tách rời được nhau, cuộc chiến đấu giữ hồn và xác là cuộc tranh đấu giữ cao cả và dục vọng, thấp hèn; giữa phần con và phần người.

Đấy chính là lời cảnh cáo sâu xa của Lưu Quang Vũ: Khi con người sống quá lâu trong môi trường dung tục ắt sẽ bị cái dung tục chi phối, chẳng thể có 1 tâm hồn thanh cao trong 1 thân xác thế tục, tội vạ. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì đừng đổ tội cho thể xác. Không thể tự xoa dịu mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn, do ấy phải bảo vệ, hoàn thiện tư cách con người ấy là 1 vấn đề phệ đối với mỗi tư nhân và toàn xã hội. Đố sẽ là cuộc tranh đấu dằng dai trong khi con người vẫn còn còn đó trong xã hội này.

Nếu Lưu Quang Vũ cho Trương Ba xong xuôi cuộc đời mình trong sự tuyệt vọng ở ấy ta sẽ liên tưởng tới những cái kết trong thời đại của văn chương Hiện thực phê phán nhưng Nam Cao đã viết lên:”Mồn hắn ngáp ngáp, muốn nói, nhưng mà ko nói ra tiếng “, hay cái cảnh Chị Dậu chạy ra ngoài trời “tối đen như mực như cái tiền trình của chị”..vv…. Nhưng bước sang 1 thời đại mới, và vốn dĩ Lưu Quang Vũ cũng ko thuộc lớp nhà văn của Hiện thực phê phán của thời đại trận mạc dân chủ Hiện thực phê phán 30 – 45…… Nên cuộc đời Trương Ba tiếp diễn được vẽ ra:

Không ngừng lại chỉ là đoạn hội thoại đấy thảm kịch nối liền thảm kịch. Bi kịch thứ 2 của Hồn Trương Ba là thảm kịch ko được người nhà thừa nhân. Trương Ba ko còn là mình nữa nên bị người nhà xa lánh đẩy lên cao nỗi âu sầu vốn có của Trương Ba. Nỗi âu sầu, thất vọng của Hồn Trương Ba được đẩy lên lúc hội thoại với những người nhà:

Vừa dứt cuộc hội thoại, Hồn Trương Ba đang ngồi lặng thầm bên cái chõng, thì vợ bước vào hỏi: “Cái Gái chưa về hả ông?” Hồn Trương Ba thờ thẫn giải đáp: “Chưa” Vợ Trương Ba tiếp diễn giảng giải: “Nó sang nhà cu Ganh từ sớm. Cu Ganh bị ốm nặng”. Hồn Trương Ba ko giấu sự kinh ngạc nói: “Ốm Nặng? Vậy nhưng tôi ko biết”. Hai lời thoại đầu chỉ mang tính giao tiếp thông thường chẳng 1 dấu hiện gì đem lại cơn sóng gió tiếp theo cho Trương Ba khi này thì từ lời thoại thứ 3: “Ông hiện thời con biết tới người nào nữa Cu Ganh ốm thập tử nhất sinh…

Khổ thằng nhỏ ngoan là thế…Cái thân tôi thì sao trời lại ko bắt đi cho rảnh “đã là sự chỉnh sửa hoàn toàn xúc cảm của cái hờn trách, hờn giận và càng đau xót của cái tủi thân tủi phận nhưng bất lực. Không để vợ nói tiếp nữa, Hồn Trương Ba cắt ngang: Sao bà lại nói thế. Nghe chồng nói, người vợ đi thẳng vào vấn đề nhưng bà đang rấm rứt: “Tôi nói thật đó …Ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kĩ …Có nhẽ tôi phải đi”. Hồn Trương Ba hỏi lại: “Đi đâu?”.

Người vợ tiếp diễn nói thực bụng với bao hờn dỗi: “Chưa biết! Đi cấy thuê làm công…đi biệt để ông được nhàn hạ…với cô vợ người hàng thịt.. Còn hơn là thế này?”. Nghe vợ nói, Hồn Trương Ba chỉ còn biết kêu gào: “Bà! Sao lại tới nông nỗi này?” Vợ: “Chỉ tại hiện thời.. ông đâu còn là ông Trương Ba nữa….Thằng Cả đã quyết định bán khu vườn để có tiền mở thêm vốn liếng shop thịt. Hồn Trương Ba quá kinh ngạc nói: “Thật sao? Không được!”. Nghe chồng phản đối bà vợ: “Ông bảo ko được nhưng mà tôi biết sự thể sẽ dẫn tới tương tự. Ông sẽ đành ưng chịu tương tự” Người vợ của Trương Ba dù hết mực mến thương chồng, giàu lòng vị tha nhưng mà chung cuộc vẫn rơi vào sự tuyệt vọng.

Những dấu 3 chấm liên kết với câu cảm thán và các từ rưng rưng …khóc… diễn đạt đầy đủ sự buồn chán, bất lực. Trong cuộc hội thoại với vợ Trương Ba chỉ sử dụng câu ngắn, câu hỏi liên tục cộng với ấy là các câu cảm thán đã cho thấy sự thảng thốt, ngỡ ngãng tê sót của ông. Cuối đoạn đối thoại với vợ tiếng gọi “Bà!” nấc lên uất nghẹn bởi ấy là sự bất lực, âu sầu nghẹn ngào chẳng thể thốt ra thành lời. Chấm dứt đợt thoại này Hồn Trương Ba chỉ còn biết ngồi xuống tay ôm đầu.

Khi Hồn Trương Ba ngửng lên thì thấy Gái đứng trước mặt, Hồn Trương Ba kêu đứa cháu như là cầu cứu: “Gái, cháu!” Đấy đã ko còn chỉ là lời gọi thông thường nữa nhưng là tiếng kêu của 1 trái tim được phát ra từ mồm khao khát có 1 điểm tựa, sự đồng cảm cầu cứu. Có nhẽ khi đấy Trương 3 nhưỡng tưởng đứa cháu gái bé nhỏ sẻ xà vào lòng thì ngược lại, cái Gái, cháu Trương Ba thì phản ứng quyết liệt và dữ dội: Nó lùi lại nói đã hình thành 1 khoảng cách ko chỉ về mặt ko gian nhưng còn cả về tâm hồn giữ ông và cháu sau ấy lại nói: “Tôi không hề là cháu của ông”. Câu nói như là gáo nước lã phũ phàng tạt thẳng vào mặt Hồn Trương Ba.

Nhưng Hồn Trương Ba vẫn giữ tĩnh tâm dịu giọng nhẫn nhục giảng giải, khẳng định: “Ông đúng là ông nội cháu. Nếu ông nội tôi hiện về được sẽ bóp cổ ông”. Hồn Trương Ba vẫn cố ra công thuyết phục bằng những chứng cớ mặc cho sự dọa nạt từ đứa cháu gái: “Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chu đáo cây cỏ ngoài vườn …chỉ có ông nội cháu mới biết quý cây như thế” Cố giảng giải cho đứa cháu giảng giải thì Trương Ba càng về sau giọng nói càng ngập dừng ; những dấu 3 chấm hiện ra liên tiếp đã là sự ngập dừng tuyệt vọng ko giảng giải được.Tâm hồn tuổi thơ vốn trong lành, không thừa nhận sự bình thường, dung tục nên không thừa nhận người ông trong thân xác anh hàng thịt thô tục. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã ko cần phải giữ kẽ. Nó 1 mực từ chối tình thân.

Chính vì quá mến thương, tôn thơ ngày giờ đây nó chẳng thể bằng lòng, cũng chẳng thể nào mở lòng mình đớn nhận con người trước mặt mình cái con người có “bàn tay giết mổ lợn”, bàn chân “bự bè như cái xẻng” đã làm cho cái gái ko buông tha, tiếp diễn kể tội “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Ganh nhưng làm gãy nát khiến cu Ganh trong cơn sốt mê mẩn cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội không lẽ thô tục, phũ phàng tương tự”. Nỗi bức xúc của cái Gái đã trở thành sự buộc tội, ruồng bỏ xua đuổi người nhà yêu: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”.

Như vậy cái Gái là người tình thương gắn bó với ông rất đỗi. Ông chết, đêm nào cũng khóc, nâng niu từng chút kỉ niệm của ông. Hiện giờ lại phản ứng dữ dội. Lời lẽ tàn nhẫn, phũ phàng. Chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba. Những dấu chấm than liên tục với giọt nước mắt vừa khóc vừa chạy Phản ứng quyết liệt của 1 đứa trẻ vốn tâm hồn thơ dại trong trẻo, chỉ có 2 màu sáng tối, cương quyết không thừa nhận cái xấu, cái ác đã khiến Hồn Trương Ba run rẩy, tự nhìn lại mình 1 lần nữa. Những lời nói của đứa cháu bé, thêm 1 lần nữa xoáy khoét vào nỗi đau sâu thẳm của ông, để ông cảm nhận thấm thía thảm kịch bị chính những người nhà yêu chối bỏ.

Chị con dâu ở trong nhà bước ra nghe thấy những lời chung cuộc của Gái. 1 mặt chị gọi theo con gái: “Gái, quay lại đây, Gái”. Chị con dâu là người thâm thúy, 9 chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt 1 mặt chị quay sang nói với Hồn Trương Ba: “Thầy, thầy đừng giận trẻ nhỏ …Chỉ tại nó nghĩ thầy không hề là ông nội nó, con dỗ ngon dỗ ngọt thế nào nó cũng ko nghe (rưng rưng) tội nghiệp thầy”. Hồn Trương Ba cảm thấy ấm lòng: “Tới khi này, cả nhà chỉ 1 mình con vẫn thương thầy như xưa”.

Người con dâu khẳng định thêm: “Hơn xưa nữa…nhưng mà thầy ơi con sợ lắm…mỗi ngày thầy 1 đổi khác dần… có khi chính con cũng ko nhìn thấy thầy nữa…làm sao giữ được thầy ở lại hiền từ vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”? Hồn Trương Ba lại bế tắc rầu rĩ nói: “Giờ thì con cũng…”? Người đâu vội chữa lại nói: “Thầy đừng giận nếu con đã nói điều gì không hề”. “Không ta ko giận. Cảm ơn con đã nói thật. Hiện giờ thì đi đi, cho ta được ngồi yên 1 lát”.

Trương Ba như được xoa dịu phần nào, bởi nhìn thấy cái Gái rất thương ông, ông nghĩ cô con dâu sẽ là điểm tựa để sẻ chia hàn huyên. Nhưng trước những lời nói vừa mến thương, vừa ngay thẳng của cô con dâu Trương Ba lạng lẽ như đá tảng âu sầu tới cơ cực đầy khiếp sợ. Có nhẽ khi đấy Trương Ba giống như người đứng trước 1 cái vực thẳm sâu hoắm khắc khoải cần 1 người nào ấy níu giữ nhưng mà kết quả vẫn là sự tuyệt vọng đi vào tuyệt vọng.

Tất cả những người đấy: người thì đau xót dằn dỗi, tủi thân (vợ), người hì tức tưởi xua đuổi (cháu); người thì lại thấu hiểu sẻ chia (con dâu) nhưng mà họ nhìn thấy và âu sầu trước sự chỉnh sửa của Trương Ba. Tuy yêu mến, muốn níu giữ Trương Ba xưa tìm biện pháp để thoát khỏi cảnh ngộ nhưng mà ngang trái thay đều bất lực. Đấy là thảm kịch của Hồn Trương Ba càng bị đẩy lên đến điểm đỉnh. Những người nhà thiết nhất cũng không thừa nhận nỗi trạng thái 2 mảnh hồn, người bất nhất của chồng, cha, ông mình. Không còn gia đình nền móng của 1 sự bấu víu kì vọng vào mặt đất ko có ý nghĩa và chừng như cũng chẳng còn còn đó. Trương Ba hiểu mình đã mất tất cả rơi vào tình trạng hoàn toàn cô độc. Đấy là thảm kịch trong thảm kịch!

Màn hội thoại giữa Trương Ba với người nhà Không phải tình cờ, tác giả ko đưa anh đàn ông thực dụng chủ nghĩa của Trương Ba vào cuộc hội thoại của Trương Ba với những người nhà là 1 hữu ý bởi người đàn ông của Trương Ba đã bị tha hóa nên có nhẽ cái tình yêu dành cho chỉ nhiều ít cũng tha hóa. Các cuộc hội thoại với vợ con dâu và cháu gái càng khiến cho Trương Ba âu sầu hơn. Ông hiểu tất những gì mình đã, đang gây ra và có nhẽ nếu còn đó tiếp diễn thảm kịch đấy sẽ còn tiếp tục và thiêu chiều hướng thụ động hơn nữa. Trương Ba sống làm gì trong khi điều hồn còn sống là để mang đến hạnh phúc cho người nhà hoàn toàn trái trái lại, bất nghĩa lý.

Những câu hỏi liên tục “có lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?….chẳng còn cách nào khác” ấy thật sự là cuộn xoáy dữ dội đang xâu xé, cuộn xoáy trong lòng Trương Ba để rồi dẫn tới 1 quyết định từ bỏ thể xác như 1 mong muốn được đánh tháo ko chỉ cho mình nhưng cả người nhà. Hồn Trương Ba dứt khoát thắp nhang khấn mời tiên Đế Thích để giã từ sự sống đấy.

Cách tuyển lựa cách sống, 1 cách phục sinh tâm hồn như đã nhưng dần, tan biến dân đấy mở ra cho Trương Ba những thách thức mới, tuyển lựa mới trong cuộc hội thoại với Đế Thích. Nhưng ấy chính là cách Lưu Quang Vũ tô đậm lên được vẻ đẹp tư cách vẫn còn sóng ngời trong mảnh hồn tưởng như đã mờ nhạt đấy. Để rồi Trương Ba đã sống đúng phần người theo nghĩa viết viết hoa của nó.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 5: Phân tích đoạn đối thoại giữa hồn và xác

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một câu chuyện không mấy tiêu biểu cho thi pháp cổ tích nếu đặt bên cạnh những Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh… ta đã đọc.Tuy nhiên, nhìn từ góc nhìn tự sự, người ta cũng dễ dàng nhận diện những yếu tố cơ bản tạo nên sắc thái cổ tích cho tác phẩm: Đó là nhân vật, tình huống, diễn biến cốt truyện, phép màu mang đến may mắn cho con người…

Và mặc dù câu chuyện dân gian này còn phảng phất dấu ấn sáng tác bởi các cụ đồ Nho, nhân vật vua cờ Đế Thích vẫn có thể được coi là một kiểu “Bụt”, “Tiên” giáng thế để cứu vớt, bù đắp cho những mất mát, đau thương cho trần giới. Và với một kiểu nhân vật của mô-típ những con người hiền lành, Trương Ba vốn là một người làm vườn, một kỳ thủ nhưng lại lâm vào tình huống éo le và kì lạ: đang sống hạnh phúc với gia đình bỗng dưng chết oan rồi được sống lại nhưng phải sống nhờ một thân xác khác, xác người hàng thịt với một bản tính hoàn toàn đối lập.

Sự chắp vá này mở đầu cho quá trình xung đột gay gắt giữa hồn và xác. Trương Ba vô cùng đau khổ vì linh hồn thanh cao của ông phải sống lệ thuộc vào cái xác mà ông xem là âm u đui mù, không có tư tưởng, không có cảm xúc. Sự lệ thuộc này làm cho ông dần dần trở thành con người khác, đánh mất những phẩm chất vốn có. Sự thay đổi đó đúng như Huấn Cao đã từng nói với quản Ngục khi cái tốt cái đẹp khải tồn tại sống cùng với cái xấu. “… khó giữ thiên lương cho lành vững, rồi cũng đến nhem nhuốc cả đời lương thiện”.

Qua đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt, nhà văn Lưu Quang Vũ cũng đã phát biểu quan điểm của mình về giá trị và mối quan hệ giữa phần hồn và phần xác của con người: “Con người liệu có thể giữ cho mình những giá trị tinh thần cao quý khi phải chấp nhận sống chung với sự dung tục, có tránh được sự tha hóa khi phải thường xuyên thỏa mãn những ham muốn vật chất tầm thường?”

Bi kịch (theo Từ điển văn học): là mâu thuẫn giữa khát vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại; hiểu theo nghĩa thông thường bi kịch là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng mà không có cách nào giải thoát. Trương Ba qua đoạn thoại trên đối mặt với bi kịch phải sống nhờ, sống gửi, sống không được là mình; ý thức đang dần bị tha hóa với nỗi đau khổ cùng cực và cách Trương Ba giải quyết bi kịch của chính mình.

Trọng tâm của lớp kịch là cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác Trương Ba. Do đó lời thoại ở đây vừa có thể coi là độc thoại vừa có thể coi là đối thoại. Nó là một lời thoại đặc biệt, vừa chứa đựng mâu thuẫn vừa mang tính hành động, thúc đẩy tình huống kịch phát triển đến mức cao nhất. Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác là đỉnh cao tư tưởng triết lý của vở kịch. Cuộc đối thoại đó cùng với thái độ và những lời đối thoại của những người ruột thịt thân yêu nhất đã dẫn đến hành động quyết liệt – kiên quyết chối từ một cuộc sống chắp vá hồn nọ xác kia của Trương Ba.

Lưu Quang Vũ đã để cho nhân vật của mình chọn một con đường tưởng như tiêu cực nhưng hết sức cần thiết và đúng đắn: Rời bỏ cõi đời này để được đúng là mình, để giữ trong ký ức những người thân kỷ niệm tốt đẹp về mình. Có nhà nghiên cứu cho rằng “cuộc vật lộn giữa “Hồn Trương Ba” và “Da Hàng thịt” thực chất là cuộc giao tranh giữa hai linh hồn trong một thân xác”.

Sau mấy tháng sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với những người thân trong gia đình và tự xung đột với bản thân mình. Hồn ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy trào ra thành dòng độc thoại đầy nước mắt: “không, không, tôi không muốn sống như thế này nữa. Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi. Ta bắt đầu sợ mi, muốn rời xa cái thân thể kềnh càng thô lỗ ngay tức khắc”.

Xác hàng thịt đã chỉ rõ sự tha hóa không tránh khỏi của hồn Trương Ba khi phải nhờ vào nó để tồn tại: Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân,…Ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi. Khi phải chấp nhận hoàn cảnh trớ trêu để tiếp tục duy trì sự sống, Trương Ba hầu như không còn được sống theo cách riêng của mình, tồn tại qua thân xác không phải của mình.

Vợ Trương Ba nhận thấy sự thay đổi của chồng mình: Giờ mỗi bữa ông ăn tám, chín bát cơm, lại còn hay đòi uống rượu. Khi xưa, Trương Ba đối với ai cũng điềm đạm, nhẹ nhàng, và đặc biệt là không đánh con bao giờ. Nhưng nay, trước những lời nói sự thật của anh con trai, Trương Ba đã tát mạnh nó đến chảy máu.

Với bàn tay giết lợn lúc chiết cây cam hồn Trương Ba đã làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm, lúc sửa diều cho cu Tị thì làm gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý. Cái Gái gọi ông là lão đồ tể, thấy ông xấu lắm, ác lắm, và xua đuổi ông như một tội đồ, Cút đi! Lão đồ tể cút đi!

Trương Ba như được an ủi phần nào, bởi nhận ra cái Gái rất thương ông, ông nghĩ cô con dâu sẽ là điểm tựa để sẻ chia tâm sự. Nhưng trước những lời nói vừa yêu thương, vừa thẳng thắn của cô con dâu Trương Ba lặng ngắt như đá tảng đau khổ đến cùng cực đầy sợ hãi. Có lẽ lúc ấy Trương Ba giống như người đứng trước một cái vực thẳm sâu hoắm khắc khoải cần một ai đó níu giữ nhưng kết quả vẫn là sự bế tắc đi vào vô vọng.

Tất cả những người ấy: người thì chua xót dằn dỗi, tủi thân (vợ), người hì tức tưởi xua đuổi (cháu); người thì lại thấu hiểu sẻ chia (con dâu) nhưng họ nhận ra và đau khổ trước sự thay đổi của Trương Ba. Tuy yêu quý, muốn níu giữ Trương Ba xưa tìm giải pháp để thoát khỏi hoàn cảnh nhưng trớ trêu thay đều bất lực. Đó là bi kịch của Hồn Trương Ba càng bị đẩy lên tới điểm đỉnh. Những người thân thiết nhất cũng không chấp nhận nỗi tình trạng hai mảnh hồn, người bất nhất của chồng, cha, ông mình. Không còn gia đình nền tảng của một sự bấu víu hy vọng vào mặt đất không có ý nghĩa và dường như cũng chẳng còn tồn tại. Trương Ba hiểu mình đã mất tất cả rơi vào trạng thái hoàn toàn cô độc. Đó là bi kịch trong bi kịch!

Quyết định xóa bỏ sự tồn tại của cái vật quái gở mang tên hồn Trương Ba, da hàng thịt, đó là một sự lựa chọn dũng cảm của hồn Trương Ba. Chấp nhận cái chết, chấp nhận sự hư vô để được là tôi trọn vẹn, đó là kết quả của sự đấu tranh ở một tâm hồn thanh cao, trong sáng, vượt lên nghịch cảnh. Chấp nhận cái chết, Trương Ba đã tìm lại được sự trong sạch cho linh hồn mình. Được hóa thân vào các vật bình dị, gần gũi, thân thương, tồn tại vĩnh viễn trong kí ức và tình yêu của người thân, khúc vĩ thanh ở phần kết vở kịch đã thổi vào lòng người ta một làn gió nhẹ mang âm hưởng lạc quan: niềm tin vào sự chiến thắng cuối cùng của cái Đẹp, cái Thiện.

Đề cao phần linh hồn của con người, đó là điểm gặp gỡ, qui tụ của quan niệm dân gian và triết lý về mối quan hệ giữa hồn và xác của nhà viết kịch hậu hiện đại Lưu Quang Vũ trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Tất nhiên điểm sáng tạo mới mẻ của Lưu Quang Vũ là từ một tích truyện dân gian, tác giả đã đi sâu khai thác mâu thuẫn kịch từ mối quan hệ giữa hồn và xác để gửi gắm thông điệp mang tính triết lí sâu sắc: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn luôn đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

Những câu hỏi liên tiếp “lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?….chẳng còn cách nào khác” đó thật sự là cuộn xoáy dữ dội đang giằng xé, cuộn xoáy trong lòng Trương Ba để rồi dẫn đến một quyết định từ bỏ thân xác như một mong muốn được giải thoát không chỉ cho mình mà cả người thân. Hồn Trương Ba dứt khoát thắp nhang khấn mời tiên Đế Thích để từ giã sự sống ấy.

Cách lựa chọn cách sống, một cách phục sinh tâm hồn như đã mà dần, tan biến dân ấy mở ra cho Trương Ba những thử thách mới, lựa chọn mới trong cuộc đối thoại với Đế Thích. Nhưng đó chính là cách Lưu Quang Vũ tô đậm lên được vẻ đẹp nhân cách vẫn còn sóng ngời trong mảnh hồn tưởng như đã mờ nhạt ấy. Để rồi Trương Ba đã sống đúng phần người theo nghĩa viết viết hoa của nó.

Số 6: Phân tích hội thoại giữa hồn và xác

Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” có bảy hồi, phần trích học sách giáo khoa là hồi kết. Thông qua bi kịch của Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã mang đến cho người đọc, người xem vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống đích thực và khát vọng hoàn thiện nhân cách.

Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã chuyển thể thành vở kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lý và nhân văn sâu sắc. Qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã làm rõ khát vọng được sống là chính mình của Hồn Trương Ba.

Trong đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt, lúc này Trương Ba đã bắt đầu nhận ra sự thay đổi của bản thân, ông dần sa ngã, chiều chuộng theo những sở thích của cái xác, mà quên đi những thói quen, những thú vui xưa kia của mình. Sự thực ấy khiến Trương Ba vô cùng đau khổ và dằn vặt khi phải luôn đấu tranh chống lại những ý muốn tầm thường của xác thịt để giữ lại cho mình sự trong sạch, thanh cao một đời gìn giữ.

Trương Ba muốn rời khỏi xác thịt, muốn thoát khỏi bi kịch tha hóa của bản thân. Trương Ba đã có cuộc tranh luận gay gắt xác người hàng thịt, tuy nhiên trong trận tranh cãi ấy, Trương Ba lại trở thành kẻ đuối lý, liên tục bị cái xác vạch trần, mỉa mai, thậm chí là chế giễu, điều đó khiến ông vừa đau khổ vừa căm tức.

Ngay lúc vừa đối diện ba mặt một lời với cái xác, Trương Ba đã vội vàng phê phán, chỉ trích cái xác chỉ là thứ “xác thịt đui mù”, “vô tri, không có tiếng nói, “không có tư tưởng cảm xúc”,… nhằm giải phóng nỗi căm giận trong lòng, cũng như để áp chế sự ngông cuồng, ngạo mạn của nó.

Thế nhưng đáp lại lời chỉ trích của Trương Ba cái xác lại tỏ ra rất bình tĩnh, ung dung, nó chỉ ra những sự thay đổi ghê gớm của ông bao gồm việc thích ăn thịt, uống rượu, thèm tiết canh, rồi thì có lòng ham muốn nhục dục khi đứng trước người vợ trẻ trung của hàng thịt.

Từ khi sống trong thân xác mới, Trương Ba không còn thiết tha với cái thú cờ vây tao nhã, không còn khéo léo khi chăm sóc vườn tược, trở nên nóng tính, cục cằn, điều đó bộc lộ rõ khi ông đã dùng sức mạnh của người hàng thịt để tát anh con trai đến hộc cả máu mồm chỉ vì anh này muốn bán cái vườn để mở sạp thịt lợn.

Trước những lời vạch trần của cái xác, Trường Ba vẫn cố cự lại bằng những lời lẽ yếu ớt, ông đổ tại rằng do xác thịt đã sai khiến, do cái xác đã làm ông trở nên thay đổi, tha hóa. Ông khẳng định mình và cái xác đui mù ấy rõ ràng là hai cá thể tách biệt chẳng hề có sự liên quan gì tới nhau, tất cả những thay đổi đều là của xác thịt còn bản thân ông vẫn giữ nguyên một tâm hồn “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”.

Tuy nhiên trước cái lý lẽ yếu ớt ấy của Trương Ba, cái xác đã lập tức phản bác, thẳng thừng phê phán ông là người ưa sĩ diện, luôn lấy cái xác ra để che đậy cho hành vi thỏa mãn ham muốn thú vui tầm thường, còn bản thân thì vẫn tự nhận mình là thanh cao, thánh khiết, để lòng được thanh thản, không cảm thấy dằn vặt

Sự vạch trần ấy đã làm Trương Ba trở nên đuối lý, bởi lẽ cái xác đã nói đúng, bản thân ông không thể chiến thắng những suy nghĩ tầm thường, thuận theo sở thích của cái xác, không thể bảo vệ bản ngã, giữ gìn được những nét đẹp tâm hồn mà bản thân đã xây dựng bấy lâu nay. Điều đó đối với Trương Ba là một sự đau khổ tột cùng, một cú sốc lớn, cũng chính là sự xấu hổ, nhục nhã khi bản thân trở nên sa ngã, trở thành một người không phải mình, sau khi đã sống được hơn hai phần ba cuộc đời.

Cuộc đối thoại kết thúc trong sự bế tắc và đau khổ của Trương Ba. “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”. Lời độc thoại cho thấy cuộc đấu tranh nội tâm vô cùng dữ dội ở Trương Ba.

Thực ra cuộc đấu tranh đó đã được tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm qua màn đối thoại giữa Trương Ba và xác hàng thịt. Đó là cuộc đấu tranh giữa xác và hồn; giữa cao cả và đê hèn; giữa tốt và xấu; giữa cao thượng và dung tục; giữa khát vọng và dục vọng. Đó cũng là cuộc đấu tranh để hoàn thiện nhân cách.

Cuộc đấu tranh này phần thắng nghiêng về xác nhưng bản thân hồn Trương Ba đã không chịu lép vế, không khuất phục mà đã tìm mọi cách để được sống là chính mình – đây chính là nhân cách cao đẹp của Trương Ba. “Tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!”. Lời thoại có tới hai lần phủ định “tôi không thể”; “không thể được” cho thấy quyết tâm rời bỏ xác hàng thịt là ý chí sắt đá của Trương Ba khi thấm thía nghịch cảnh trớ trêu của mình.

“Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Câu nói thể hiện nghịch cảnh của Trương Ba, sự bất nhất của cái bên trong và cái bên ngoài: “bên trong” chính là linh hồn, cảm xúc, tư tưởng, nhân cách cao đẹp của Trương Ba. Hồn là sự tinh anh chi phối điều khiển thể xác.

Đối lập bên trong là “bên ngoài” – xác thịt thô phàm của anh hàng thịt. Nhưng “cái bên ngoài” cần hiểu theo nghĩa rộng là hoàn cảnh sống, là bản năng, là nhu cầu tự nhiên, là dục vọng bản năng. Sự tha hóa của linh hồn Trương Ba chính là do linh hồn đã nhượng bộ, đã tự bán mình, tự thỏa hiệp với nhu cầu bản năng. Đây chính là sự dằn vặt, đau khổ, trăn trở của Trương Ba. Cả hai không thể hoà hợp bởi không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục tội lỗi.

“Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đây là khát vọng mãnh liệt của Trương Ba, khát vọng được sống hòa hợp. “Toàn vẹn” nghĩa là phải có sự hòa hợp giữa bên trong và bên ngoài, giữa nội dung và hình thức, giữa thể xác và linh hồn. Không thể có cuộc sống nào mà “hồn này xác kia” được. Cuộc sống không thuận theo lẽ tự nhiên, không thuận theo tạo hóa, sống mà không được là chính mình thì đó là một bi kịch nghiệt ngã.

Ý chí mạnh mẽ của Trương Ba xuất phát từ khát vọng “được sống là chính mình”, và để “được sống là chính mình” lúc này, Trương Ba không có con đường nào khác là cái chết. Vì chỉ khi chết đi, ông mới thực sự là chính mình, mới hoàn nguyên được vẻ đẹp cao khiết của linh hồn mình. Với Trương Ba, thiên đường đẹp nhất để linh hồn có thể trú ngụ sau khi chết chính là phục sinh trong trái tim của những người yêu quý ông.

Đế Thích vẫn muốn Trương Ba tiếp tục tồn tại nhưng Trương Ba đã thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng một việc đúng khác”.

Ông cũng khuyên nhủ Đế Thích phải làm cho bằng được việc đúng, đó chính là làm cho cu Tị được sống lại. Những suy nghĩ tốt đẹp của Trương Ba và đức hi sinh cao thượng của ông cuối cùng cũng thay đổi được tư duy của Đế Thích. Cu Tị được sống còn Trương Ba trở về với chính mình chứ không còn là “cái vật quái gở mang tên hồn Trương Ba, da hàng thịt nữa”.

Hồn Trương Ba nhập vào cảnh vật quen thuộc trong gia đình và gắn bó trong trái tim những người yêu thương ông. Trương Ba đã phục sinh linh hồn mình trong trái tim của những người yêu thương. Linh hồn ông mãi mãi bất tử trong màu xanh cây vườn và bất tử trong những người yêu mến ông.

Con người tồn tại gồm phần con và phần người. Phần con thuộc về bản năng. Phần người thuộc về nhân cách, sự cao thượng đẹp đẽ của tâm hồn. Phần con và phần người đã tạo ra con người đúng nghĩa. Ở đây hai hình tượng hồn và xác cũng là ẩn dụ cho phần con và phần người. Một bên đại diện cho những gì đẹp đẽ, thanh cao; một bên đại diện cho sự thô tục, thô phàm.

Tác giả Lưu Quang Vũ nhấn mạnh không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục. Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được sống là chính mình, được hoà hợp xác và hồn, trong và ngoài, nội dung và hình thức trong một thể thống nhất toàn vẹn chứ không phải là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

Muốn sống đúng là chính mình thì mỗi chúng ta cần phải biết hài hòa giữa việc chăm lo cho linh hồn cũng như biết quý trọng và chăm sóc cho những nhu cầu thiết yếu của thể xác. Thông qua đó Lưu Quang Vũ cũng góp phần phê phán hai hạng người: một loại chỉ biết trau chuốt vẻ ngoài và chạy theo những ham muốn vật chất mà không chăm lo cho đời sống tâm hồn. Loại khác thì luôn coi thường những giá trị vật chất, bỏ bê sự chăm sóc bản thân chỉ khư khư giữ cho linh hồn được cao đẹp.

Thông qua màn đối thoại giữa hai nhân vật hồn Trương Ba và xác hàng thịt, Lưu Quang Vũ nêu cao tư tưởng phải sống là chính mình đó mới chính là hạnh phúc thật sự của con người. Bởi vậy trong cuộc sống chúng ta phải biết đấu tranh với sự dung tục tầm thường và chiến thắng nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân.

Có như vậy chúng ta mới được là mình – được là chính mình toàn vẹn. Làm nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung, Lưu Quang Vũ đã sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật: Sáng tạo lại cốt truyện dân gian. Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm. Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống truyện. Có chiều sâu triết lý khách quan.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 7: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Từ 5 1978 cho tới lúc mất, ông là chỉnh sửa viên báo chí Sàn diễn. Lưu Quang Vũ từ trần cùng vợ con trong 1 tai nạn giao thông tàn khốc, giữa khi tài năng đang 9 rộ. ông được bình chọn là 1 trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam đương đại, là người có công phệ góp phần vực dậy cả 1 nền sàn diễn khi ấy đang có nguy cơ tụt hậu.

Kịch của Lưu Quang Vũ lôi cuốn chủ công bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua ấy khẳng định khát vọng hoàn thiện tư cách con người. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ, được tác giả kết thúc 5 1984, công diễn lần đầu 5 1987. Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo, qua tranh chấp tột cùng giữa hồn và xác, vở kịch chứa đựng những vấn đề triết lí nhân sinh: sống nhờ, sống giả, sống không hề là mình, ấy là thảm kịch phệ nhất của 1 con người. Để chuyển tải triết lý nhân sinh cao cả đấy, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lên cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt mang đầy tính ẩn dụ thâm thúy.

Ông Trương Ba là 1 người làm vườn, khoảng 50 tuổi, sống thật thà, thẳng thắn và giỏi đánh cờ. Tính nết ông nhân đức, sống chan hòa với mọi người. Chỉ vì do sự cẩu thả và tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu trên thiên tào nhưng ông Trương Ba phải chết oan. Tiên cờ Đế Thích bực bõ và vì tiếc 1 người có tài chơi cờ nên đã hóa phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt vừa mới chết 1 ngày. Hồn Trương Ba từ ấy sống trong thể xác của anh hàng thịt. Ai cũng ngỡ ấy là cách khắc phục thuận tiện cho Trương Ba, để cho con người hiền từ này tiếp diễn sống ấm cúng trong gia đình mình.

Nhưng ngang trái thay, chính sự tái sinh trong xác người khác lại là điều xấu số của Trương Ba. Trong chính gia đình mình, ông bị người nhà chê trách, xa lánh và khinh thường. Hồn Trương Ba bị dồn vào sự âu sầu nhất: tự mình tinh thần được sự tha hóa của mình, bị cường hào nhũng nhiễu, nhận ra đàn ông hư hỏng nhưng ko dạy bảo được,… Tất cả những điều ấy đã khiến ông chẳng thể chịu đựng được nữa, chẳng thể khuất phục trước thân xác, trước những cái xấu xa và tự đánh mất mình. Hồn Trương Ba chẳng thể sống chung với xác anh hàng thịt, tách ra khỏi thể xác để bàn cãi.

Cuộc bàn cãi giữa 1 bên là hồn, 1 bên là xác diễn ra rất dữ dội và ko có sự thỏa hiệp. Xác hàng thịt tỏ ra lấn át hồn Trương Ba, làm nhục hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba thấy âu sầu tới tột cùng và thấy chẳng thể chịu đựng được hơn nữa. Xác hàng thịt muốn khẳng định, địa điểm, vai trò và tầm quan trọng của mình: Tôi là cái bình để chứa đựng vong hồn. Nhờ tôi nhưng ông có thể làm lụng, cuốc xới.

Ông nhìn ngắm trời đất, cây cỏ, người nhà… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận toàn cầu này qua những cảm quan của tôi… Xác tìm cách thỏa hiệp bằng cách nêu chi tiết những nhu cầu thiên nhiên mang tính bản năng của con người: Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng cạnh vợ tôi, chân tay run rẩy, hơi thở hot nực, cổ nghẹn lại… Ban đêm ấy, suýt nữa thì… […] Chẳng lẽ ông ko xao xuyến chút gì ? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác ko làm hồn ông lâng lâng xúc cảm sao ? …

Còn hồn Trương Ba lại phủ nhận vai trò của thân xác nhưng khẳng định sự thanh bạch của tâm hồn khác xa với những thủ tục thấp hèn khác: Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, ko có ý nghĩa gì hết, ko có tư tưởng, ko có xúc cảm {. .] Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ kém cỏi, nhưng bất kỳ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt; Ta vẫn có 1 đời sống riêng: nguyên lành, trong lành, ngay thẳng… Lí lẽ của đôi bên đưa ra có những điểm đúng mực khó bề không thừa nhận khiến việc thắng phụ chẳng thể nào đáp ứng được 1 cách mau chóng, dễ ợt.

Do phải sống nhờ thân xác của anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo 1 số nhu cầu hiển nhiên của thân xác. Đáng sợ hơn, vong hồn Trương Ba dần bị nhiễm những thứ bình thường của xác anh hàng thịt. Tinh thần được điều ấy, vong hồn Trương Ba dằn vặt, âu sầu và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt để còn đó độc lập, ko dựa dẫm vào thân xác.

Xác hàng thịt biết rõ những quyết tâm ấy là vô dụng nên đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên bố về sức mạnh ảm đạm, đui mù mù gớm ghê của mình, tán tỉnh hồn Trương Ba thỏa hiệp với mình vì theo xác hàng thịt thì chẳng còn cách nào khác, cả 2 đã hòa vào nhau làm 1 rồi. Trước những lí lẽ đê tiện của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đã nổi nóng, đã khinh bỉ, quở trách xác hèn mạt nhưng mà cùng lúc cũng ngùi ngùi thấm thía nghịch cảnh nhưng mình đang lâm vào, đành nhập quay về xác thịt trong thất vọng.

Xây dựng 2 đối tượng đặc thù này, Lưu Quang Vũ đã sử dụng giải pháp đối lập để tô đậm sự không giống nhau căn bản giữa hồn người này và xác người kia. Ông Trương Ba vốn là 1 người làm vườn chân chất, hiền từ, nho nhã. Hồn của Trương Ba tượng trưng cho sự thanh tao, cao khiết, trong lành, đạo đức. Hồn là phần chân chính của mỗi con người. Ngược lại, anh hàng thịt với thể xác lực lưỡng, cồng kềnh, thô tục,… tượng trưng cho bản năng, cho những thèm muốn phàm tục.

Đây thực ra là 1 ẩn dụ, xác anh hàng thịt ẩn dụ về thân xác con người, còn hồn Trương Ba ẩn dụ về vong hồn của con người. Tác giả đã thông minh ra 1 cảnh huống ẩn dụ có sức hấp dẫn, gợi cho người đọc những nghĩ suy thâm thúy: con người chẳng thể sống ko là mình, chẳng thể sống điêu trá hay vay mượn cuộc sống của người khác. Con người ko chỉ sống bằng thân xác và còn phải sống bằng vong hồn, tình cảm,… Độ vênh của vong hồn và thân xác sẽ là thảm kịch.

Cuộc hội thoại giữa hồn và xác chính là xung đột diễn ra trong bản thân đối tượng, 2 phần trong 1 con người. Giữa xác hàng thịt và hồn Trương Ba có sự đối lập giữa nhiều nhân tố như tốt – xấu, thanh cao – thế tục, bản năng – lý trí,… Qua đây, Lưu Quang Vũ muốn khẳng định: ko gì hạnh phúc bằng lúc được sống đúng là mình, sống với những gì mình đã có. Như thế cục đời sẽ thanh thản, nhẹ nhõm và ý nghĩa biết bao. Cuộc sống thật đáng quý nhưng mà không hề sống thế nào cũng được. Cuộc sống chỉ có trị giá lúc con người được trở về đúng thực chất của mình, được sống trong 1 thân thể hợp nhất.

Số 8: Phân tích đoạn đối thoại giữa hồn và xác

“Tôi không muốn viết những lời như thế

Tôi không thể viết những lời như thế

Tôi xé đi vòng hoa giấy bức màn sương

Những niềm vui dại khờ những nỗi buồn yếu đuối

Cuộc sống còn dở dang

Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi”

Lưu Quang Vũ được bạn đọc và công chúng biết đến với tư cách là một nhà thơ. Nhưng ông gây tiếng vang và được hâm mộ là một nhà viết kịch tài ba. Và với quan điểm sáng tác không phải để ca ngợi mà đơn thuần chỉ là để đóng góp cho cuộc sống còn nhiều dang dở, thông qua những tác phẩm của mình, ông đã truyền tải đến những thông điệp nhân sinh ý nghĩa. Vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” đặc biệt là cuộc đối thoại giữa hồn trương ba và da hàng thịt là tiếng nói phê phán những vấn đề tiêu cực của cuộc sống thông qua những câu chuyện trong đời sống hằng ngày và sống động. Thể hiện được góc nhìn của tác giả cũng như là những thông điệp mà ông gửi gắm.

Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, Lưu Quang Vũ đã để cho Hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn cấp và tha thiết: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này. ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát.”

Như vậy, hồn đang ở trong trạng thái vô cùng bức bối và đau khổ. Những câu cảm thán và dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói lên được điều đó. Hồn bức bối vì không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác ghê tởm ấy, Ghê tởm vì mình không còn là chính mình nữa.Trong cuộc đối thoại với xác hàng thịt, hồn là thế yếu, đuối lý không thể cãi được bởi những điều xác nói dù đúng hay sai, muốn hay không hồn cũng phải thừa nhận.Đó là cái đêm khi hồn đứng cạnh vợ xác thì “tay chân run rẩy”; “hơi thở nóng rực”; “cổ nghẹn lại” và suýt nữa thì…”.

Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà trước đây hồn không thích và cho đó là “phàm”. Hồn ghê tởm lúc ông tát thằng con “tóe máu mồm máu mũi”,… Tất cả đều là sự thật. Xác còn gợi tả lại một cách chi tiết những sự thật khiến cho hồn càng cảm thấy xấu hổ. Hồn đưa ra lời ngụy biện cho bản thân bằng lí lẽ: “Ta vẫn sống một đời sống riêng, nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn.” nhưng lại bị xác cười nhạo và khinh thường.

Trong cuộc đối thoại giữa hồn trương ba và xác hàng thịt, xác thắng thế nên hả hê cười nhạo và liên tục tuôn ra những lời cười nhạo, chê bai với những lời thoại dài với chất giọng lúc thì mỉa mai lúc thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn cùng giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu thảm thiết.

Xác khôn ngoan, biết là lỡ lời nên đã biết tìm cách biện minh cho chính mình bằng lý lẽ: “là hoàn cảnh” hay “cũng đáng được quí trọng”, không có tội. Hồn chỉ có phản ứng yếu ớt: “Nhưng… Nhưng”… Nhận biết Hồn bị dồn vào thế bí, xác đưa ra giao kèo nhằm thỏa hiệp để chung sống bằng giọng nhẹ nhàng, vuốt ve hồn, xác chủ động đưa ra “trò chơi tâm hồn”: “Những lúc một mình lẻ bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh, vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong một điều xấu ông cứ đổ lỗi cho tôi, để ông được thanh thản… miễn là… ông vẫn làm đủ mọi việc thỏa mãn những thèm khát của tôi.” Nghe thấy xác nói xong, hồn nhận thấy được “lí lẽ ti tiện” của xác và thân lên một cách tuyệt vọng và bất lực: “Trời! Đã là một sự chấp nhận số phận trong nỗi đau đớn khôn cùng muốn tìm đường thoát nhưng hoàn toàn vô vọng”.

Qua cuộc đối thoại giữa hồn và xác, xác nhận rõ ràng đã hiện lên với ưu thế của kẻ nắm đầu chuôi, nắm sự thắng thế, chứng tỏ quyền uy của mình đối với hồn. Linh hồn và thể xác vốn không tách rời được, cả hai phải bổ sung và hoàn thiện cho nhau. Chính vì thế cuộc đấu tranh giữa hồn và xác chính là đấu tranh giữa linh hồn – thể xác, vật chất – tinh thần, nội dung – hình thức, bản năng – lý tưởng, cao cả – tầm thường trong mỗi con người, là giữa sự cao sang giữa phần con và phần người.

Đây cũng chính là lời cảnh cáo, là thông điệp của Lưu Quang Vũ đối với bạn đọc, người xem. Khi con người sống lâu trong môi trường dung tục thì chắc chắn sẽ bị nó chi phối và ảnh hưởng. Khi con người dù có thanh cao đến đâu nhưng bị chi phối bởi những nhu cầu thiết yếu của bản năng thì chắc chắn chẳng thể đổ lỗi cho thể xác. Suy cho cùng cả hai cũng chỉ là một, có sự chi phối lẫn nhau mà thôi.

Không thể tự an ủi, xoa dịu bản thân bằng những vẻ đẹp siêu hình của của tâm hồn, chính vì thế cần phải hoàn thiện bản thân một cách toàn diện. Hoàn thiện bản thân chính là một cách để góp phần xây dựng xã hội văn minh giàu đẹp. Cuộc đấu tranh giữa hồn và xác là cuộc đấu tranh còn dài và dai trong mỗi con người ở trên thế giới này.

Thông qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, Lưu Quang Vũ gửi gắm sự cảnh báo của mình vào đó: khi con người sống trong sự dung tục thì chắc chắn dung tục sẽ ngự trị và thắng thế, dẫn con người đi vào sự tha hóa, lấn át dần những sự thanh cao, trong sạch và tốt đẹp.

Đời sống đâu chỉ gói gọn trong trong những nhu cầu thiết yếu của bản thân, mà còn rất nhiều thứ cần phải được quan tâm và dung hòa. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác là cuộc đấu tranh giữa đạo đức và tội lỗi, giữa khát vọng và hoài bão với dục vọng ham muốn tầm thường, giữa tầm thường và cao cả, giữa phần con và phần người luôn diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong mỗi con người.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 9: Phân tích hội thoại giữa hồn và xác

“Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đó là bi kịch của Hồn Trương Ba, nhân vật chính trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt sau thời gian phải trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt. Nhưng đó cũng là khát vọng của tất cả những cuộc đời chân chính. Triết lí về mối quan hệ giữa hồn và xác được nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đặt ra trong vở kịch thực sự rất sâu sắc.

Qua đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt, nhà văn Lưu Quang Vũ cũng đã phát biểu quan điểm của mình về giá trị và mối quan hệ giữa phần hồn và phần xác của con người: “Con người liệu có thể giữ cho mình những giá trị tinh thần cao quý khi phải chấp nhận sống chung với sự dung tục, có tránh được sự tha hóa khi phải thường xuyên thỏa mãn những ham muốn vật chất tầm thường?”

Bi kịch (theo Từ điển văn học): là mâu thuẫn giữa khát vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại; hiểu theo nghĩa thông thường bi kịch là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng mà không có cách nào giải thoát. Trương Ba qua đoạn thoại trên đối mặt với bi kịch phải sống nhờ, sống gửi, sống không được là mình; ý thức đang dần bị tha hóa với nỗi đau khổ cùng cực và cách Trương Ba giải quyết bi kịch của chính mình.

Viết lại cổ tích – một thể loại bao giờ cũng viên mãn với những cái kết có hậu. Trong khi đó, thực tế cuộc đời thì luôn luôn khác. Cũng như nhiều nhà văn cùng thời, Lưu Quang Vũ đang muốn dùng sáng tác của mình để đối thoại với cổ tích, bằng cách tái hiện cuộc đời theo đúng cái cách hiện tồn của nó. Bởi thế nên tình huống kịch trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã được xây dựng bắt đầu từ chỗ kết thúc tích truyện dân gian.

Bằng cách đó, nhà viết kịch hậu hiện đại này muốn đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc. Xét ở góc độ triết lí về mối quan hệ giữa hồn và xác, vở kịch của Lưu Quang Vũ vừa kế thừa quan niệm của dân gian nhưng cũng có nhiều điểm mới mẻ.

Sau những nhầm lẫn và sửa sai oái oăm của người thiên đình, để có thể tiếp tục được sống, hồn Trương Ba phải trú nhờ vào thân xác thô kệch của anh hàng thịt, đó là nghịch cảnh trái tự nhiên mà hồn Trương Ba buộc phải chấp nhận, quy phục.

Phải sống nhờ vào những yếu tố vật chất bên ngoài, không được sống với con người thực của mình, hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh sống dung tục, bị nó chi phối, sai khiến – đó là bi kịch đau đớn nhất của con người. Hoàn cảnh bi kịch của Trương Ba với sức mạnh ghê gớm, sự cám dỗ khó lòng cưỡng lại của cái dung tục, tầm thường đã được cụ thể hóa trong thân xác anh hàng thịt.

Lúc vừa được sống lại trong xác hàng thịt, hồn Trương Ba hốt hoảng khi soi gương : Không! Không phải tôi. Cái mặt của tôi đâu rồi? Chân tay của tôi đâu rồi? Người này không phải là tôi. Nhưng rồi, để được sống, Trương Ba đành chấp nhận. Chấp nhận cả những đổi thay đến lệch lạc, chấp nhận sự trói buộc của hoàn cảnh, chấp nhận bị xê dịch đến cuộc sống tầm thường không mong muốn.

Không lâu sau khi trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt, ở Trương Ba diễn ra sự tha hóa nhanh chóng. Sự tha hóa của Trương Ba không chỉ dừng lại ở những hành động phụ thuộc vào xác hàng thịt nữa, ngay cả linh hồn Trương Ba cũng thay đổi, từ cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử và cả cách dạy con,…

Xác hàng thịt đã chỉ rõ sự tha hóa không tránh khỏi của hồn Trương Ba khi phải nhờ vào nó để tồn tại: Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân,… Ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi. Khi phải chấp nhận hoàn cảnh trớ trêu để tiếp tục duy trì sự sống, Trương Ba hầu như không còn được sống theo cách riêng của mình, tồn tại qua thân xác không phải của mình.

Vợ Trương Ba nhận thấy sự thay đổi của chồng mình: Giờ mỗi bữa ông ăn tám, chín bát cơm, lại còn hay đòi uống rượu. Khi xưa, Trương Ba đối với ai cũng điềm đạm, nhẹ nhàng, và đặc biệt là không đánh con bao giờ. Nhưng nay, trước những lời nói sự thật của anh con trai, Trương Ba đã tát mạnh nó đến chảy máu.

Với bàn tay giết lợn lúc chiết cây cam hồn Trương Ba đã làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm, lúc sửa diều cho cu Tị thì làm gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý. Cái Gái gọi ông là lão đồ tể, thấy ông xấu lắm, ác lắm, và xua đuổi ông như một tội đồ, Cút đi! Lão đồ tể cút đi!

Bác Trưởng Hoạt, một người bạn cờ rất mến mộ Trương Ba cũng phải nói lời thành thực: Lúc nào bác cũng sặc sụa hơi men(…) Bác đâm nát rượu mất rồi! Những thói xấu thường ngày nó làm hư hại tâm hồn, trí não của người ta bác ạ!

Trong lúc đánh cờ Trưởng Hoạt phải thốt lên: Người đàng hoàng không ai đòi ăn nước ấy!… Lối đánh của bác khác hẳn ngày xưa. Thoạt trông thì thấy cách vào cờ của bác vẫn như xưa, nhưng sau thì… Chẳng còn cái khoáng hoạt, dũng mãnh thâm sâu ngày trước. Cách tiến, cách thủ của bác bây giờ vụn vặt, nhỏ mủn thô phũ. Mà cái nước ăn vừa rồi nói xin lỗi bác, nó bần tiện làm sao!

Bi kịch đau khổ của Trương Ba được thể hiện qua sự bối rối, khổ sở, bế tắc và sự đắc thắng bởi những lí lẽ trâng tráo nhưng đầy thuyết phục của xác hàng thịt. Đấy là nguyên nhân khiến linh hồn Trương Ba rơi vào tình trạng bất lực trước sự sai khiến ghê gớm của thân xác.

Phải để linh hồn trong sạch, cao khiết của mình sống nhờ trong thân xác thô phàm của anh hàng thịt, ý thức sâu sắc mình đang bị đồng hóa, hồn Trương Ba càng thấy không thể chấp nhận kiểu sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Cách duy nhất giúp Trương Ba thoát khỏi bi kịch là từ bỏ xác: “Không cần đến cái đời sống do mày mang lại!”

Ý kiến đặt ra vấn đề nhân sinh mang ý nghĩa lớn lao mà Lưu Quang Vũ gửi gắm qua đoạn thoại: Con người liệu có thể giữ cho mình những giá trị tinh thần cao quý khi chấp nhận sống chung với sự dung tục, có tránh được sự tha hóa khi thường? Trương Ba có được cuộc sống nhưng đấy là một cuộc sống đáng xấu hổ vì phải sống nhờ vào thân xác thô kệch của anh hàng thịt, bị nó chi phối, đồng hóa thậm chí lôi kéo, thỏa hiệp trong cách sống giả dối với mình, với người.

Phải trú nhờ trong thân xác hàng thịt, mặc dù một mực khẳng định Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn, nhưng rõ ràng như lời của xác hàng thịt đã nói: Tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục . Sự quy phục đó đã làm cho hồn Trương Ba trở nên khác lạ trong mắt mọi người.

Từ sự thay đổi tất yếu đó nhà viết kịch lưu Quang Vũ muốn gửi gắm triết lí sâu xa: Linh hồn và thể xác là hai phương diện tồn tại trong mỗi con người. Có thể nào sống mà không cần đến dáng hình, thân thể? Nhưng có lẽ nào đời sống của con người chỉ thu gọn lại trong những nhu cầu thuần túy bản năng?

Đừng bỏ bê thân xác để chỉ biết đến một thứ linh hồn chung chung trừu tượng không thuộc về một ai trên cõi thế gian này. Cũng đừng chạy theo những khát thèm của thân xác mà trở về với hồng hoang nguyên thủy. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và xác thịt chính là cuộc đấu tranh giữa đạo đức và tội lỗi, giữa khát vọng và dục vọng, giữa phần người và phần con trong mỗi con người.

Số 10: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác

Sinh ra trong thời kỳ lịch sử nhiều biến động, động lực xui khiến Lưu Quang Vũ làm thơ, sáng tác kịch chính là “muốn được tham dự và dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến”. Với bản lĩnh của một người cầm bút luôn khao khát được là mình, viết những gì trái tim mình đau nhói, Lưu Quang Vũ không ngần ngại lách sâu ngòi bút vào hiện thực để phản ánh những vấn đề thời sự mang ý nghĩa triết lí và có tầm phổ quát. Qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, tác giả đã ngầm gửi gắm những thông điệp hết sức sâu sắc về mối quan hệ giữa hồn và xác.

Ông Trương Ba là một người làm vườn, khoảng 50 tuổi, sống trung thực, ngay thẳng và giỏi đánh cờ. Tính tình ông nhân hậu, sống chan hòa với mọi người. Chỉ vì do sự cẩu thả và tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu trên thiên đình mà ông Trương Ba phải chết oan. Tiên cờ Đế Thích bực bội và vì tiếc một người có tài chơi cờ nên đã hóa phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt vừa mới chết một ngày. Hồn Trương Ba từ đó sống trong thân xác của anh hàng thịt. Ai cũng ngỡ đó là cách giải quyết thuận lợi cho Trương Ba, để cho con người hiền lành này tiếp tục sống êm ấm trong gia đình mình. Nhưng trớ trêu thay, chính sự tái sinh trong xác người khác lại là điều bất hạnh của Trương Ba.

Trong chính gia đình mình, ông bị người thân chê trách, xa lánh và coi thường. Hồn Trương Ba bị dồn vào sự đau khổ nhất: tự mình ý thức được sự tha hóa của mình, bị cường hào nhũng nhiễu, nhìn thấy con trai hư hỏng mà không dạy dỗ được,… Tất cả những điều đó đã khiến ông không thể chịu đựng được nữa, không thể khuất phục trước thể xác, trước những cái xấu xa và tự đánh mất mình. Hồn Trương Ba không thể sống chung với xác anh hàng thịt, tách ra khỏi thân xác để tranh luận.

Do sự tắc trách của Nam Tào và Bắc Đẩu mà Trương Ba phải chết oan, Đế Thích đã giúp Trương Ba sống lại bằng cách nhập hồn ông vào xác hàng thịt. Thế nhưng, điều đó lại vô tình đưa Trương Ba vào một nghịch cảnh khác khi linh hồn mình phải trú nhờ thân xác người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình.

Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác hàng thịt: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi!”. Lời thoại của hồn là các câu cảm thán ngắn, lời văn dồn dập, hối thúc thể hiện tâm trạng căng thẳng, bức bách đau khổ, dằn vặt đến cùng cực, không thể chịu đựng sự dày vò hơn được nữa. Nghe hồn tự độc thoại, xác lên tiếng ngay: “Ông không tách ra khỏi tôi được đâu”.

Trong khi hồn vừa phủ định vừa khinh miệt, cho rằng xác thịt “không có tiếng nói” mà chỉ là “cái vỏ bên ngoài” không có tư tưởng, không có cảm xúc, xác khẳng định lại vị trí và tác động của mình: “Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy”. Sau những lời khinh miệt của xác, hồn lại tiếp tục châm chọc: “Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại”. Với bằng chứng cụ thể, hồn xấu hổ và kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày”.

Nếu như hồn liên tục chối bỏ thì xác lại ngang nhiên thừa nhận Trương Ba cũng đầy thú tính, có những nhu cầu thân xác và hưởng lạc. Từng bước, xác dẫn dắt hòn vào sự thật không thể phủ nhận: hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của thân xác. Lúc này, lời thoại của hồn ngập ngừng như bị hụt hơi: “Ta… ta đã bảo mày im đi”. Hồn bị dồn vào chân tường để buộc phải công nhận sự chế ngự của thân xác.

Xác nhấn mạnh vào sự thật mà hồn đang muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy tình huống kịch lên đến cao trào. Hồn chỉ còn cố gắng biện minh, chống chế cứu vãn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”. Xác còn dừng những lời lẽ sắc lẹm để vạch trần nỗi đau đang tấy mủ trong hồn. Đó là nhờ sức mạnh của xác mà hồn có thể “tát thằng con tóe máu mồm máu mũi”. Biết hồn đã bị dồn vào thế bí, xác ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống, dụ hồn vào “trò chơi tâm hồn”. Đến lúc này, hồn tuyệt vọng chỉ còn biết than trời bất lực.

Do phải sống nhờ thể xác của anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của thể xác. Đáng sợ hơn, linh hồn Trương Ba dần bị nhiễm những thứ tầm thường của xác anh hàng thịt. Ý thức được điều đó, linh hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt để tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào thể xác.

Xác hàng thịt biết rõ những cố gắng đó là vô ích nên đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên bố về sức mạnh âm u, đui mù ghê gớm của mình, ve vãn hồn Trương Ba thỏa hiệp với mình vì theo xác hàng thịt thì chẳng còn cách nào khác, cả hai đã hòa vào nhau làm một rồi. Trước những lí lẽ ti tiện của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đã nổi giận, đã khinh bỉ, mắng mỏ xác hèn hạ nhưng đồng thời cũng ngậm ngùi thấm thía nghịch cảnh mà mình đang lâm vào, đành nhập trở lại xác thịt trong tuyệt vọng.

Xây dựng hai nhân vật đặc biệt này, Lưu Quang Vũ đã sử dụng biện pháp đối lập để tô đậm sự khác nhau cơ bản giữa hồn người này và xác người kia. Ông Trương Ba vốn là một người làm vườn chất phác, hiền lành, nho nhã. Hồn của Trương Ba biểu tượng cho sự thanh nhã, cao khiết, trong sạch, đạo đức. Hồn là phần chân chính của mỗi con người. Ngược lại, anh hàng thịt với thân xác vạm vỡ, kềnh càng, thô lỗ,… biểu tượng cho bản năng, cho những ham muốn trần tục.

Đây thực ra là một ẩn dụ, xác anh hàng thịt ẩn dụ về thể xác con người, còn hồn Trương Ba ẩn dụ về linh hồn của con người. Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống ẩn dụ có sức lôi cuốn, gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc: con người không thể sống không là mình, không thể sống giả dối hay vay mượn cuộc sống của người khác. Con người không chỉ sống bằng thể xác và còn phải sống bằng linh hồn, tình cảm,… Độ vênh của linh hồn và thể xác sẽ là bi kịch.

Qua màn đối thoại giữa hồn và xác, Lưu Quang Vũ cũng gửi gắm những quan niệm mới mẻ về con người: con người là một thể thống nhất giữa hồn và xác, bên ngoài và bên trong, cái cao cả và cái trần thế. Vì thế, cuộc sống con người chỉ có ý nghĩa nếu dung hòa được giữa đời sống vật chất và tinh thần. Nếu đề cao tinh thần mà phủ định những nhu cầu bản năng là phi nhân bản, phản nhân văn. Còn khi chỉ chạy theo những dung vọng tầm thường, con người sẽ tự hạ thấp mình xuống lối sống dung tục, bản năng.

Cuộc đối thoại giữa hồn và xác chính là xung đột diễn ra trong bản thân nhân vật, hai phần trong một con người. Giữa xác hàng thịt và hồn Trương Ba có sự đối lập giữa nhiều yếu tố như tốt – xấu, thanh cao – phàm tục, bản năng – lý trí,… Qua đây, Lưu Quang Vũ muốn khẳng định: không gì hạnh phúc bằng khi được sống đúng là mình, sống với những gì mình đã có. Như thế cuộc đời sẽ thanh thản, nhẹ nhàng và ý nghĩa biết bao. Cuộc sống thật đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được. Cuộc sống chỉ có giá trị khi con người được trở về đúng bản chất của mình, được sống trong một cơ thể thống nhất.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn và xác chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.