Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất

Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất
Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất
4.7/5 - (16 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích trong tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Dàn ý phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

I. Mở bài

Cuộc hội thoại giữa hồn Trương 3 và xác anh hàng thịt trong “Hồn Trương 3, da hàng thịt” là 1 màn hội thoại góp phần tăng trưởng cao trào của vở kịch nhưng mà còn có trị giá và ý nghĩa nhân bản bự.

II. Thân bài

– Đối tượng Trương 3 là 1 hình tượng điển hình đại diện cho vẻ đẹp của 1 tâm hồn thiện lương và trắng trong.

– Lúc ông bị chết oan do Nam Tào gạch sai tên họ, được nhập vào xác hàng thịt để sống lại cuộc đời mới cũng là khi thảm kịch xảy ra:

+ Trương 3 phát triển thành hậu đậu, tục tĩu lúc sống trong xác người hàng thịt

+ Trước sự chỉnh sửa của Trương 3 → Người nhà tuyệt vọng, buồn bực, xa lánh ông.

+ Trương 3 đau buồn, day dứt lúc phải sống trong tình cảnh bi hài nhưng mà xấu số đó.

→ Mong muốn được tách ra khỏi xác người hàng thịt.

– Hội thoại với xác người hàng thịt:

+ Xác anh hàng thịt lên tiếng mai mỉa

+ Hồn Trương 3 cũng ko chịu khuất phục những lời nói đay nghiến và tàn nhẫn kia của anh hàng thịt → Đưa ra phép tắc của mình.

+ Xác anh hàng thịt đều mang nét châm chọc, chỉ trích vong hồn Trương 3→ Trương 3 đau lòng, đuối lý, kẻ chiến bại trong cuộc đối thoại.

– Hội thoại với Đế Thích:

+ Trương 3 muốn sống là mình chu toàn

+ Đế Thích khuyên Trương 3 nghĩ suy lại vì được sống vốn là điều đáng quý.

– Ý nghĩa giáo dục mang tri nhân bản của cuộc thoại:

+ Cuộc tranh đấu giữa vong hồn và thân xác là cuộc tranh đấu giữa ý thức và vật chất, giữa đạo đức và tội trạng, giữa phần ” con” và phần ” người” trong 1 bản thể

+ Con người muốn phát triển thành có trị giá, cần phải dung hoà cả bề ngoài và nội dung

+ Phê phán những lối sống chạy theo bề ngoài

III. Kết bài

Bằng tiếng nói hội thoại giàu tính triết lý, cảnh huống kịch lôi cuốn, hấp dẫn người xem, Nguyễn Quang Vũ đã hình thành 1 màn hội thoại rực rỡ, đem lại cho người đọc những suy ngẫm, dư ba khó phai.

Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất

Số 1: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

Lưu Quang Vũ là nhà soạn kịch tài năng của nền nghệ thuật tiên tiến Việt Nam. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là 1 trong những tác phẩm tạo được tiếng vang béo nhất của Lưu Quang Vũ. Tác phẩm đã suy tôn vẻ đẹp tâm hồn công nhân trong cuộc chiến đấu với những cám dỗ, khát vọng được sống là chính mình. Ý nghĩa đó được trình bày sống động và chân thực qua cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích.

Lưu Quang Vũ là người nghệ sĩ đa tài. Ông đã từng sáng tác thơ nhưng mà được biết tới nhiều hơn với nhân cách là nhà soạn kịch. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở kịch được viết từ 5 1981, tới 5 1984 hoá ra mắt công chúng. Vở kịch này được viết dựa trên 1 câu chuyện dân gian, song đã có những chỉnh sửa, thêm những cốt truyện tăng trưởng khiến cho tầng ý nghĩa của câu chuyện càng sâu hơn. Cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích thuộc ảnh VII và Đoạn kết của vở kịch.

Khi gặp được Đế Thích, Trương Ba đã bộc bạch ước vọng: “Tôi chẳng thể tiếp diễn mang thân anh hàng thịt được nữa, chẳng thể được!”. Chữ “chẳng thể” được lặp lại 2 lần trình bày phấn đấu, ý chí đanh thép của Trương 3 lúc quyết định rời khỏi thể xác của anh hàng thịt. Trước thái độ kinh ngạc, bất thần của Đế Thích, Trương Ba tiếp diễn nói lên ý kiến sống cao đẹp: “Không thể bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo được”. Câu giảng giải là sự thú nhận nghịch cảnh nhưng Trương Ba đã phải chịu đựng: trong ngoài bất nhất. Bên trong là tâm hồn cao khiết, tư cách cao đẹp; bên ngoài lại là xác thịt lỗ mãng, là những dục vọng, bản năng.

Sự bất nhất là do vong linh của Trương Ba đã nhiều lần thỏa hiệp với bản năng. Đây chính là điều đã đè nặng lên tâm hồn Trương Ba, khiến ông trằn trọc, đau buồn và dằn vặt. Từ đấy, Trương Ba đã nêu lên khát vọng chính đáng của mình: “Tôi muốn được là tôi kiêm toàn”. “Toàn vẹn” là sự hài hòa của bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn và thân xác. Trương Ba muốn hồn mình phải được thống nhất với xác của mình để được sống cho đúng nghĩa. Đối với Trương Ba, sống ko chỉ là còn đó, nhưng sống phải là chính mình, làm những điều mình mong muốn, quay về là mình kiêm toàn lúc xưa.

Trước những đề xuất, lập luận của Trương Ba, Đế Thích vẫn tỏ thái độ kinh ngạc, cảm thấy khó hiểu trước nghĩ suy kì dị đó: “Có gì ko ổn đâu !”, “Nhưng nhưng ông muốn gì ?”. Đế Thích còn khuyên Trương Ba nên bằng lòng cuộc sống hiện nay bởi: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình kiêm toàn cả ư ? […] Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông.”

Đế Thích cho rằng tất cả mọi người đều đang sống trong cảnh ngộ trong ngoài bất nhất, nên hãy bằng lòng, học cách thỏa hiệp với hiện nay. Những chứng dẫn nhưng Đế Thích đưa ra trình bày 1 ý kiến: sống là còn đó, còn còn đó như thế nào thìa là do cảnh ngộ, điều kiện bao quanh; con người chẳng thể chỉnh sửa cảnh ngộ nhưng chỉ có thể quy thuận dù là điều mình ko mong muốn. Xét vào thực tại cuộc sống, đây là ý kiến được nhiều người san sớt dù nó mang hơi hám thụ động.

Không bằng lòng lời giảng giải, lập luận của Đế Thích, Trương Ba đã thẳng thắn lên án thái độ sống đó: “Ông chỉ nghĩ dễ dàng là cho tôi sống, nhưng mà sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời thoại đã thẳng thắn lên án hành động và nghĩ suy sai lầm của Đế Thích. Sống ko chỉ là còn đó thuần tuý, là thuận theo bản năng và cảnh ngộ nhưng đấy phải là cuộc sống có nghĩa, sống là mình, là sự vượt lên những vui thích phổ biến để bảo vệ những trị giá then chốt của vong linh cao đẹp.

Đoạn hội thoại phía sau là sự chiến đấu giữa “còn đó hay ko còn đó”. Đáp trả lại câu hỏi của Đế Thích, Trương Ba bộc bạch ước vọng: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lẽ y nguyên đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy khiến cho hồn anh ta được sống lại với thể xác này”. Đế Thích lại cho rằng như thế là ko phù hợp: “Sao có thể đổi tâm hồn đáng quý của bác lấy chỗ cho cái phần hồn phổ biến của anh hàng thịt ?”. Trương Ba lại không chấp nhận: “Phổ biến, nhưng mà đúng là của anh ta… chúng sinh ra là để sống với nhau”.

Quyết tâm lên cao có thể đẩy lời nói thành những hành động quyết liệt hơn: “Nếu ông ko giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm 1 nhát dao vào cổ, khi đấy thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất”. Sự mạnh bạo, lời nói đầy táo tợn đó ko người nào dễ gì nhưng nói ra được, nhưng mà với Trương Ba, khát vọng “được sống là chính mình” đã thôi thúc tâm hồn cần 1 sự chỉnh sửa để xóa bỏ nghịch cảnh 1 cách triệt để: cái chết. Chỉ lúc chết đi, Trương Ba mới có thể là Trương Ba, tâm hồn cao khiết được bảo toàn toàn vẹn, chính mình được thanh thản và để đổi lấy sự hồi sinh của 1 người chồng, 1 người cha, 1 người ông trong trái tim những người ông yêu mến.

Xen vào giữa cuộc hội thoại là tiếng khóc của cái Gái và sự ra đi của thằng cu Ganh. Đế Thích muốn Trương Ba nhập hồn vào xác cu Ganh: “Ông sống trong thể xác thằng nhỏ chắc sẽ ổn”. Câu nói này lại 1 lần nữa trình bày lối nghĩ suy nông cạn, thiếu 9 chắn của Đế Thích. Thực chất, Đế Thích lại 1 lần nữa đồng hóa khái niệm của “sống” và “còn đó”. Trước đề xuất đó, Trương Ba đã có 1 hồi chần chừ. Với Trương Ba, sống vẫn đáng quý, Trương Ba vẫn muốn được tiếp diễn sống. Nhưng những nghĩ suy quanh quẩn về những ngày sống dưới xác hàng thịt, những mường tưởng mai sau lúc cư trú trong xác cu Ganh, Trương Ba đã đi tới quyết định: “Tôi chẳng thể cướp cái cơ thể non nớt của cu Ganh”, “Ông hãy cứu nó! Ông phải cứu nó!… vì con nít…

Ông hãy giúp tôi lần chung cuộc”. Quan niệm sống cao đẹp càng sáng ngời phê duyệt lời hội thoại: “Có những cái sai chẳng thể sửa được. Chắp vá gượng gạo ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng 1 việc đúng khác”. Đoạn hội thoại ko chỉ làm sáng lên 1 tư tưởng sống mang tính vĩnh hằng: “sống là chính mình” nhưng còn phê phán lối sống: “sống là còn đó” và lên án sự làm việc tắc trách của những bậc làm quan.

Đoạn hội thoại chính là phân đoạn tăng trưởng thêm so với tình tiết gốc. Bằng tài năng dựng cảnh, dựng hội thoại, độc thoại nội tâm, Lưu Quang Vũ đã cho người đọc những chân lý sống cực kỳ quý giá. Chân lý sống đó ko chỉ đúng với thời đại đấy, với những con người trong cảnh ngộ đấy nhưng nó có ý nghĩa với tất cả mọi người, ở mọi thời đại, trên khắp nẻo đường ngõ xóm. Chính điều này đã nâng giá tiền trị cho tác phẩm của Lưu Quang Vũ, để tới sau này, vở kịch vẫn sẽ được dựng lại như sự lưu danh 1 nhà soạn kịch tài năng và là lời nhắn nhủ tới những lứa tuổi sau về 1 quan niệm sống tốt đẹp.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 2: Phân tích hồn Trương Ba và Đế Thích

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam hiện đại, là người có công lớn góp phần vực dậy cả một nền sân khấu lúc đó đang có nguy cơ tụt hậu. Kịch của Lưu Quang Vũ hấp dần chủ yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó khẳng định khát vọng hoàn thiện nhân cách con người.

Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ, được tác giả hoàn thành năm 1984, công diễn lần đầu năm 1987. Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo và chữa đựng những vấn đề triết lí nhân sinh. Qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ đã làm rõ khát vọng được sống là chính mình của Hồn Trương Ba

Sự đối nghịch giữa các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm ngày càng được biểu hiện chi tiết, cuộc đối thoại giữa các nhân vậy xuất hiện trong tác phẩm đã biểu hiện chi tiết những điều đó.

Sự khác nhau đến rõ nét đã biểu hiện chi tiết những điều đó, Trương Ba thấy hiểu được giá trị to lớn, khao khát được quay trở về xác thịt của mình: “Tôi muốn được là tôi trọn vẹn”, “Là tôi trọn vẹn”, ông thấu hiểu được mối quan hệ giữa thể xác và tâm hồn của mình, sự dằng xé giữa thể xác và tâm hồn của ông đã làm cho ông đau khổ, dằn vặt, ông muốn quay trở về đúng xác thịt của mình, sống cuộc đời của mình, ông thấu hiểu được giá trị của cuộc sống mà mình đang trải qua.

Điều ước mà Trương Ba đang mong muốn dù nhỏ bé nhưng cũng không phải dễ dàng, Trương ba dường như đang truyền tải được triết lý mà tác giả muốn thể hiện trong tác phẩm của mình, ông thể hiện được những khao khát, mong muốn ước vọng của mình với thân xác, ông khao khát quay trở về là chính mình.

Ông dám nhận toàn bộ trách nhiệm về mình, không muốn sống nhờ, không muốn sống cuộc sống trên thân thể của người khác, qua trích đoạn này, tác giả muốn khẳng định khao khát mà tác giả đang thể hiện, mong ước được trở thành chính mình, khao khát nhận được những gì của mình, chấp nhận hiện thực, miễn sao không phải sống trên thân thể của người khác là được.

Ai cũng khao khát được sống, nhưng sống là chính mình là cuộc sống đáng quý nhất, chính vì thế ông muốn “là tôi trọn vẹn”, sống cuộc đời của mình, trên thân xác của mình, chịu trách nhiệm trước hành động của mình.

Hồn Trương Ba khao khát muốn quay trở về cuộc sống của mình, khi được cho một phép thử nhập vào xác của cu tỵ, thì hình hài và tâm hồn dường như đang thể hiện sâu sắc những mâu thuẫn, cạnh tranh giữa tâm hồn, với tâm hồn của người 60 tuổi, khi nhập vào em bé 10 tuổi, điều này, sự mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Những mâu thuẫn đó thể hiện sâu sắc qua từng chi tiết, hành động của nhân vật, ông không chấp nhận cuộc sống này, cuộc sống đó vốn dĩ có nhiều mâu thuẫn, nhưng sống sang thân thể người khác là điều cực kì khó hơn, ông không thể chấp nhận được, lựa chọn của Trương Ba lúc này là muốn quay trở lại là chính mình, ông không muốn sống lương nhờ vào người khác, không muốn sống trên thân thể của người khác. Đó là sự đấu tranh rất lớn khi ông đang dần phải đối mặt với những mâu thuẫn gây gắt của thể xác và tâm hồn xuất hiện trong tác phẩm.

Sự mâu thuẫn giữa hai con người làm cho mâu thuẫn của tác phẩm ngày càng nâng cao, Đế thích quan niệm sống chỉ là sống, nhưng Hồn Trương Ba lại quan niệm nên sống là chính mình, làm tôi chọn vẹn, được hòa hợp cả về thể xác, lẫn tinh thần.

Con người tồn tại gồm phần con và phần người. Phần con thuộc về bản năng. Phần người thuộc về nhân cách, sự cao thượng đẹp đẽ của tâm hồn. Phần con và phần người đã tạo ra con người đúng nghĩa. Ở đây hai hình tượng hồn và xác cũng là ẩn dụ cho phần con và phần người. Một bên đại diện cho những gì đẹp đẽ, thanh cao; một bên đại diện cho sự thô tục, thô phàm.

Tác giả Lưu Quang Vũ nhấn mạnh không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục. Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được sống là chính mình, được hoà hợp xác và hồn, trong và ngoài, nội dung và hình thức trong một thể thống nhất toàn vẹn chứ không phải là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

Muốn sống đúng là chính mình thì mỗi chúng ta cần phải biết hài hoà giữa việc chăm lo cho linh hồn cũng như biết quý trọng và chăm sóc cho những nhu cầu thiết yếu của thể xác. Thông qua đó Lưu Quang Vũ cũng góp phần phê phán hai hạng người: một loại chỉ biết trau chuốt vẻ ngoài và chạy theo những ham muốn vật chất mà không chăm lo cho đời sống tâm hồn. Loại khác thì luôn coi thường những giá trị vật chất, bỏ bê sự chăm sóc bản thân chỉ khư khư giữ cho linh hồn được cao đẹp.

Thông qua xác và hồn Lưu Quang Vũ nêu cao tư tưởng phải sống là chính mình đó mới chính là hạnh phúc thật sự của con người. Bởi vậy trong cuộc sống chúng ta phải biết đấu tranh với sự dung tục tầm thường và chiến thắng nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Có như vậy chúng ta mới được là mình – được là chính mình toàn vẹn.

Vẻ đẹp tâm hồn là thước đo to lớn giúp cho họ thoát khỏi những thứ dung tục, những ham muốn đời thường của con người. Được sống là quan trọng nhưng sống là chính mình còn quan trọng hơn, chính vì vậy, Lưu Quang Vũ đã thể hiện và hản ánh được giá trị hiện thực của xã hội qua những tình huống truyện độc đáo, qua những mâu thuẫn sâu sắc xuất hiện trong tác phẩm. Cuối cùng thì ông cũng muốn truyền tải thông điệp: “Dù cuộc sống có khó khăn, trắc trở bạn hãy giữ vững khát vọng được sống là chính mình”.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 3: Phân tích hồn Trương Ba với Đế Thích

Lưu Quang Vũ là nhà soạn kịch tài năng của nền nghệ thuật hiện đại Việt Nam. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những tác phẩm tạo được tiếng vang lớn nhất của Lưu Quang Vũ. Tác phẩm đã tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh với những cám dỗ, khát vọng được sống là chính mình. Ý nghĩa ấy được thể hiện chân thực và sống động qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích.

Lưu Quang Vũ là người nghệ sĩ đa tài. Ông đã từng sáng tác thơ nhưng được biết đến nhiều hơn với tư cách là nhà soạn kịch. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở kịch được viết từ năm 1981, đến năm 1984 thì ra mắt công chúng. Vở kịch này được viết dựa trên một câu chuyện dân gian, song đã có những thay đổi, thêm những tình tiết phát triển làm cho tầng ý nghĩa của câu chuyện càng sâu hơn. Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích thuộc ảnh VII và Đoạn kết của vở kịch.

Khi gặp được Đế Thích, Trương Ba đã bày tỏ nguyện vọng: “Tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!”. Chữ “không thể” được lặp lại hai lần thể hiện quyết tâm, ý chí sắt đá của Trương ba khi quyết định rời khỏi thân xác của anh hàng thịt. Trước thái độ ngạc nhiên, bất ngờ của Đế Thích, Trương Ba tiếp tục nói lên quan điểm sống cao đẹp: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được”. Câu giải thích là sự thú nhận nghịch cảnh mà Trương Ba đã phải chịu đựng: trong ngoài bất nhất. Bên trong là tâm hồn cao khiết, nhân cách cao đẹp; bên ngoài lại là xác thịt thô tục, là những dục vọng, bản năng.

Sự bất nhất là do linh hồn của Trương Ba đã nhiều lần thỏa hiệp với bản năng. Đây chính là điều đã đè nặng lên tâm hồn Trương Ba, khiến ông trăn trở, đau khổ và dằn vặt. Từ đó, Trương Ba đã nêu lên khát vọng chính đáng của mình: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. “Toàn vẹn” là sự hài hòa của bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn và thể xác. Trương Ba muốn hồn mình phải được hợp nhất với xác của mình để được sống cho đúng nghĩa. Đối với Trương Ba, sống không chỉ là tồn tại, mà sống phải là chính mình, làm những điều mình mong muốn, trở lại là mình toàn vẹn khi xưa.

Trước những yêu cầu, lập luận của Trương Ba, Đế Thích vẫn tỏ thái độ ngạc nhiên, cảm thấy khó hiểu trước suy nghĩ kì lạ ấy: “Có gì không ổn đâu !”, “Nhưng mà ông muốn gì ?”. Đế Thích còn khuyên Trương Ba nên chấp nhận cuộc sống hiện tại bởi: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư ? […] Dưới đấtt, trên trời đều thế cả, nữa là ông.”

Đế Thích cho rằng tất cả mọi người đều đang sống trong hoàn cảnh trong ngoài bất nhất, nên hãy chấp nhận, học cách thỏa hiệp với hiện tại. Những dẫn chứng mà Đế Thích đưa ra thể hiện một quan điểm: sống là tồn tại, còn tồn tại như thế nào thì là do hoàn cảnh, điều kiện xung quanh; con người không thể thay đổi hoàn cảnh mà chỉ có thể quy thuận dù là điều mình không mong muốn. Xét vào thực tại cuộc sống, đây là quan điểm được nhiều người chia sẻ dù nó mang hơi hướng tiêu cực.

Không chấp nhận lời giải thích, lập luận của Đế Thích, Trương Ba đã thẳng thừng lên án thái độ sống ấy: “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời thoại đã thẳng thừng lên án hành động và suy nghĩ sai trái của Đế Thích. Sống không chỉ là tồn tại đơn thuần, là thuận theo bản năng và hoàn cảnh mà đó phải là cuộc sống có nghĩa, sống là mình, là sự vượt lên những vui thích tầm thường để bảo vệ những giá trị cốt lõi của linh hồn cao đẹp.

Đoạn đối thoại phía sau là sự đấu tranh giữa “tồn tại hay không tồn tại”. Đáp trả lại câu hỏi của Đế Thích, Trương Ba bày tỏ nguyện vọng: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này”. Đế Thích lại cho rằng như thế là không thích hợp: “Sao có thể đổi tâm hồn đáng quý của bác lấy chỗ cho cái phần hồn tầm thường của anh hàng thịt ?”. Trương Ba lại bác bỏ: “Tầm thường, nhưng đúng là của anh ta… chúng sinh ra là để sống với nhau”.

Quyết tâm lên cao có thể đẩy lời nói thành những hành động quyết liệt hơn: “Nếu ông không giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất”. Sự mạnh mẽ, lời nói đầy táo bạo ấy không ai dễ gì mà nói ra được, nhưng với Trương Ba, khát vọng “được sống là chính mình” đã thôi thúc tâm hồn cần một sự thay đổi để xóa bỏ nghịch cảnh một cách triệt để: cái chết. Chỉ khi chết đi, Trương Ba mới có thể là Trương Ba, tâm hồn cao khiết được bảo toàn trọn vẹn, chính mình được thanh thản và để đổi lấy sự hồi sinh của một người chồng, một người cha, một người ông trong trái tim những người ông yêu quý.

Xen vào giữa cuộc đối thoại là tiếng khóc của cái Gái và sự ra đi của thằng cu Tị. Đế Thích muốn Trương Ba nhập hồn vào xác cu Tị: “Ông sống trong thân xác thằng bé chắc sẽ ổn”. Câu nói này lại một lần nữa thể hiện lối suy nghĩ hời hợt, thiếu chín chắn của Đế Thích. Thực chất, Đế Thích lại một lần nữa đồng hóa định nghĩa của “sống” và “tồn tại”. Trước đề nghị ấy, Trương Ba đã có một hồi phân vân. Với Trương Ba, sống vẫn đáng quý, Trương Ba vẫn muốn được tiếp tục sống. Nhưng những suy nghĩ quẩn quanh về những ngày sống dưới xác hàng thịt, những mường tượng tương lai khi trú ngụ trong xác cu Tị, Trương Ba đã đi đến quyết định: “Tôi không thể cướp cái thân thể non nớt của cu Tị”, “Ông hãy cứu nó! Ông phải cứu nó!… vì con trẻ…

Ông hãy giúp tôi lần cuối cùng”. Quan niệm sống cao đẹp càng sáng ngời thông qua lời đối thoại: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng một việc đúng khác”. Đoạn đối thoại không chỉ làm sáng lên một tư tưởng sống mang tính vĩnh hằng: “sống là chính mình” mà còn phê phán lối sống: “sống là tồn tại” và lên án sự làm việc tắc trách của những bậc làm quan.

Đoạn đối thoại chính là phân đoạn phát triển thêm so với cốt truyện gốc. Bằng tài năng dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm, Lưu Quang Vũ đã cho người đọc những chân lý sống vô cùng quý giá. Chân lý sống ấy không chỉ đúng với thời đại đó, với những con người trong hoàn cảnh đó mà nó có ý nghĩa với tất cả mọi người, ở mọi thời đại, trên khắp nẻo đường ngõ xóm. Chính điều này đã nâng tầm giá trị cho tác phẩm của Lưu Quang Vũ, để đến sau này, vở kịch vẫn sẽ được dựng lại như sự lưu danh một nhà soạn kịch tài năng và là lời nhắn nhủ đến những thế hệ sau về một quan niệm sống tốt đẹp.

Số 4: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Từ 5 1978 cho tới lúc mất, ông là chỉnh sửa viên báo chí Sàn diễn. Lưu Quang Vũ tạ thế cùng vợ con trong 1 tai nạn giao thông ác liệt, giữa khi tài năng đang 9 rộ. Ông được bình chọn là 1 trong những nhà viết ông thấu hiểu được giá trị của cuộc sống mà mình đang trải qukịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam đương đại, là người có công bự góp phần vực dậy cả 1 nền sàn diễn khi đấy đang có nguy cơ tụt hậu. Kịch của Lưu Quang Vũ thu hút chủ chốt bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đấy khẳng định khát vọng hoàn thiện tư cách con người. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ, được tác giả chấm dứt 5 1984, công diễn lần đầu 5 1987.

Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo, qua tranh chấp tột bực giữa hồn và xác, vở kịch chứa đựng những vấn đề triết lí nhân sinh: sống nhờ, sống giả, sống chẳng hề là mình, đấy là thảm kịch bự nhất của 1 con người. Để chuyển tải triết lí nhân sinh cao cả đấy, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lên cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt mang đầy tính ẩn dụ thâm thúy.

Ông Trương Ba là 1 người làm vườn, khoảng 50 tuổi, sống thật thà, thẳng thắn và giỏi đánh cờ. Tâm tính ông nhân từ, sống chan hòa với mọi người. Chỉ vì do sự cẩu thả và tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu trên thiên tào nhưng ông Trương Ba phải chết oan. Tiên cờ Đế Thích bực bõ và vì tiếc 1 người có tài chơi cờ nên đã hóa phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt vừa mới chết 1 ngày. Hồn Trương Ba từ đấy sống trong thể xác của anh hàng thịt. Ai cũng ngỡ đấy là cách khắc phục thuận tiện cho Trương Ba, để cho con người hiền từ này tiếp diễn sống đầm ấm trong gia đình mình. Nhưng trái ngang thay, chính sự tái sinh trong xác người khác lại là điều xấu số của Trương Ba.

Trong chính gia đình mình, ông bị người nhà chê trách, xa lánh và khinh thường. Hồn Trương Ba bị dồn vào sự đau buồn nhất: tự mình tinh thần được sự tha hóa của mình, bị cường hào nhũng nhiễu, nhận ra đàn ông hư hỏng nhưng ko dạy bảo được,… Tất cả những điều đấy đã khiến ông chẳng thể chịu đựng được nữa, chẳng thể khuất phục trước thân xác, trước những cái xấu xa và tự đánh mất mình. Hồn Trương Ba chẳng thể sống chung với xác anh hàng thịt, tách ra khỏi thể xác để bàn cãi.

Cuộc bàn cãi giữa 1 bên là hồn, 1 bên là xác diễn ra rất dữ dội và ko có sự thỏa hiệp. Xác hàng thịt tỏ ra lấn át hồn Trương Ba, làm nhục hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba thấy đau buồn tới tột bực và thấy chẳng thể chịu đựng được hơn nữa. Xác hàng thịt muốn khẳng định, địa điểm, vai trò và tầm quan trọng của mình: Tôi là cái bình để chứa đựng vong hồn. Nhờ tôi nhưng ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cỏ, người nhà… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận toàn cầu này qua những cảm quan của tôi… Xác tìm cách thỏa hiệp bằng cách nêu chi tiết những nhu cầu thiên nhiên mang tính bản năng của con người: Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng cạnh vợ tôi, chân tay run rẩy, hơi thở hot ngực, cổ nghẹn lại… Ban đêm đấy, suýt nữa thì… […]

Chẳng lẽ ông ko xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác ko làm hồn ông lâng lâng xúc cảm sao?… Còn hồn Trương Ba lại phủ nhận vai trò của thân xác nhưng khẳng định sự thanh bạch của tâm hồn khác xa với những thủ tục thấp hèn khác: Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, ko có ý nghĩa gì hết, ko có tư tưởng, ko có xúc cảm […] Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ kém cỏi, nhưng bất kỳ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt; Ta vẫn có 1 đời sống riêng: vẹn nguyên, trong lành, ngay thẳng… Lí lẽ của đôi bên đưa ra có những điểm đúng mực khó bề không thừa nhận khiến việc thắng phụ chẳng thể nào đáp ứng được 1 cách mau chóng, dễ ợt.

Do phải sống nhờ thân xác của anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo 1 số nhu cầu hiển nhiên của thân xác. Đáng sợ hơn, vong hồn Trương Ba dần bị nhiễm những thứ bình thường của xác anh hàng thịt. Tinh thần được điều đấy, vong hồn Trương Ba dằn vặt, đau buồn và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt để còn đó độc lập, ko dựa dẫm vào thân xác.

Xác hàng thịt biết rõ những phấn đấu đấy là vô bổ nên đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên bố về sức mạnh u ám, đui mù mù gớm ghê của mình, tán tỉnh hồn Trương Ba thỏa hiệp với mình vì theo xác hàng thịt thì chẳng còn cách nào khác, cả 2 đã hòa vào nhau làm 1 rồi. Trước những lí lẽ đê tiện của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đã nổi nóng, đã khinh bỉ, quở trách xác hèn nhát mà cùng lúc cũng ngùi ngùi thấm thía nghịch cảnh nhưng mình đang lâm vào, đành nhập quay về xác thịt trong thất vọng.

Xây dựng 2 đối tượng đặc thù này, Lưu Quang Vũ đã sử dụng giải pháp đối lập để tô đậm sự không giống nhau căn bản giữa hồn người này và xác người kia. Ông Trương Ba vốn là 1 người làm vườn chân chất, hiền từ, nho nhã. Hồn của Trương Ba tượng trưng cho sự thanh lịch, cao khiết, trong lành, đạo đức. Hồn là phần chân chính của mỗi con người. Ngược lại, anh hàng thịt với thể xác lực lưỡng, to kềnh, thô tục,… tượng trưng cho bản năng, cho những thèm muốn phàm tục.

Đây thực ra là 1 ẩn dụ, xác anh hàng thịt ẩn dụ về thân xác con người, còn hồn Trương Ba ẩn dụ về vong hồn của con người. Tác giả đã thông minh ra 1 cảnh huống ẩn dụ có sức quyến rũ, gợi cho người đọc những nghĩ suy thâm thúy: con người chẳng thể sống ko là mình, chẳng thể sống giả trá hay vay mượn cuộc sống của người khác. Con người ko chỉ sống bằng thân xác và còn phải sống bằng vong hồn, tình cảm,… Độ vênh của vong hồn và thân xác sẽ là thảm kịch.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 5: Phân tích hồn Trương Ba và Đế Thích

Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” có bảy hồi, phần trích học sách giáo khoa là hồi kết. Thông qua bi kịch của Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã mang đến cho người đọc, người xem vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống đích thực và khát vọng hoàn thiện nhân cách. Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã chuyển thể thành vở kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lý và nhân văn sâu sắc. Cuộc đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ đã làm rõ khát vọng được sống là chính mình của Hồn Trương Ba.

Do phải sống nhờ thể xác của hàng thịt, hồn Trương Ba phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay phải sống mượn, lệ thuộc nên bị nhiễm độc bởi sự tầm thường, dung tục của xác thịt thô phàm. Thấm thía nghịch cảnh của bi kịch sống không được là chính mình và bi kịch bị chính những người thân yêu cự tuyệt – Trương Ba đã quyết định châm nhang gọi Đế Thích để quyết chết trả lại sự trong sạch, vẹn nguyên của linh hồn.

“Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”. Lời độc thoại cho thấy cuộc đấu tranh nội tâm vô cùng dữ dội ở Trương Ba. Thực ra cuộc đấu tranh đó đã được tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm qua màn đối thoại giữa Trương Ba và xác hàng thịt. Đó là cuộc đấu tranh giữa xác và hồn; giữa cao cả và đê hèn; giữa tốt và xấu; giữa cao thượng và dung tục; giữa khát vọng và dục vọng. Đó cũng là cuộc đấu tranh để hoàn thiện nhân cách.

Cuộc đấu tranh này phần thắng nghiêng về xác nhưng bản thân hồn Trương Ba đã không chịu lép vế, không khuất phục mà đã tìm mọi cách để được sống là chính mình – đây chính là nhân cách cao đẹp của Trương Ba. “Tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!”. Lời thoại có tới hai lần phủ định “tôi không thể”; “không thể được” cho thấy quyết tâm rời bỏ xác hàng thịt là ý chí sắt đá của Trương Ba khi thấm thía nghịch cảnh trớ trêu của mình.

“Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Câu nói thể hiện nghịch cảnh của Trương Ba, sự bất nhất của cái bên trong và cái bên ngoài: “bên trong” chính là linh hồn, cảm xúc, tư tưởng, nhân cách cao đẹp của Trương Ba. Hồn là sự tinh anh chi phối điều khiển thể xác. Đối lập bên trong là “bên ngoài” – xác thịt thô phàm của anh hàng thịt. Nhưng “cái bên ngoài” cần hiểu theo nghĩa rộng là hoàn cảnh sống, là bản năng, là nhu cầu tự nhiên, là dục vọng bản năng. Sự tha hóa của linh hồn Trương Ba chính là do linh hồn đã nhượng bộ, đã tự bán mình, tự thỏa hiệp với nhu cầu bản năng. Đây chính là sự dằn vặt, đau khổ, trăn trở của Trương Ba. Cả hai không thể hoà hợp bởi không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục tội lỗi.

“Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đây là khát vọng mãnh liệt của Trương Ba, khát vọng được sống hòa hợp. “Toàn vẹn” nghĩa là phải có sự hòa hợp giữa bên trong và bên ngoài, giữa nội dung và hình thức, giữa thể xác và linh hồn. Không thể có cuộc sống nào mà “hồn này xác kia” được. Cuộc sống không thuận theo lẽ tự nhiên, không thuận theo tạo hóa, sống mà không được là chính mình thì đó là một bi kịch nghiệt ngã.

Trương Ba nên chấp nhận cuộc sống ấy vì “dưới đất trên trời đều thế cả”. Đế Thích chỉ ra rằng không chỉ Trương Ba đang sống trong cảnh trong ngoài bất nhất, mà mọi người đều như thế cả. Vì vậy Đế Thích khuyên Trương Ba đừng cố gắng làm viên bi lăn ngược vòng mà hãy chấp nhận, hãy biết cách thỏa hiệp, học cách chấp nhận.

Đế Thích đã lấy tâm lý đám đông để áp đặt lên quan điểm sống của mình. Đế Thích lấy dẫn chứng về chính ông ta và Ngọc Hoàng cũng không thể sống là chính mình: “Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo như những gì tôi nghĩ ở bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa. Chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng”. Như vậy, theo Đế Thích thì: “không ai được sống là chính mình”. Tài liệu của thầy Phan Danh Hiếu. Bởi sống có nghĩa là tồn tại, còn tồn tại như thế nào thì còn do hoàn cảnh, điều kiện mà con người buộc phải quy thuận. Đây là quan niệm sống sai lầm đáng lên án.

Trương Ba đưa ra sự so sánh đồ đạc, vật chất và bản thân. “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên, đằng này cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt”. Đồ đạc, của cải vật chất mượn của người khác đã là chuyện không nên; còn sống nhờ, sống gửi, sống ký sinh vào thân xác của kẻ khác là điều xấu hổ đáng lên án. Trương Ba thẳng thắn: “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời thoại đã chỉ trích quan niệm sai lầm của Đế Thích bởi suy nghĩ đơn giản về cuộc sống. Với Đế Thích, sống là tồn tại còn tồn tại như thế nào thì không cần biết. Với Trương Ba, sống không chỉ là sự tồn tại sinh học mà sự tồn tại ấy còn phải là sự tồn tại có ý nghĩa.

Những lời thoại của Trương Ba và Đế Thích ở phần này chủ yếu thiên về cuộc đấu tranh của Trương Ba – đó là cuộc đấu tranh vượt lên nghịch cảnh để chiến thắng bản thân bảo vệ linh hồn cao đẹp. “Thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này”. Nhưng Đế Thích bác bỏ vì Đế Thích cho rằng tâm hồn đáng quý của Trương Ba không thể thay thế cho phần hồn tầm thường của anh hàng thịt. Trương Ba lập luận rằng: “Tầm thường, nhưng đúng là của anh ta… chúng sinh ra là để sống với nhau”. Để khẳng định với quyết tâm của mình Trương Ba trở nên mạnh mẽ: “Nếu ông không giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất”.

Ý chí mạnh mẽ của Trương Ba xuất phát từ khát vọng “được sống là chính mình”, và để “được sống là chính mình” lúc này, Trương Ba không có con đường nào khác là cái chết. Vì chỉ khi chết đi, ông mới thực sự là chính mình, mới hoàn nguyên được vẻ đẹp cao khiết của linh hồn mình. Với Trương Ba, thiên đường đẹp nhất để linh hồn có thể trú ngụ sau khi chết chính là phục sinh trong trái tim của những người yêu quý ông.

Đế Thích muốn Trương Ba nhập hồn vào xác cu Tị: “Ông sống trong thân xác thằng bé chắc sẽ ổn”. Câu nói này của Đế Thích một lần nữa cho thấy lối suy nghĩ đơn giản, phiến diện – sống là sự tồn tại. Thực chất của lối suy nghĩ này là xuất phát từ chính cuộc sống của Đế Thích. Tiên phật thánh thần chẳng bao giờ chết cho nên sống là để hưởng thụ. Lối sống này ảnh hưởng trực tiếp lên tư tưởng ấy dẫn đến những sai lầm của Đế Thích.

Trước yêu cầu của Đế Thích, Trương Ba ngập ngừng: “Ông cho tôi suy nghĩ một lát đã”. Sự phân vân của Trương Ba cho thấy: sống là đáng quý thật, được tồn tại mãi mãi là điều còn quý giá hơn. Sự phân vân này cũng cho thấy Trương Ba rất ham sống, vẫn muốn được sống. Trương Ba lại tiếp tục trải qua cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Ông hình dung thấy trước mắt là cuộc sống tương lai của mình trong cơ thể của một thằng bé lên mười: “Có khi tôi còn phải sang nhà chị Lụa ở… Bà vợ tôi, các con tôi sẽ nghĩ ngợi, xử sự thế nào, khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên mười…”.

Trương Ba thấy mọi sự vô lí nhất là khi ông nhìn thấy được sự cô đơn của bản thân khi: “Vẫn phải sống suốt bao năm tháng dằng dặc. Mình tôi giữa đám người hậu sinh… Tôi sẽ như ông khách ngồi ở nhà người ta… Tôi sẽ bơ vơ lạc lõng”. Điều khiến chúng ta trân trọng ở Trương Ba đó chính là tâm hồn ông cao thượng: “Tôi không thể cướp cái thân thể non nớt của cu Tị” và cũng chính cái chết của cu Tị cùng với khát vọng được cứu sống thằng bé đã khiến Trương Ba trở nên mạnh mẽ. Trương Ba lên tiếng khẩn khoản cầu cứu Đế Thích “Ông hãy cứu nó! Ông phải cứu nó!… vì con trẻ… Ông hãy giúp tôi lần cuối cùng”.

Đế Thích vẫn muốn Trương Ba tiếp tục tồn tại nhưng Trương Ba đã thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng một việc đúng khác”. Ông cũng khuyên nhủ Đế Thích phải làm cho bằng được việc đúng, đó chính là làm cho cu Tị được sống lại. Những suy nghĩ tốt đẹp của Trương Ba và đức hi sinh cao thượng của ông cuối cùng cũng thay đổi được tư duy của Đế Thích. Cu Tị được sống còn Trương Ba trở về với chính mình chứ không còn là “cái vật quái gở mang tên hồn Trương Ba, da hàng thịt nữa”.

Hồn Trương Ba nhập vào cảnh vật quen thuộc trong gia đình và gắn bó trong trái tim những người yêu thương ông. Trương Ba đã phục sinh linh hồn mình trong trái tim của những người yêu thương. Linh hồn ông mãi mãi bất tử trong màu xanh cây vườn và bất tử trong những người yêu mến ông.

Con người tồn tại gồm phần con và phần người. Phần con thuộc về bản năng. Phần người thuộc về nhân cách, sự cao thượng đẹp đẽ của tâm hồn. Phần con và phần người đã tạo ra con người đúng nghĩa. Ở đây hai hình tượng hồn và xác cũng là ẩn dụ cho phần con và phần người. Một bên đại diện cho những gì đẹp đẽ, thanh cao; một bên đại diện cho sự thô tục, thô phàm. Tác giả Lưu Quang Vũ nhấn mạnh không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục. Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được sống là chính mình, được hoà hợp xác và hồn, trong và ngoài, nội dung và hình thức trong một thể thống nhất toàn vẹn chứ không phải là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

Muốn sống đúng là chính mình thì mỗi chúng ta cần phải biết hài hòa giữa việc chăm lo cho linh hồn cũng như biết quý trọng và chăm sóc cho những nhu cầu thiết yếu của thể xác. Thông qua đó Lưu Quang Vũ cũng góp phần phê phán hai hạng người: một loại chỉ biết trau chuốt vẻ ngoài và chạy theo những ham muốn vật chất mà không chăm lo cho đời sống tâm hồn. Loại khác thì luôn coi thường những giá trị vật chất, bỏ bê sự chăm sóc bản thân chỉ khư khư giữ cho linh hồn được cao đẹp.

Thông qua màn đối thoại giữa hai nhân vật Trương Ba và Đế Thích trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ nêu cao tư tưởng phải sống là chính mình đó mới chính là hạnh phúc thật sự của con người. Bởi vậy trong cuộc sống chúng ta phải biết đấu tranh với sự dung tục tầm thường và chiến thắng nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Có như vậy chúng ta mới được là mình – được là chính mình toàn vẹn.

Làm nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung, Lưu Quang Vũ đã sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật: Sáng tạo lại cốt truyện dân gian. Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm. Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống truyện. Có chiều sâu triết lý khách quan.

Số 6: Phân tích hồn Trương Ba với Đế Thích

Lưu Quang Vũ là nhà soạn kịch tài năng của nền nghệ thuật đương đại Việt Nam. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là 1 trong những tác phẩm tạo được tiếng vang bự nhất của Lưu Quang Vũ. Tác phẩm đã suy tôn vẻ đẹp tâm hồn công nhân trong cuộc chiến đấu với những cám dỗ, khát vọng được sống là chính mình. Ý nghĩa đấy được trình bày sống động và chân thực qua cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích.

Lưu Quang Vũ là người nghệ sĩ đa tài. Ông đã từng sáng tác thơ mà được biết tới nhiều hơn với nhân cách là nhà soạn kịch. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở kịch được viết từ 5 1981, tới 5 1984 hoá ra mắt công chúng. Vở kịch này được viết dựa trên 1 câu chuyện dân gian, song đã có những chỉnh sửa, thêm những cốt truyện tăng trưởng khiến cho tầng ý nghĩa của câu chuyện càng sâu hơn. Cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích thuộc ảnh VII và Đoạn kết của vở kịch.

Khi gặp được Đế Thích, Trương Ba đã bộc bạch ước muốn: “Tôi chẳng thể tiếp diễn mang thân anh hàng thịt được nữa, chẳng thể được!”. Chữ “chẳng thể” được lặp lại 2 lần trình bày cố gắng, ý chí đanh thép của Trương 3 lúc quyết định rời khỏi thể xác của anh hàng thịt. Trước thái độ kinh ngạc, bất thần của Đế Thích, Trương Ba tiếp diễn nói lên ý kiến sống cao đẹp: “Không thể bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo được”. Câu giảng giải là sự thú nhận nghịch cảnh nhưng Trương Ba đã phải chịu đựng: trong ngoài bất nhất. Bên trong là tâm hồn cao khiết, tư cách cao đẹp; bên ngoài lại là xác thịt thô lỗ, là những dục vọng, bản năng.

Sự bất nhất là do vong hồn của Trương Ba đã nhiều lần thỏa hiệp với bản năng. Đây chính là điều đã đè nặng lên tâm hồn Trương Ba, khiến ông trằn trọc, đau buồn và dằn vặt. Từ đấy, Trương Ba đã nêu lên khát vọng chính đáng của mình: “Tôi muốn được là tôi vẹn toàn”. “Toàn vẹn” là sự hài hòa của bên trong và bên ngoài, giữa tâm hồn và thân xác. Trương Ba muốn hồn mình phải được thống nhất với xác của mình để được sống cho đúng nghĩa. Đối với Trương Ba, sống ko chỉ là còn đó, nhưng sống phải là chính mình, làm những điều mình mong muốn, quay về là mình vẹn toàn lúc xưa.

Trước những đề xuất, lập luận của Trương Ba, Đế Thích vẫn tỏ thái độ kinh ngạc, cảm thấy khó hiểu trước nghĩ suy kì dị đấy: “Có gì ko ổn đâu !”, “Nhưng nhưng ông muốn gì ?”. Đế Thích còn khuyên Trương Ba nên chấp thuận cuộc sống ngày nay bởi: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình vẹn toàn cả ư ? […] Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông.”

Đế Thích cho rằng tất cả mọi người đều đang sống trong tình cảnh trong ngoài bất nhất, nên hãy chấp thuận, học cách thỏa hiệp với ngày nay. Những cứ liệu nhưng Đế Thích đưa ra trình bày 1 ý kiến: sống là còn đó, còn còn đó như thế nào thìa là do tình cảnh, điều kiện bao quanh; con người chẳng thể chỉnh sửa tình cảnh nhưng chỉ có thể quy thuận dù là điều mình ko mong muốn. Xét vào thực tại cuộc sống, đây là ý kiến được nhiều người san sớt dù nó mang hơi hám thụ động.

Không chấp thuận lời giảng giải, lập luận của Đế Thích, Trương Ba đã thẳng thắn lên án thái độ sống đấy: “Ông chỉ nghĩ dễ ợt là cho tôi sống, mà sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời thoại đã thẳng thắn lên án hành động và nghĩ suy sai lầm của Đế Thích. Sống ko chỉ là còn đó thuần tuý, là thuận theo bản năng và tình cảnh nhưng đấy phải là cuộc sống có nghĩa, sống là mình, là sự vượt lên những vui thích bình thường để bảo vệ những trị giá then chốt của vong hồn cao đẹp.

Đoạn hội thoại phía sau là sự chiến đấu giữa “còn đó hay ko còn đó”. Đáp trả lại câu hỏi của Đế Thích, Trương Ba bộc bạch ước muốn: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lẽ y nguyên đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy khiến cho hồn anh ta được sống lại với thể xác này”.

Đế Thích lại cho rằng như thế là ko phù hợp: “Sao có thể đổi tâm hồn đáng quý của bác lấy chỗ cho cái phần hồn bình thường của anh hàng thịt ?”. Trương Ba lại không thừa nhận: “Bình thường, mà đúng là của anh ta… chúng sinh ra là để sống với nhau”. Quyết tâm lên cao có thể đẩy lời nói thành những hành động quyết liệt hơn: “Nếu ông ko giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm 1 nhát dao vào cổ, khi đấy thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất”.

Sự mạnh bạo, lời nói đầy táo tợn đấy ko người nào dễ gì nhưng nói ra được, mà với Trương Ba, khát vọng “được sống là chính mình” đã thôi thúc tâm hồn cần 1 sự chỉnh sửa để xóa bỏ nghịch cảnh 1 cách triệt để: cái chết. Chỉ lúc chết đi, Trương Ba mới có thể là Trương Ba, tâm hồn cao khiết được bảo toàn toàn vẹn, chính mình được thanh thản và để đổi lấy sự hồi sinh của 1 người chồng, 1 người cha, 1 người ông trong trái tim những người ông yêu mến.

Xen vào giữa cuộc hội thoại là tiếng khóc của cái Gái và sự ra đi của thằng cu Ganh. Đế Thích muốn Trương Ba nhập hồn vào xác cu Ganh: “Ông sống trong thể xác thằng nhỏ chắc sẽ ổn”. Câu nói này lại 1 lần nữa trình bày lối nghĩ suy nông cạn, thiếu 9 chắn của Đế Thích. Thực chất, Đế Thích lại 1 lần nữa đồng hóa khái niệm của “sống” và “còn đó”. Trước yêu cầu đấy, Trương Ba đã có 1 hồi do dự. Với Trương Ba, sống vẫn đáng quý, Trương Ba vẫn muốn được tiếp diễn sống. Nhưng những nghĩ suy quanh quẩn về những ngày sống dưới xác hàng thịt, những mường tưởng mai sau lúc cư trú trong xác cu Ganh, Trương Ba đã đi tới quyết định: “Tôi chẳng thể cướp cái cơ thể non nớt của cu Ganh”, “Ông hãy cứu nó!

Ông phải cứu nó!… vì trẻ nhỏ… Ông hãy giúp tôi lần rốt cuộc”. Quan niệm sống cao đẹp càng sáng ngời phê duyệt lời hội thoại: “Có những cái sai chẳng thể sửa được. Chắp vá gượng gạo ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng 1 việc đúng khác”. Đoạn hội thoại ko chỉ làm sáng lên 1 tư tưởng sống mang tính vĩnh hằng: “sống là chính mình” nhưng còn phê phán lối sống: “sống là còn đó” và lên án sự làm việc tắc trách của những bậc làm quan.

Đoạn hội thoại chính là phân đoạn tăng trưởng thêm so với tình tiết gốc. Bằng tài năng dựng cảnh, dựng hội thoại, độc thoại nội tâm, Lưu Quang Vũ đã cho người đọc những chân lý sống hết sức quý giá. Chân lý sống đấy ko chỉ đúng với thời đại đấy, với những con người trong tình cảnh đấy nhưng nó có ý nghĩa với tất cả mọi người, ở mọi thời đại, trên khắp nẻo đường ngõ xóm. Chính điều này đã nâng giá tiền trị cho tác phẩm của Lưu Quang Vũ, để tới sau này, vở kịch vẫn sẽ được dựng lại như sự lưu danh 1 nhà soạn kịch tài năng và là lời nhắn nhủ tới những lứa tuổi sau về 1 quan niệm sống tốt đẹp.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 7: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

Lưu Quang Vũ là một nhà viết kịch tài năng của văn học Việt Nam. Những tác phẩm của ông không chỉ mang tính thời sự mà còn mang giá trị nhân văn vô cùng lớn. Tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm thành công cả về mặt nội dung và nghệ thuật. Các màn đối thoại trong vở kịch không chỉ khắc hoạ được hình tượng nhân vật mà còn thể hiện được thái độ, cách nhìn nhận của tác giả về cách sống, về lẽ sống và giá trị đích thực của con người. Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt và Đế Thích là những màn đối thoại có giá trị như thế.

Nhân vật Trương Ba là một hình tượng tiêu biểu đại diện cho vẻ đẹp của một tâm hồn thiện lương và trong trắng, không mang những ham muốn, dục vọng tầm thường. Khi ông bị chết oan do Nam Tào gạch sai tên họ, được nhập vào xác hàng thịt để sống lại cuộc đời mới cũng là lúc bi kịch xảy ra. Từ hôm đó, ông trở nên như một con người khác, mọi sự vụng về, cẩu thả, những sự thô tục trong xác anh hàng thịt đã khiến cho mọi người thân trong gia đình buồn bã, thất vọng, xa lánh ông.

Người vợ đầu ấp tay kề buồn khổ, đứa con dâu vốn hiểu chuyện cũng thấy đau đớn khi gia đình dần đổi khác, những đứa cháu vốn rất mực yêu quý và kính trọng cũng nhất quyết không nhận ông. Tất cả những điều đó khiến Trương Ba vô cùng đau khổ, không thể chịu nổi khi phải sống trong cảnh ngộ bi hài mà bất hạnh ấy, một tâm hồn thanh khiết không thể sống trong một thể xác xấu xa rồi dần đánh mất mình như thế được, Trương Ba đã tranh luận dữ dội với xác anh hàng thịt.

Thấy hồn Trương Ba tách ra khỏi thể xác mình, xác anh hàng thịt lên tiếng mỉa mai: ” Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt khốn khổ kia….”. Hồn Trương Ba cũng không chịu khuất phục những lời nói cay nghiệt và tàn nhẫn kia của anh hàng thịt. Hồn vẫn một mực cho rằng không thể sống với một thể xác dung tục và đồi bại kia, một thể xác mà chỉ biết đến những ham muốn tầm thường, một thể xác xấu xa đáng ghê tởm.

Trương Ba khẳng định rằng: “Ta vẫn có một đời sống của riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn,…”. Xác anh hàng thịt cười nhạo, tỏ ra hả hê, mỉa mai trước những lý lẽ mà hồn Trương Ba đưa ra, hắn cho thấy tất cả những điều khiến cho Hồn Trương Ba cảm thấy xấu hổ với chính mình để bảo vệ lời nói của hắn. Trong cuộc tranh cãi này, dường như, hồn dần trở nên đuối lý, chấp nhận sự đắng cay bởi những gì mà xác hàng thịt nói ra đều đúng như vậy, tâm hồn thanh sạch đang bị thể xác điều khiển mà không làm gì được.

Những lời nói thốt ra của xác anh hàng thịt đều mang nét châm chọc, chỉ trích linh hồn Trương Ba, càng khiến Trương Ba đau lòng, hắn càng thắng thế, tỏ ra hài lòng, hả hê. Bất lực trước mọi lý lẽ xác hàng thịt đưa ra, hồn chấp nhận, chịu đựng, dằn vặt, dường như chính Trương Ba cũng đã bị đẩy vào đường cùng, không lý lẽ, không lối thoát, nỗi đau trong hồn Trương Ba cứ một lớn dần thêm, cứa nát vào bức tường thanh cao, đẹp đẽ của tinh thần mà bấy lâu ông vẫn giữ gìn, xây đắp.

Nội dung của cuộc thoại không chỉ đơn thuần là một cuộc giao tiếp, tranh cãi diễn ra bình thường mà nó còn mang tầng ý nghĩa sâu sắc. Trương Ba được Đế Thích trả về với sự sống bên người thân và gia đình nhưng đó lại là cuộc sống xấu xa, đáng hổ thẹn. Những gì ti tiện, bần hàn, dụng tục đang dần lấn át, ngự trị và tàn phá, gặm nhấm những gì cao quý, trong sạch bên trong tâm hồn.

Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác để bảo vệ chính mình và bảo vệ những suy nghĩ, quan điểm của bản thân chính là cuộc đấu tranh giữa tinh thần và vật chất, giữa đạo đức và tội lỗi, giữa phần “con” và phần “người” trong một bản thể. Những giá trị của sự nhân hậu, lòng vị tha, những khát vọng cao cả, mãnh liệt luôn đối lập với những sự giả dối, ích kỷ, những khát vọng tầm thường.

Qua những trải nghiệm đầy đau khổ khi sống trong thân xác người hàng thịt, Trương Ba khi gặp Đế Thích đã thẳng thắn bày tỏ mong muốn “Tôi muốn là tôi toàn vẹn”, ông cũng cay đắng thừa nhận “Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được”. Trước sự cứng rắn của Trương Ba, Đế Thích đã hết lời can ngăn, ông cho rằng được sống đã là niềm hạnh phúc và sống ở đời không phải lúc nào cũng như ta mong muốn. Đế Thích khuyên Trương Ba nhập hồn vào xác người hàng thịt nhưng Trương Ba đã từ chối. Để được trở về là chính mình, Trương Ba chấp nhận ra đi để trả lại xác người hàng thịt cho hồn người hàng thịt, trả lại một anh hàng thịt nguyên vẹn cho vợ của anh ta, nhờ Đế Thích mang hồn của cu Tị trở lại.

Từ hai màn đối thoại đó ta thêm hiểu được rằng, con người chính là sự kết tinh hài hoà giữa hình thức và nội dung. Để sống có giá trị, sống đúng nghĩa với đời sống phải được là chính mình một cách toàn vẹn, không thể ” sống nhờ, sống gửi” vào kẻ khác. Cuộc sống xã hội ngày nay cũng vậy, không chỉ cần có một ngoại hình xinh đẹp, một hình thức mãn nhãn mà cần phải có sự thông tuệ về học thức, sự nhạy bén và một tâm hồn phong phú. Đánh giá một con người không thể chỉ đánh về về hình thức mà còn cả cốt cách, nhân cách của họ. Con người muốn trở nên có giá trị, cần phải dung hoà được hai thứ đó.

Ta vẫn thấy đau đây những kẻ chỉ vì mặt nổi, vì chức quyền, tham vọng mà tự bán đứng lương tâm nghề nghiệp của mình, họ chạy chức chạy quyền chỉ để có cái danh trong khi không đủ năng lực để đảm đương nhiệm vụ. Những kẻ vì muốn được ưu ái mà nịnh bợ, a dua. Những kẻ vì những ham muốn tiền bạc, của cải , thể hiện bản thân mà sẵn sàng vi phạm pháp luật buôn bán chất cấm, trộm cắp, cướp bóc tài sản người khác. Điều đó, thật đáng phê bình và lên án.

Những ham muốn về tiền bạc và danh vọng, quyền lực và sự nổi tiếng khiến con người dần trở nên đánh mất mình, họ tự dẫm đạp lên danh dự và nhân phẩm của chính mình để có được. Sau cùng, họ lại không thể hạnh phúc, cũng không thể mang lại hạnh phúc cho mọi người. Vì vậy, đã sống là phải biết dành trọn tâm hồn mình cho đời sống, biết giữ mình không để vấy bẩn khi trong hoàn cảnh xấu xa.

Không ai có thể sống họ cảm xúc của của bản thân mình, cũng không ai có thể sống thay cuộc đời mình cả. Phải nỗ lực, cố gắng, hoàn thiện bản thân cả về hình thức và tâm hồn, phải chinh phục được nấc thang của những giá trị cao đẹp bằng chính con người mình. Bởi mỗi người sẽ có một giá trị riêng và hạnh phúc nhất của đời người là khi được là chính mình.

Bằng ngôn ngữ đối thoại giàu tính triết lý, tình huống kịch hấp dẫn, lôi cuốn người xem, Nguyễn Quang Vũ đã tạo nên một màn đối thoại đặc sắc, mang đến cho người đọc những suy ngẫm, dư âm khó phai.

Số 8: Phân tích hồn Trương Ba và Đế Thích

Nhà thơ Quang Vũ sinh ra ở Phú Thọ. Sau khi hòa bình lập lại tại miền Bắc năm 1954, cả gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã sớm bộc hộ năng khiếu về nghệ thuân và thơ ca. Và những nét văn hóa của miền quê trung du Bắc Bộ đã in dấu trong những sáng tác của ông sau này. Từ những năm 1965, ông tham kha kháng chiến ở quân chủng Phòng không – Không quân. Đây cũng là lúc mà tài năng thơ ca của Lưu Quang Vũ tỏa sáng và nở rộ. Lưu Quang Vũ từng làm biên tập viên của Tạp chí sân khấu và từ đây ông cũng bắt đầu viết những vở kịch nói đầu tiên.

Nhiều tác phẩm thơ ca kịch của nhà thơ Quang Vũ được đông đảo công chúng yêu mến. Những tác phẩm của ông nổi bật và được đánh giá cao vào những năm 80 sau chiến tranh. Với những năm tháng trải qua trong chiến trường và công cuộc đổi mới đất nước, thời hậu chiến và nền kinh tế bao cấp với rất nhiều khó khăn, cực khổ. Chính vì tư liệu thực tế đó mà thơ, truyện ngắn, và kịch của ông giàu tính hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc.

Mặc dù tuổi đời còn khá trẻ, nhưng số vở kịch còn nhiều hơn cả tuổi, với 50 vở kịch, đã làm mưa làm gió trên sân khấu Việt Nam thời bấy giờ. Trong đó, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt còn được Bộ Giáo dục đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Quang Vũ viết, dựa trên cốt truyện dân gian. Nhưng qua hệ thống nhân vật, cùng những tình tiết xảy ra mới mẻ, tác giả đã phản ảnh bức tranh xã hội và những vấn đề bất cập lúc bấy giờ vô cùng độc đáo và rõ nét. Đặc biệt, khi phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, độc giả sẽ càng cảm nhận rõ hơn về điều đó.

Vở kịch viết về nhân vật Trương Ba. Ông là một người làm vườn nhân hậu và tốt bụng. Ông chơi cờ giỏi và thường đấu cờ với Đế Thích. Danh tiếng của Trương Ba vang tới tận trời xanh. Tuy niên, do nhầm lẫn tắc trách mà Nam Tào gạch nhầm tên Trương Ba khiến ông chêt oan. Theo ngỏ ý của Đế Thích, Nam Tào cho hồn ông nhập vào thân xác anh hàng thịt ngoài 30 tuổi mới mất ở làng bên

Ở nhà thân xác của người khác, Trương Ba gặp nhiều phiền toái hơn ông nghĩ. Lý trưởng gây khó dễ, chị hàng thịt thì đòi xác chồng, gia đình Trương Ba cũng không dễ dàng chấp nhận. Khổ tâm nhất là từ khi trú nhờ xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba bị tiêm nhiễm một số thói hư tật xấu mà lúc còn sống ông vô cùng ghét bỏ.

Trước nghịch cảnh đó, trước những đau khổ mà bản thân phải chịu khi ăn nhờ ở đậu xác thịt kẻ khác, Trương Ba quyết định xin trả lại thân xác cho anh hàng thịt. Sau đó, Nam Tào cũng gợi ý ông nhập vào xác cu Tị mới mất nhưng ông không chịu. Ông lựa chọn cái chết để giữ gìn sự trong sạch nhân phẩm, danh dự của bản thân. Còn hơn là phải ở trong thân xác người khác rồi phải chịu đừng những thói hư tật xấu của người đời.

Để phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích được sâu sắc, chúng ta cần biết nguyên nhân dẫn đến cuộc nói chuyện này. Chả là, sau 3 tháng cư ngụ trong thân xác của anh hàng thịt, Trương Ba không những không được sống cuộc sống tốt đẹp xưa kia mà ngày càng trở nên xa lạ với chính bản thân mình và người thân. Ông bị vợ con, cháu nghi ngờ và xa lánh.

Vợ ông khổ vì ông trong thân xác anh hàng thịt nên vợ anh hàng thịt cứ đòi chồng. Trong khi cháu gái, con dâu cũng không chấp nhận ông là như xưa. Quá đau buồn và chán chường trước cuộc sống không phải là của mình, hồn Trương Ba khao khát thoát khỏi thể xác ấy. Và ông nói với xác thịt đó rằng: “Ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!”. Và đúng lúc đó, ông đã thắp hương và Đế Thích, người bạn thân thiết xuất hiện và cùng ông tâm sự giải bày.

Đế Thích vừa xuất hiện đã nhận ra ngay vẻ nhợ nhạt của Trương Ba. Ông bảo cả tuần nay dù bị canh giữ nghiệm ngặt nhưng thấy ông thắp hương, biết là việc khẩn nên liền xuất hiện.

Lúc đó, Trương Ba liền nêu rõ nguyện vọng muốn được thoát xác của mình. “Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!”. Trương Ba muốn được là mình toàn vẹn. Ông không thể chấp bên ngaofi một đàng, bên trong một nẻo được. Nhưng Đế Thích nghe thấy vậy, không những không đồng tình mà liền giải thích cho Trương Ba hiểu, ở đời mấy ai được toàn vẹn.

Những lời nói của Đế Thích nói với hồn mà sao mà đúng, mà thâm thúy với người đời đến thế: “Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn có ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu”

Không riêng gì Trương Ba, ngay cả Ngọc Hoàng, người nắm quyền sinh quyền tử trong tay cũng lắm khi không được là chính mình nữa là. Thế nên, Đế Thích  dù là thần tiên có nghìn phép biến hóa cũng không thể làm thỏa mãn ý muốn cảu Trương Ba. Vì thực tế, xác thịt của ông đã thối rữa trong bùn đất. Nên ông chỉ có thể chấp nhận thực tại, vì cuộc sống là không thể hoàn toàn trọn vẹn.

Nhưng Trương Ba vẫn khăng khăng giữ quan niệm của mình về ý nghĩa cuộc sống và cương quyết trả lại thân xác cho anh hàng thịt. Bởi theo Trương Ba, mặc dù tâm hồn anh ta tầm thường nhưng anh ta sinh ra là để dành cho gia đình anh ta, nó phù hợp với cuộc sống của anh. Chứ tâm hồn không thể hòa hợp với cuộc sống đó được. Vì thế, nếu Đế Thích không giúp ông thoát khỏi xác này, Trước Ba nhất định đi đến nước cuối là nhảy sông hoặc lấy dao đâm để hồn ông mất mà thân xác kia cũng tan.

Đế Thích thấy bạn nói cũng xuôi xuôi lòng và càng không muốn tâm hồn cao quý ấy mất đi. Hơn nữa Trương Ba còn chỉ ra cái sai lầm của Đế Thích đó là “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!” thế là Đế Thích muốn sửa sai bằng việc cho Trương Ba nhập vào xác cu Tị. Đồng thời ông đưa ra nhiều lý lẽ để thuyết phục Trương Ba. Nhưng Trương Ba sau hồi lâu nghĩ ngợi, lại thấy trước mắt bao nhiêu là rắc rối khi sống nhờ thể xác bé nhỏ của cu Tị. muốn sửa sai bằng một giải pháp khác là cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị và đưa ra những lí lẽ để thuyết phục Trương Ba. Trương Ba tưởng tượng thấy bao nhiêu rắc rối khi phải sống nhờ trong thể xác cu Tị.

Và rồi sau lần hồi suy đi tính lại, hồn Trương Ba kiên quyết nói không với việc tái sinh trong thân thể non nớt bé nhỏ của cu Tị mới lên 10. Ông không thể chấp nhận một cuộc sống giả tạo. Đồng thời, kêu gọi Đế Thích sửa sai mà một việc làm mà ông cho là đúng đắn đó là để cu Tị sống lại. Sau khi thấu cảm tâm nguyện của bạn, Đế Thích cuối cùng cũng làm theo ý nguyện của Trương Ba. Ông liền làm phép cho anh hàng thịt và cu Tị sống lại còn Trương Ba thì chết hoàn toàn.

Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích ta thấy rõ một triết lý sống nhân văn đó là “hãy luôn sống là chính mình”. Và cụ thể của việc sống là chính mình đó chính là mỗi người cần phải biết kết hợp hài hòa giữa việc chăm lo xác thịt vẻ bề ngoài cũng như phần linh hồn của bản thân. Đừng mải mê chạy theo những ham muốn của thể xác, hư vinh của vật chất mà bỏ quên mất chăm lo cho đời sống tâm hồn. Thông qua xác và hồn của nhân vật Trương Ba và hàng thịt, nhà thơ Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm thông điệp cao đẹp đó. Đồng thời, ông luôn muốn mọi người hãy đề cao tư tưởng, chỉ khi sống là chính mình thì con người mới cảm nhận được hạnh phúc thật sự.

Qua cuộc đối thoại của Trương Ba và Đế Thích, tác giả đồng thời muốn phê phá những dụ vọng tầm thường, những ham muốn dung tục của con người. Đồng thời tác giả cũng vạch ra quan niệm sai lầm xa rời thực tế khi không coi trọng giá trị vật chất và nhu cầu xác thịt. Bởi con người là sự kết hợp của vần hồn và xác. Phải hoài hòa giữa hai phần thì mới hạnh phúc, chứ coi thường một trong hai đều không được. Qua cuộc đối thoại kinh điển ấy, tác giả cũng cho thấy con người có thể dùng ý thức tâm hồn để chiến thắng những ham muốn của bản thân và những nghịch cảnh của số phận. Con người có khả năng chống lại sự giả tạo để bả vệ quyền sống đích thực của mình và hoàn thiện nhân phẩm mỗi ngày.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một vở kịch đặc sắc, để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và người xem. Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, chúng ta thấy Quang Vũ xây dựng những tình huống truyện vô cùng độc đáo. Chỉ là một cuộc trò chuyện giữa một hồn ma với thần tiên thôi nhưng thể hiện hết thảy cả những triết thông điệp cuộc đời. Qua đó, nó thể hiện rõ những xung đột mà con người phải trải qua và khắc họa rõ nét khát vọng được sống là chính mình của mỗi người, mà cụ thể là của Trương Ba, một tâm hồn cao quý.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Số 9: Phân tích hồn Trương Ba với Đế Thích

Lưu Quang Vũ là một nhà thơ khá nổi tiếng trong những năm sáu mươi của thế kỉ XX, được nhiều bạn đọc yêu mến. Đến đầu những năm tám mươi thì Lưu Quang Vũ chuyển hẳn sang lĩnh vực sân khấu. Chỉ trong bảy, tám năm, ông đã sáng tác khoảng năm mươi kịch bản và hầu hết đều được dàn dựng. Kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện, về sự hoàn thiện nhân cách con người, đấu tranh khá quyết liệt với cái ác, cái xấu, nhất là đấu tranh chống tiêu cực để làm cho cuộc sống sạch hơn, tốt đẹp hơn.

Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, mà đặc biệt là trong lời thoại sau đây giữa Hồn Trương Ba với tiên Đế Thích đã cho ta thấy cái khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp của Lưu Quang Vũ: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn…. sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!.

Lời thoại này chính là những lời Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Như chúng ta đã biết Hồn Trương Ba, da hàng thịt được Lưu Quang Vũ sáng tác theo hướng khai thác, cốt truyện dân gian để gửi gắm những suy ngẫm về nhân sinh, về hạnh phúc, thể hiện một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người, kết hợp phê phán một số tiêu cực trong lối sống hiện thời.

Tuy khai thác đề tài từ cốt truyện dân gian, nhưng trong vở kịch này Lưu Quang Vũ có một sự sáng tạo rất độc đáo: trong truyện dân gian thì khi Hồn Trương Ba được tiên Đế Thích cho nhập vào xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba vẫn sống bình thản, còn trong vở kịch này thì Hồn Trương Ba sống rất quay quắt, luôn có những xung đột nội tâm rất căng thẳng.

Hồn Trương Ba đã phải trải qua những cuộc đấu tranh gay gắt với chính thể xác mà mình trú ngụ – thể xác đầy ham muốn bản năng của anh hàng thịt. Và Lưu Quang Vũ đã đầy kịch tính lên tới điểm đỉnh là khi Hồn Trương Ba sắp ngã vào tay chị vợ anh hàng thịt, suýt chút nữa sự thanh sạch của Hồn Trương Ba bị thân xác lấn át, cộng với sự xa lánh của những người thân trong gia đình khiến Hồn Trương Ba càng đau đớn, xót xa. Để gỡ nút thắt của tình huống kịch này, Lưu Quang Vũ đã để cho Hồn Trương Ba đi đến một quyết định dứt khoát là không thể kéo dài mãi cuộc sống như thế nữa: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

Lời thoại này đã nói lên tấn bi kịch, sự trớ trêu trong Hồn Trương Ba, đó là sự mâu thuẫn giữa một tâm hồn đẹp với một thân xác thô lỗ, phàm phu tục tử. Lời thoại này đã cho ta thấy rõ quan điểm, triết lí về nhân sinh của Lưu Quang Vũ. Lưu Quang Vũ cho rằng: cuộc sống của con người là một thể thống nhất giữa hồn và xác. Hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối hoàn toàn bởi những nhu cầu bản năng của thân xác, nghĩa là những nhu cầu vật chất chi phối hoàn toàn đời sống tinh thần thì không thể có một tâm hồn thanh cao trong sáng được.

Nói như thế, ở đây Lưu Quang Vũ không phải phủ nhận hoàn toàn nhu cầu về đời sống vật chất, mà chỉ muốn trong cuộc sống chúng ta phải biết kết hợp hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến đời sống tinh thần mà không lo đến đời sống vật chất thì cuộc sống của chúng ta cũng chẳng mấy tốt đẹp, chúng ta sẽ sống trong ảo tưởng bằng vỏ đẹp siêu hình của tâm hồn. Vì vậy chúng ta đừng bao giờ để đời sống vật chất làm sa ngã đời sống tinh thần.

Và trong lời thoại tiếp theo, Lưu Quang Vũ lại tiếp tục trình bày quan điểm của mình về cuộc sống: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”.

Lời thoại này chứng tỏ Hồn Trương Ba đã ý thức rõ về hoàn cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình. Hồn Trương Ba đã thấm thía nỗi đau khổ vì nhận ra tình trạng ngày càng chênh lệch giữa hồn và xác. Sự chênh lệch này đã được thể hiện ngay từ khi Hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt, hình dạng biến đổi, hành động biến đổi và những người thân trong gia đình ngày càng xa lánh, Trương Ba bây giờ đâu còn là Trương Ba như ngày trước nữa.- “đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa” (lời vợ Trương Ba), “Tôi không phải là cháu của ông”, “ông nội tôi chết rồi”, “bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non, chân lông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm!

Ông nội tôi đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy! ”, “Ông xấu lắm, ác lắm! cút đi! Lão đồ tể, cút đi” (lời của Cái Gái)… Hồn Trương Ba không thể sống mãi trong sự đau khổ, dằn vặt như thế nữa; nên đã phản kháng, không chấp nhận việc tiên Đế Thích cho mình sống nhờ vào thân xác anh hàng thịt. Lời phản kháng này chuẩn bị cho hành động quyết liệt, dứt khoát của Hồn Trương Ba là chọn cái chết, trả xác cho anh hàng thịt, để tâm hồn thanh thoát, không còn dằn vặt khổ đau.

Số 10: Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là 1 trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn nghệ Việt Nam tiên tiến, là người có công béo góp phần vực dậy cả 1 nền sàn diễn khi đấy đang có nguy cơ tụt hậu. Kịch của Lưu Quang Vũ lôi cuốn chính yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đấy khẳng định khát vọng hoàn thiện tư cách con người.

Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ, được tác giả kết thúc 5 1984, công diễn lần đầu 5 1987. Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo và chữa đựng những vấn đề triết lí nhân sinh. Qua cuộc hội thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ đã làm rõ khát vọng được sống là chính mình của Hồn Trương Ba

Sự đối chọi giữa các đối tượng hiện ra trong tác phẩm càng ngày càng được bộc lộ cụ thể, cuộc hội thoại giữa các đối tượng hiện ra trong tác phẩm đã bộc lộ cụ thể những điều đấy. Sự không giống nhau tới rõ nét đã bộc lộ cụ thể những điều đấy, Trương Ba thấy hiểu được trị giá phệ béo, khát khao được quay trở về xác thịt của mình: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”, “Là tôi toàn vẹn”, ông thấu hiểu được mối quan hệ giữa thân xác và tâm hồn của mình, sự xâu xé giữa thân xác và tâm hồn của ông đã khiến cho ông đau buồn, dằn vặt, ông muốn quay trở về đúng xác thịt của mình, sống cuộc đời của mình, ông thấu hiểu được trị giá của cuộc sống nhưng mình đang trải qua.

Điều ước nhưng Trương Ba đang mong muốn dù bé nhỏ nhưng mà cũng chẳng hề dễ ợt, Trương 3 chừng như đang truyền tải được triết lý nhưng tác giả muốn trình bày trong tác phẩm của mình, ông trình bày được những khát khao, mong muốn nguyện vọng của mình với thể xác, ông khát khao quay trở về là chính mình.

Ông dám nhận toàn thể nghĩa vụ về mình, ko muốn sống nhờ, ko muốn sống cuộc sống trên cơ thể của người khác, qua trích đoạn này, tác giả muốn khẳng định khát khao nhưng tác giả đang trình bày, ước mơ được biến thành chính mình, khát khao thu được những gì của mình, bằng lòng hiện thực, Ai cũng khát khao được sống, nhưng mà sống là chính mình là cuộc sống đáng quý nhất, chính vì vậy ông muốn “là tôi toàn vẹn”, sống cuộc đời của mình, trên thể xác của mình, chịu nghĩa vụ trước hành động của mình.

Hồn Trương Ba khát khao muốn quay trở về cuộc sống của mình, lúc được cho 1 phép thử nhập vào xác của cu ganh, thì hình hài và tâm hồn chừng như đang trình bày thâm thúy những tranh chấp, cạnh tranh giữa tâm hồn, với tâm hồn của người 60 tuổi, lúc nhập vào em nhỏ 10 tuổi, điều này, sự tranh chấp càng ngày càng phát triển thành gay gắt hơn bao giờ hết.

Những tranh chấp đấy trình bày thâm thúy qua từng cụ thể, hành động của đối tượng, ông bác bỏ cuộc sống này, cuộc sống đấy vốn dĩ có nhiều tranh chấp, nhưng mà sống sang cơ thể người khác là điều hết sức khó hơn, ông chẳng thể bằng lòng được, chọn lựa của Trương Ba khi này là muốn quay quay về là chính mình, ông ko muốn sống lương nhờ vào người khác, ko muốn sống trên cơ thể của người khác. Đấy là sự chiến đấu rất béo lúc ông đang dần phải đương đầu với những tranh chấp gay gắt của thân xác và tâm hồn hiện ra trong tác phẩm.

Sự tranh chấp giữa 2 con người khiến cho tranh chấp của tác phẩm càng ngày càng tăng lên, Đế thích quan niệm sống chỉ là sống, nhưng mà Hồn Trương Ba lại quan niệm nên sống là chính mình, làm tôi toàn vẹn, được hòa hợp cả về thân xác, lẫn ý thức.

Con người còn đó gồm phần con và phần người. Phần con thuộc về bản năng. Phần người thuộc về tư cách, sự cao thượng xinh xắn của tâm hồn. Phần con và phần người đã tạo ra con người đúng nghĩa. Ở đây 2 hình tượng hồn và xác cũng là ẩn dụ cho phần con và phần người. 1 bên đại diện cho những gì xinh xắn, thanh cao; 1 bên đại diện cho sự lỗ mãng, thô phàm. Tác giả Lưu Quang Vũ nhấn mạnh chẳng thể có 1 tâm hồn thanh cao trong 1 thể xác trần tục. Con người chỉ đích thực hạnh phúc lúc được sống là chính mình, được hoà hợp xác và hồn, trong và ngoài, nội dung và bề ngoài trong 1 thể hợp nhất kiêm toàn chứ chẳng hề là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong 1 đằng, bên ngoài 1 nẻo”.

Muốn sống đúng là chính mình thì mỗi chúng ta cần phải biết hài hòa giữa việc chăm lo cho vong linh cũng như biết quý trọng và chăm nom cho những nhu cầu nhu yếu của thân xác. Thông qua đấy Lưu Quang Vũ cũng góp phần phê phán 2 hạng người: 1 loại chỉ biết gọt giũa bề ngoài và chạy theo những thèm muốn vật chất nhưng ko chăm lo cho đời sống tâm hồn. Loại khác thì luôn khinh thường những trị giá vật chất, bỏ bễ sự chăm nom bản thân chỉ bo bo giữ cho vong linh được cao đẹp.

Thông qua xác và hồn Lưu Quang Vũ nêu cao tư tưởng phải sống là chính mình đấy mới chính là hạnh phúc thật sự của con người. Do vậy trong cuộc sống chúng ta phải biết chiến đấu với sự dung tục phổ biến và thắng lợi nghịch cảnh để hoàn thiện tư cách của bản thân. Có tương tự chúng ta mới được là mình – được là chính mình kiêm toàn.

Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.