Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối chi tiết nhất

511
Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối chi tiết nhất
Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối chi tiết nhất
4.9/5 - (14 votes)

Tổng hợp các bài mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Dàn ý chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và tác phẩm Chiều tối.

– Dẫn dắt chất tình và chất thép trong tác phẩm Chiều tối.

II. Thân bài

– Chất trữ tình trong Chiều tối chính là những cảm xúc, rung động của nhà thơ trước cái đẹp của tạo vật, của tình người.

– Chất thép trong bài thơ Chiều tối là ý chí bất khuất kiên cường, sự tự tin, niềm kiêu hãnh, luôn lạc quan tin tưởng vào mục tiêu trước mắt của người chiến sĩ cách mạng.

– Phân tích tình và thép trong Chiều tối:

+ Hai câu đầu là bức tranh thiên nhiên nổi bật, Bác thể hiện tình yêu thiên nhiên, nâng niu từng sự sống. Đó là tiếng thơ trữ tình, dào dạt cảm xúc.

+ Hai câu sau: Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác chứa đựng niềm vui, niềm lạc quan. Những cảm xúc ấy là sự hài hòa chất tình và chất thép trong thơ. Kết thúc với hình ảnh ngọn lửa hồng mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Bởi vì có niềm lạc quan đó, Bác mới có thêm nghị lực sống, mới quyết tâm vượt qua cảnh ngộ lưu đày. Đó là chất thép, là bản lĩnh, phong thái cứng cỏi của người chiến sĩ cách mạng trong thơ và trong chính con người Bác.

– Từ chất thép, chất tình trong thơ Bác ta thấy được gì về con người Bác và phong cách thơ Hồ Chí Minh:

+ Một con người đẹp: đẹp vì thép cứng rắn, vì tình cao cả, nhưng đẹp nhất chính là sự hài hòa giữa thép và tình đã làm nên một con người bình thường mà vĩ đại, vừa gần gũi lại khiến mọi người phải kính trọng, yêu mến.

+ Một phong cách thơ đẹp mang nét riêng của Bác: sự hài hòa lí tưởng, tuyệt đẹp giữa thép và tình, giữa chiến sĩ và thi sĩ như một điều vốn dĩ.

III. Kết bài

– Cảm nhận về chất tình và chất thép của Chiều tối.

– Ý nghĩa của chất tình và chất thép của Chiều tối.

Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

Số 1: Phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

Thầm lặng sánh bước cùng Người nơi đất khách quê người lúc xế chiều yên bình, đâu đó nhẹ vương những dải mây hồng hòa trong cảnh núi non hùng vĩ. Thiên nhiên như một người bạn tâm giao, cứ thế đi vào thơ của Người một cách sâu lắng nhất, ngọt ngào nhất dẫu có trong cảnh “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”. Phải chăng vì thế mà Hoàng Trung Thông đã thổn thức khi nhắc về thơ Bác:

“Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Và mỗi vần thơ trong “Chiều tối” chính là như thế, là sự hòa quyện, quấn quýt giữa “thép” và “tình”.

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh không hề có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương (Ngâm thơ ta vốn không ham) nhưng Người đã nhận ra rằng văn chương là một loại vũ khí sắc bén đầy lợi hại để đấu tranh cách mạng và cũng là phương tiện rất hiệu nghiệm để động viên chiến sĩ, đồng bào: Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy; Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Chính vì vậy, tất cả sáng tác văn học của Bác đều trở thành một bộ phận trong sự nghiệp đấu tranh cho từng giai đoạn cách mạng ở nước ta. Dẫu như thế nhưng Bác vẫn mang nặng tâm hồn nghệ sĩ.

Nhà thơ Tố Hữu từng tâm sự về Bác thế này: “Người yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa”, nâng niu mọi vẻ đẹp của cuộc sống, rung cảm trước một ngọn gió, làn mây, một cánh chim chiều, trước núi non hùng vĩ, dòng sông thơ mộng,..”. Để rồi trên con đường chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942 Người đã viết “Chiều tối” khắc họa bức tranh toàn cảnh nơi đất khách quê người cùng tâm tư của người con tha hương.

Hoài Thanh – nhà phê bình văn học từng khẳng định: “Không phải cứ lên giọng thép, nói chuyện thép mới là tinh thần thép”. Nói tới thép trong thơ Bác tức là khẳng định ý chí, nghị lực và tinh thần lạc quan của người tù cộng sản, người chiến sĩ cách mạng. Trong thơ nay đã có “thép” mà “tình” từ muôn thuở vẫn cứ dạt dào. Ấy là tình cảm dành cho thiên nhiên, con người, vạn vật.

Trước hết tôi muốn làm rõ cái tình muôn thuở trong thơ Bác. Trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, khi kể về những ngày Bác Hồ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt và giải đi qua gần ba mươi nhà tù, tác giả Trần Dân Tiên viết: “Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta giải Cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều, khi chim về tổ, người ta dừng lại ở một địa phương nào đó, giam Cụ Hồ vào trong xà lim…”. Bài “Chiều tối” có lẽ được nảy nở trên con đường lưu đầy gian khổ đó nhưng mở đầu bài thơ, Người đã khắc họa bức tranh thiên nhiên rất gợi:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà bay mệt mỏi, bay mải miết cho kịp tới chốn nghỉ ngơi nơi rừng xanh quen thuộc song đó là một cánh chim có đích, đang chuyển dần từ trạng thái bay sang nghỉ ngơi để chuẩn bị cho ngày mới.

Khi nắng mai rót vào trời xanh, cũng là lúc cánh chim ấy tiếp tục hành trình của mình. Và rồi “cánh chim mỏi” ấy cho ta liên tưởng đến tình cảnh của Bác trên đường chuyển lao khó nhọc. Trong bài thơ “Mới đến nhà lao Thiên Bảo”, Bác có viết về hành trình gian lao, nhọc nhằn ấy:

“Nhật hành ngũ thập tam công lí

Thấp tận ý quan phá tận hài”.

(Năm mươi ba dặm một ngày trời

Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi.)

Sự đối sánh càng xót xa hơn khi cuối chặng đường bay của cánh chim chiều là tổ ấm – sự ấm áp, bình yên hiện rõ trong sắc thái ý nghĩa của từ “quy” – “về” giữa dòng thơ, còn cuối chặng đường của người tù là một nhà lao, nơi tiềm ẩn những đọa đày đau khổ! Qua hình ảnh chim mệt mỏi, người đi còn tìm thấy sự tương đồng hòa hợp với cảnh ngộ và tâm trạng của mình.

Cánh chim mệt mỏi mải miết bay về rừng xanh tìm chốn ngủ, người tù cũng mệt mỏi lê bước trên đường lưu đày, giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ qua đêm. Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thông sâu sắc giữa người và cảnh. Cội nguồn của sự cảm thông chính là tình yêu thương rộng lớn của Bác luôn dành cho mọi sự sống chân chính ở trên đời.

Nối dài bức tranh thiên nhiên trên đường chuyển lao, hình ảnh “chòm mây lẻ” được chấm phá thật tuyệt trên nền trời mùa thu:

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Theo nguyên tác, hai từ “cô vân” – nghĩa là “chòm mây lẻ loi, cô độc” và “mạn mạn” – nghĩa là “chậm chạp, lững lờ”. Nhưng thật đáng tiếc, bản dịch đã đánh mất hai ý nghĩa quan trọng, theo đó, khung cảnh phần nào kém đi cái hiu quạnh vốn có của nó, mà lại có phần nhẹ nhàng, uyển chuyển, thanh thoát hơn, mất đi cái cô đơn, mệt mỏi của tác giả trên đường chuyển lao. Câu thơ thứ hai này gợi cho ta nhớ tới hình ảnh:

“Ngàn năm mây trắng bây giờ vẫn bay”.

(Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu)

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

(Thu điếu – Nguyễn Khuyến)

Thơ ca trung đại thường hướng tới mây của ngàn năm, mây của sự vĩnh hằng tĩnh tại, hay như trong hai câu thơ của Lí Bạch, cánh chim “bay đi nhanh, vào vô tận”, chòm mây thì “bay đi hết, tan biến vào hư vô”, tất cả đều toát lên vẻ thanh tao, thoát tục: “Cô vân độc khứ nhàn”.

Còn trong câu thơ của Hồ Chí Minh, vừa chứa một cái gì đó như phong vị Đường thi, phong vị cổ điển, nhưng chòm “mây” kia của thơ Bác lại thật giản dị, ấm nồng hơi cuộc sống mà vẫn diễn tả sự cô độc, ung dung, thư thái của thi nhân. Hai hình ảnh tương phản ở đầu và cuối câu thơ: “cô vân” – “ thiên không” khiến đám mây nhỏ nhoi, đơn độc giữa bầu trời mênh mông, rợn ngợp.

Từ láy “mạn mạn” cho thấy đám mây bồng bềnh, trôi rất chậm giữa trời thu, từ đó người đọc có thể hình dung ra cả một khoảng trời trong trẻo, mênh mang, tĩnh lặng cũng một chút gió thu nhè nhẹ, hiu hắt, u buồn. Có thể nhận ra đám mây nhỏ bé ấy là sự phản chiếu cảnh ngộ và tâm trạng của người tù đang đơn độc nơi đất khách quê người. Nỗi buồn, sự cô đơn của người và cảnh như đã thấm vào nhau trong một sự liên tưởng và hòa hợp kì lạ.

Phải có một tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù mới có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để dõi theo một cánh chim, một chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy! Với những thi liệu cổ điển quen thuộc, với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình và bút pháp chấm phá chỉ gợi mà ít tả, bằng hai nét vẽ đơn sơ, tác giả Hồ Chí Minh đã ghi lấy linh hồn tạo vật, dựng lên cả một không gian mênh mông, yên ả, u hoài, một bức tranh chiều muộn thanh bình miền sơn cước.

Trong chính cái “tình” dạt dào mênh mông Bác ưu ái dành cho thiên nhiên thì ta vẫn thấy ở đó chất “thép” của một người chiến sĩ cách mạng. Trước mắt Người không gì khác ngoài một nhà tù đầy muỗi, rệp bẩn thỉu, vậy mà Bác vẫn vượt lên cảnh ngộ bản thân, tinh thần vẫn lạc quan, yêu đời, ung dung tự tại vượt lên trên hoàn cảnh mà rung động trước cái đẹp của thiên nhiên tạo vật, như trong bài Ngắm trăng Người đã viết: Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ… “Thép” là ở đó chứ đâu phải “thép” là “lên gân lên cốt”. Trong một bài thơ khác, Bác viết:

“Trong tù không rượu cũng không hoa,

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.”

Bài thơ này hoàn toàn không thấy nhà thơ nói đến nỗi đau khổ, bồn chồn vì mất tự do, mà chỉ thấy hình tượng một thi sĩ hết sức nhạy cảm và tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên.

Bức tranh thiên nhiên nhường chỗ cho bức tranh đời sống sinh hoạt của con người với niềm yêu đời, yêu người thiết tha:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”

(Cô em xóm núi xây ngô tối.)

Thiếu nữ xóm núi trong câu thơ Hồ Chí Minh được miêu tả ở vị trí trung tâm, cận cảnh của bức tranh chiều tối nơi núi rừng; trong hoàn cảnh lao động. Bức tranh đời sống của Bác thật gần gũi, ấm áp; ngôn ngữ thơ từ ước lệ tượng trưng sang giản dị, hiện thực, từ viễn cảnh sang cận cảnh.

Chân dung bức tranh là hình ảnh cô gái xay ngô. Sự nối tiếp “ma bao túc” – “bao túc ma hoàn” gợi lên những động tác xay ngô liên tục, nhịp quay đều đều của chiếc cối xay ngô, đó là sự hăng say lao động thật đáng quý. Hình ảnh cô gái xay ngô tuy là hình ảnh bé nhỏ giản dị, nhưng cô đang hăng say lao động, làm công việc nặng nhọc. Với nét vẽ đậm, khỏe, nhà thơ đã đặt con người vào vị trí trung tâm.

Tư thế của cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh và cuộc sống lao động càng trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Nó đem lại cho người tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hạnh phúc trước cuộc sống bình dị của những con người tuy vất vả mà tự do.

Phải là một người yêu đời, yêu cuộc sống vô cùng, một tâm hồn lạc quan, luôn hướng về sự sống mới có thể ghi lại một hình ảnh tinh tế của cô thôn nữ với cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày bình dị.

Đó cũng là sự đồng cảm của Bác với sự vất vả lao động của những con người lao động. Người đã thể hiện sự thương cảm, đồng cảm. Đồng thời từ đó, tác giả đã lấy lao động làm niềm vui sướng, hứng khởi. Bác quên đi mệt mỏi và chỉ chú tâm vào lao động.

Khi bóng tối của ngày tàn buông xuống nhưng không gian không hề tăm tối, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, tạo nên ánh sáng, tạo nên hơi ấm để sưởi ấm cho người, cho cảnh vật thiên nhiên. Ánh sáng, hơi ấm, con người đã mang lại niềm vui bình dị cho người tù nơi xa xứ. Trong cảnh ngộ gian lao của riêng mình, Bác vẫn tìm thấy niềm vui.

Niềm vui ấy xuất phát từ cuộc sống lao động của người dân Trung Hoa mà người bắt gặp trên đường chuyển lao. Chính tình yêu cuộc sống và thiên nhiên đã giúp Người quên đi nỗi vất vả, nhọc nhằn nơi mình và vơi đi niềm thương nhớ quê hương để cùng chia sẻ với niềm vui nho nhỏ đời thường của người dân lao động, với bếp lửa hồng nơi xóm núi:

“Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng”

(Xay hết, lò than đã rực hồng.)

Trong cảnh chiều muộn ở vùng sơn cước tưởng chừng chỉ có bóng tối hoàng hôn bao phủ, chỉ có heo hút quạnh hiu, nào ngờ có ánh sáng ấm áp đã rực lên xua tan giá lạnh, bóng tối. Sự xuất hiện hình ảnh người thiếu nữ trong khung cảnh lao động, bên “lò than rực hồng” đã mang lại ánh sáng và niềm vui, mang lại sự sống mãnh liệt và ấm áp.

Khi màn đêm buông xuống, cảnh vật thu dần vào một điểm – là lò than đỏ rực rồi tỏa hơi ấm theo âm thanh nồng đượm của chữ “hồng”. Thoát khỏi văn phong cổ điển, hai câu thơ cuối mang nhiều chất hiện đại, mộc mạc, đời thường và điều đó thể hiện rõ ở chữ “bao túc” được xuất hiện đến hai lần.

Cô gái miệt mài xay ngô mà không hề để ý đến thời gian. Cứ hết túi ngô này (ma bao túc) rồi lại đến túi ngô khác (bao túc ma) để rồi đến khi ngô vừa xay xong (bao túc ma hoàn) thì trời đã tối, “lò than đã rực hồng” (lô dĩ hồng)

. Chữ “hồng” kết thúc bài thơ thật tự nhiên mà cũng thật bất ngờ. Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì chính cái chấm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa chấm lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh, dường như nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho người tù đang cất bước trên con đường xa thẳm.

Còn nhớ Nguyễn Trung Thông từng nhận xét về chữ “hồng” trong thơ Bác như thế này: “Hồ Chí Minh rất Đường mà không Đường một tí nào. Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay ngô tối.

Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt” thơ (thi nhã hoặc nhãn tự), nó bừng sáng lên, nó cân lại chỉ một chữ thôi với hai bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ “hồng” đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình lao động của cô gái đáng yêu kia. Đó là màu đỏ của tình cảm Bác”.

Thật đúng như lời nhận xét ấy, bởi ta thấy được sự vận động tích cực trong mạch thơ: trong cảnh chiều muộn ở vùng sơn cước tưởng chừng chỉ có bóng tối hoàng hôn bao phủ, chỉ có heo hút quạnh hiu, nào ngờ có ánh sáng ấm áp đã rực lên xua tan giá lạnh, bóng tối.

Sự xuất hiện hình ảnh người thiếu nữ trong khung cảnh lao động, bên lò than rực hồng đã mang lại ánh sáng và niềm vui, mang lại sự sống mãnh liệt và ấm áp. Sự vận động tích cực trong mạch thơ ấy cũng được thể hiện trong bài “Giải đi sớm”:

“Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,

Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;

Người đi xa đã cất bước trên đường xa,

Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.

Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,

Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;

Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,

Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”.

Vậy là tâm trạng của nhà thơ được vận động từ buồn đến vui, từ lạnh lẽo cô đơn đến nóng ấm, từ lụi tàn đến sự sống. Qua đó ta thấy được chất “thép” và “tình” hòa quyện, quấn quýt. Lòng lạc quan, niềm tin, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt hòa với tình yêu đời, yêu người vô hạn, mênh mông của Bác.

Trong cảnh ngộ đau khổ của riêng mình, đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả, thường là đi từ rất sớm 53 cây số một ngày, áo mũ dầm mưa rách hết giầy. Trước mắt là những nguy hiểm đón chờ, một xó nhà tù khác lạnh lẽo và đầy muỗi rệp, cái bụng lại đói meo.

Đã thế cái tối lại sập xuống nơi núi rừng mà bước chân lưu đày của Người nơi đất khách tha hương vẫn chưa được dừng bước. Trong hoàn cảnh đó chúng ta vẫn có thể chờ đợi ở Bác một sự chạnh nghĩ đến mình, một thoáng thương thân, như một số bài thơ khác ta thường gặp.

Và nếu tứ thơ có phát triển theo hướng đó thì cũng là phải lẽ và có thể cũng rất hay rất lớn. Nhưng giữa bao tăm tối dày đặc đó: Người luôn hướng về cuộc sống lạc quan với một tư tưởng cách mạng kiên cường, cứng rắn như thép, không chút sờn lòng.

Chất tình nhờ chất thép mà thêm nồng hậu. Nhờ tinh thần vững vàng nên trái tim luôn rung cảm sâu sắc với nhiều kiếp người. Chất thép cũng nhờ chất tình mà được nâng lên. Trái tim chan chứa yêu thương và tấm lòng luôn hướng về con người, cuộc đời đã nuôi dưỡng và củng cố niềm tin cho Bác đương đầu với mọi thử thách và bên bỉ giữ vững niềm lạc quan cách mạng.

Bài thơ bốn dòng, hai mươi bảy chữ đã thể hiện tinh thần lạc quan, ung dung, tự tại, kiên cường vượt qua mọi hoàn cảnh sống cùng tình yêu bao la Bác ưu ái dành cho vạn vật trên cõi đời. Vì thế “Chiều tối” đã sống mãi trong hơi thở của thời đại, băng qua dòng chảy nghiệt ngã của thời gian.

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Số 2: Phân tích chất thép và chất tình trong Chiều tối

Đọc tập “Ngục trung nhật ký”, Hoàng Trung Thông viết:

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Thật vậy, “Ngục trung nhật ký” (NTNK) đã làm toát lên bức chân dung của một người tù tự do, một người tù mà không một nhà tù nào, một gông xiềng nào giam hãm được. Vì vậy, đọc thơ Bác, người yêu thơ vẫn nhận thấy bất cứ bài thơ nào, câu thơ nào cũng thấm đậm chất thép. Thép trong thơ Bác uyển chuyển, tinh vi, linh hoạt. Một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất thép trong thơ Người đó là bài “Chiều tối (Mộ)”:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Đây là bài thơ thứ 31 nếu đặt trong logic của toàn bộ tập thơ gồm 135 bài kể cả 2 bản bổ sung. Bài thơ được Bác viết trong một cuộc chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ đã làm toát lên chất thép cao cường của người chiến sĩ cách mạng. Để thấy được chất thép trong tác phẩm này, đầu tiên ta cần phải hiểu nội hàm của chất thép. Trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi”, Người có viết:

“Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Cần phải khẳng định chất thép trong thơ là một hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ. Nó là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Cộng sản; là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của một con người; thậm chí nó còn là thái độ ung dung tự tại của một tù nhân ở ngay trong tù ngục

Vì vậy, khi bộc lộ trong thơ, nó không thể là tiếng nói trần trụi của một ý chí. Nó phải chuyển hóa linh hoạt thành hình tượng thơ, thành tình cảm thơ vì thơ là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm, hình ảnh và lý trí.

Nếu tình cảm là gốc rễ, lý trí là thân cành thì hình ảnh sẽ là hoa trái. Như vậy, đi tìm thép trong tập NTNK, nhất là trong bài thơ “Mộ” nói riêng, ta không thể đi tìm thứ thép lộ thiên mà phải tìm nó trong hình tượng thơ, trong tình cảm thơ.

Chất thép càng chuyển hoá thành hình tượng, thành tình cảm sâu sắc bao nhiêu thì nó càng cao siêu, cao cường bấy nhiêu. Cao siêu nhất, cao cường nhất chính là ở điểm như Hoài Thanh đã nói: “Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép.”

Chất thép trong bài thơ Mộ được thể hiện đầu tiên là ở lòng nhân đạo của người chiến sĩ Cộng sản. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với 2 câu thơ đầu hiện lên là bức tranh thiên nhiên được Bác vẽ bằng tâm hồn của một thi sĩ lãng mạn thông qua những thi liệu, rất cổ điển.

Đó là hình ảnh cánh chim và chòm mây trở đi trở lại nhiều trong thơ cổ trung đại. Nhưng cái hay ở đây là cánh chim trong thơ Người không chỉ đơn thuần là nhằm để điểm xuyết thời gian như trong thơ cổ điển, ví như bà huyện thanh quan trong “chiều hôm nhớ nhà” đã viết:

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Rặng liễu sương sa khách bước dồn”

Hay như trong ca dao có câu:

“Chim bay về núi tối rồi”

Ở đây, Bác đã nhìn thấu và bên trong sự vật hiện tượng để cảm nhận được cái sự mệt mỏi của cánh chim sau một ngày lam lũ kiếm sống. Điều này được thể hiện rõ khi Người đặt chữ “quyện” nghĩa là mệt mỏi lên đầu câu. Như vậy, Bác đã bước xa hơn Nguyễn Du trong kiệt tác truyện Kiều với hình ảnh:

“Chim hôm thoi thót về rừng

Đóa trà my đã ngậm trăng nửa vành”

Như vậy Bác đã nhìn thấu vào sự vật hiện tượng để thấy được những sự mệt mỏi của những vật tưởng như vô tri vô giác. Điều ấy có nghĩa là Mộ nói chung, cũng như câu khai đề nói riêng đã được viết lên bằng một trái tim vô cùng nhân đạo. Trong trái tim của Bác chất chứa biết bao nhiêu chỗ đứng, thân phận, cảnh ngộ và cả những vật vô tri vô giác như nhánh lúa nhành hoa mà như Tố Hữu đã nói là:

“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Mà ở chỗ nào tình cảm sâu sắc nhất, nơi ấy chất thép được bộc lộ cao nhất. Đúng như Hoàng trung Thông đã nói:

“Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Mặt khác, thép ở đây còn là tinh thần chiến đấu, là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của một con người. Ý tưởng đó cũng được thể hiện ngay ở câu thơ khai đề. Cánh chim trong câu thơ của Người đang quy lâm để tìm nơi trú ngụ. Rõ ràng ở đây nó không còn như trong thơ của Lí Bạch:

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”

Cánh chim trong thơ của Lí Bạch bay về nơi vô tận thì cánh chim trong thơ Người lại đang quy lâm để tầm túc thụ. Ta không loại trừ hình ảnh cánh chim ấy là biểu hiện cho khát vọng tự do, khát vọng đoàn tụ trong tâm hồn Bác bởi Maxim Gorky đã nói: “Văn học là nhân học.” Văn học từ muôn đời xưa cho đến mãi về sau bao giờ cũng viết về con người. Đang nơi đất khách quê người, Bác biết đi đâu về đâu khi phía trước chỉ là một nhà lao và điểm xuất phát cũng chỉ là một nhà tù mà thôi. Nỗi nhớ nước đã từng làm Bác bị ốm nặng:

“Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh

Nội thương nước Việt cảnh lầm than”

Thậm chí nỗi nhớ nước thương dân còn làm cho Người không ngủ được:

“Canh bốn canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

Như vậy rõ ràng cánh chim ấy là khát vọng đoàn tụ, là tình yêu quê hương đất nước mà lòng yêu quê hương đất nước già dặn sôi nổi ấy chính là biểu hiện chất thép trong bài thơ “Mộ” nói riêng, của cả tập thơ “NTNK” nói chung.

Không chỉ dừng lại ở đó, đến câu thơ thứ 2, Bác gợi lên không gian của cuộc giải tù:

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Đó là một bức họa mà mỗi một ý thơ, một lời thơ như một nét khắc nét chạm. Nền của bức pic ấy là bầu trời cao rộng. Điểm xuyết vào đó là chòm mây cô đơn, cô độc, cô lẻ đang trôi chậm chậm giữa miền sơn cước. Bức tranh này được vẽ bằng tâm hồn của một tù nhân cổ đeo gông, chân vướng xiềng. Vậy nhưng ở đây, tâm hồn Người vẫn bỏ ngỏ, thơ của Người vẫn ra đời như khi đang ở thể trạng tự do vậy.

Điều đó có nghĩa ở Người có một tinh thần thép cao cường, một tinh thần vượt ngục mà không một nhà tù nào, một gông xiềng nào giam hãm được. Chính từ địa hạt của tự do ấy, Bác đã vẽ lên trong cuộc chuyển lao một bức tranh thiên nhiên rất đẹp. Nhìn vào bức tranh ấy, không những ta thấy được tâm trạng buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ nước,

biểu hiện tình yêu nước của Hồ Chí Minh mà còn thấy một sự bất bình tố cáo chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch vì ở câu thơ này, Bác đã làm toát lên thể trạng mệt mỏi của tù nhân. Nhà tù Tưởng Giới Thạch áp giải tù nhân mọi lúc mọi nơi, thậm chí cảnh giải lao còn làm Bác khó chịu, bất bình:

“Đã giải đi Nam Ninh

Lại giải về Vũ Minh

Giải đi quanh quẹo mãi

Kéo dài cả hành trình

Bất bình!”

Giải từ sáng sớm: “Gà gáy một lần đêm chửa tan”, lại phải đi bộ năm mươi ba cây số với chỉ lưng bát cháo tù cầm hơi:

“Năm mươi ba cây số một ngày

Áo mũ dầm mưa rách hết giày”

Giờ đây là thời điểm “Mộ”, nghĩa là chiều tối. Sức Người đã mệt. Sự mệt mỏi quyện vào từng hình ảnh thơ, điệp vào 2 chữ “mạn mạn” trong tiếng Hán Việt nghĩa là “chậm chậm” với 2 dấu nặng đi liền kề để miêu tả bước đi nặng nhọc của tù nhân sau một ngày bị áp giải. Như vậy ở đây, Bác tố cáo nhà tù bất nhân đã tước mọi quyền của con người và nó cũng đã bộc lộ rõ lòng yêu nước, cái thái độ bất bình. Tất cả đó chính là biểu hiện của chất thép trong bài thơ “Mộ”

Cứ như thế, Bác viết bài thơ “Mộ” nói riêng, cho tập “NTNK” nói chung bằng một trái tim mà Tố Hữu đã từng thốt lên rằng:

“Bác ơi tim bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người”

Toàn bộ trái tim ấy được thể hiện rõ ở trong 2 câu thơ cuối. Khi ánh nắng tàn phai, chim trời tắt bóng cũng là lúc bầu trời buông xuống theo đúng thời gian. Cái nhìn bao quát không gian “Độ thiện không” giờ đây lại thu vào để đặc tả một xóm núi đó là sơn thôn. Nổi lên trên xóm núi ấy là hình ảnh người thiếu nữ đang ở độ đầu xuân của tuổi trẻ lại đang phải lao động vất vả trong công việc của nhà nông:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Không chỉ đến đây ta mới thấy xuất hiện hình tượng người thiếu nữ trong thơ. Nếu trong thơ cổ trung đại, người thiếu nữ là trung tâm của cái đẹp; trong thơ lãng mạn, họ là đối tượng để chuyển tải cái tôi cô đơn mà hơn một lần Xuân Diệu viết:

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Người thiếu nữ trong thơ Bác lại đang xay ngô: “ma bao túc”. Vì vậy, câu thơ ánh lên giá trị, vẻ đẹp của con người trong lao động. Không chỉ dừng lại ở đó bởi thơ hay ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều. Chất thép trong câu thơ lại được biểu hiện một lần nữa thông qua tình thương của Bác đối với người thiếu nữ đang xay ngô trong thời điểm lẽ ra phải được nghỉ ngơi.

Cần phải khẳng định cái lòng nhân đạo ấy chính là sức mạnh của Bác. Chẳng thế mà nhận định về Bác Hồ, mọi ý kiến trong và ngoài nước đều thống nhất với nhau ở một điểm: ngọn nguồn sức mạnh của Hồ Chí Minh nằm ngay trong trái tim của Người. Ở đây, cái tình yêu thương ấy, cái lòng nhân đạo của Bác đã vượt qua lĩnh vực của một quốc gia, vượt qua cả hình ảnh:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng”

Bác thương cho tất cả những con người Bác gặp trong lao tù. Từ một cháu bé trong nhà lao Tân Dương, thử hỏi trong khám lạnh nhà tù, biết bao nhiêu tù nhân nghe thấy tiếng khóc của cháu bé vừa nửa tuổi mà rung lên thành hồn thơ như Nguyễn Ái Quốc:

“Oa… Oa… Oa

Cha trốn không đi lính nước nhà

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

Phải theo mẹ đến ở nhà pha”

Bác dành tình thương cho những con người Bác gặp trên con đường chuyển lao. Đó có thể là một phu làm đường:

“Dãi nắng dầm mưa chẳng nghỉ ngơi

Phu đường vất vả lắm ai ơi

Ngựa xe hành khách đường qua lại

Biết cảm ơn anh được mấy người

Đến đây, Người lại dành tình thương cho người thiếu nữ đang độ đầu xanh của tuổi trẻ lao động vất vả trong thời điểm nghỉ ngơi ấy là chiều tối. Đằng sau tình thương ấy, ta lại thấy một nỗi bất bình khi Người sử dụng nghệ thuật đảo ngữ. Ở cuối câu thơ thứ ba, ta bắt gặp “ma bao túc”. Ở đầu câu 4 Bác đảo lại thành “bao túc ma”. Chính nghệ thuật đảo ngữ ấy đã làm 2 câu thơ bắt vòng với nhau.

Nó không chỉ đơn thuần là vòng của chiếc cối xay ngô. Nhìn sâu hơn, nó là vòng đời, vòng người của những kiếp đời luẩn quẩn sống dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Như vậy rõ ràng, viết bài thơ này, Người đã đứng trên quyền con người để tố cáo cái chế độ bất nhân của Tưởng Giới Thạch.

Bài thơ còn nổi bật ở một điểm đó là có lẽ cái sức mạnh của bài thơ lại được tập trung ở hình ảnh “lô dĩ hồng”. một trong những đặc điểm của thơ Bác đó là thơ Người luôn luôn vận động, hướng vận động đi từ hiện tại tới tương lai, từ bóng tối để hướng đến ánh sáng. “Mộ” không nằm ngoại lệ. “Mộ” có nghĩa là chiều tối, ngỡ tưởng sẽ kết thúc bằng một màn đêm đen đặc. Nhưng không, với cái nhìn của người chiến sĩ, Bác đã kết thúc bài thơ của mình bằng màu hồng.

Vì vậy, có lẽ chất thép của bài thơ dồn đổ mạnh nhất đo là ở chữ hồng ở bài thơ nà. Chữ “hồng” ở đây là hình ảnh đa nghĩa. Ta không nên hiểu nó theo một nghĩa đơn nào mà nó là một hình ảnh đa nghĩa. Hiểu theo nghĩa tường minh, đây là màu hồng của lò than. Lò than ấy có lẽ đã hồng từ lúc buổi chiều.

Điều này thể hiện rõ qua sắc thái của chữ “dĩ”. Trời cứ tối dần, ma lực của màu hồng càng phát sáng. Tuy nhiên ta phải hiểu chữ hồng trong câu thơ này không nên theo nghĩa tường minh mà phải theo nghĩa hàm ẩn. Hồng ở đây chính là màu hồng trong tâm tưởng của Bác. Đó là màu hồng của cuộc cách mạng đang đến gần.

Dường như Người nhìn thấy cuộc Cách mạng tháng Tám của đồng bào ta đang đến gần. Nhận định về vấn đề này, một nhà phê bình văn học khẳng định: “Thơ Bác, thơ người chiến sĩ cộng sản tay nắm chắc chân lý, mắt nhìn thấu cõi tương lai.” Chữ “hồng” ấy ta cũng không loại trừ đó là tình thương, là lòng nhân đạo của Hồ Chí Minh.

Đây chính là màu hồng của chất thép bởi màu hồng ấy chính là Bác đi trong đêm tối, đi trong XH hội tăm tối và nó càng phát sáng. Như vậy, trái tim nhân đạo của Người bộc lộ rõ nét hơn nhiều. Có thể nói, màu hồng ấy chính là bản lĩnh của Hồ Chí Minh. Nhận định về vấn đề này, Chế Lan Viên viết:

“Người ghét sự chói chang, nhưng chính Người là nguồn ấm nóng

Của vầng hồng đánh đẹp bóng đêm lui”

Như vậy, một mình chữ “hồng” này đã đẩy lùi bóng đêm lui, đã cân bằng 27 âm tiết còn lại của một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Rõ ràng chữ hồng ở đây là nhãn tự của bài thơ. Một lần nữa, bài thơ lại toát lên chất thép ở phong thái ung dung tự tại của tù nhân.

Đọc bài thơ “Mộ”, ta không thấy những lời thơ than vãn, mặc dù Bác làm thơ trong hoàn cảnh hoàn toàn phản thơ. Vì sao lại có được điều ấy? Bởi Bác có một tinh thần thép, một tinh thần vượt ngục. Không một nhà tù nào giam được tinh thần của Bác. Bài thơ không hề có chữ thép, không hề lên giọng thép nhưng lại ngập tràn chất thép. Để kết thúc bài viết của mình nên chăng ta mượn lại lời của nhà phê bình Hoài Thanh: “Khi Bác nói trong thơ có thép, ta phải hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép.”

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Số 3: Phân tích chất thép chất tình trong bài thơ Chiều tối

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là một nhà thơ lỗi lạc, một thi nhân tài hoa kiệt xuất. Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng cứu nước, cứu dân. Với người, văn thơ là tâm hồn, là tính cách con người, văn thơ của Bác luôn thể hiện những ý tưởng cao đẹp, tâm hồn cao quý và cuộc đời vĩ đại.

Trong đó, phải kể đến tác phẩm Chiều tối trong tuyển tập Nhật Kí Trong Tù đã thể hiện được tinh thần thép và chất tình qua bài thơ. Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, đó là khi bác di chuyển từ nhà tù này đến nhà tù khác khắp tỉnh Quảng tây, Trung Quốc.

Bài thơ chiều tối nổi bật cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Qua bài thơ chúng ta có thể thấy được tư tưởng sáng tác cũng như chất thơ độc đáo. Đó là chất thép và chất tình. Nó hòa quyền hài hòa với nhau trong bài thơ Chiều Tối, bài thơ đã cho thấy một người chiến sĩ cách mạng với tinh thần thép nhưng vẫn rất lãng mạn, rất tình.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã ửng hồng”

Bài thơ chỉ vẻn vẹn 4 câu thơ nhưng đã lột tả lên được khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, sự hòa quyện của con người và thiên nhiên tạo nên bức tranh sinh động vô cùng. Theo đó, Ở 2 câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên chiều tối với khung cảnh cánh chim và bầu trời chiều tối, áng mây buồn lãng vãng.

Tác giả dường như đáng phóng tầm mắt để quan sát sự biến đổi của thiên nhiên. Mặt trời dần lui về sau núi, những áng mây hồng như ngọn lửa tàn, cánh chim mệt mỏi tìm về chốn ngủ. Không gian có vẻ buồn tĩnh lặng đậm chất thi sĩ, chất tình.

Trong con mắt người thi sĩ, thiên nhiên chuyển động chậm về chiều tối, ánh nhìn buồn man mác, cảnh vật cũng buồn theo. Với ý nghĩa tả thực, không gian là buổi chiều tàn với không gian cao vời vợi, màu sắc nhẹ nhàng, trầm tĩnh, sự mệt mỏi của cánh chim sau một ngày vất vả bay lượn, giờ phải tìm về rừng – nơi trú ngụ.

Nhưng trong mắt thi sĩ, nó không chỉ đơn giản là thiên nhiên mà đó cón chính là tâm tâm trạng của Bác. Cánh chim ấy chính là Bác, Bác cũng đang nhớ người thân, nhớ bóng hình tổ quốc,… có một chút gì đó lạc lõng, chơi vơi trong từng câu thơ.

Phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ chiều tối – Chỉ hai câu thơ đơn giản ấy đã chứa đựng nỗi lòng của người chiến sĩ cách mạng, đó là nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương, được khao khát bay nhảy tự do, sải cánh như chim trời, được nhẹ nhàng như áng mây kia. Còn hiện thực đó là cảnh trời đất u buồn, giềng xích, lạc lõng và cô đơn của người chiến sĩ nơi đất trời xa lạ, mênh mông và hiu quạnh.

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã ửng hồng”

Hai câu thơ cuối cũng thể hiện rõ chất tình. Sự chuyển mình của thời gian nhanh chóng diễn ra, từ buổi chiều tà với đám mây như lò than sắp tắt con đến bóng tối bao trùm và làm nổi bật lên ngọn lửa hồng.

Tá giả khéo léo sử dụng thủ phạm đối lập, lấy trăng tả cây, lấy bóng tối để tả ánh sáng. Hình ảnh cô em trẻ trung khỏe khoắn đang lao động hăng say dưới ánh lửa hồng vô cùng lãng mạn.

Bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người hòa vào thiên nhiên. Đã có sự chuyển mình ở hai câu thơ cuối. hai câu trên là tả tĩnh với cánh chim mệt mỏi, hai câu cuối là tả động với cuộc sống con người hòa vào thiên nhiên.

Đây chính là sự lãng mạn của hai câu thơ, con người và thiên nhiên hòa làm một, bổ trợ cho nhau. Thiên nhiên sẽ thiếu sức sống nếu không có hoạt động con người. Thiên nhiên làm nổi bật lên con người. Sự chăm chỉ của cô gái chính là vẻ đẹp lao động của chính con người Việt Nam. Ánh lửa hồng hay chính là khát vọng trở về quê hương, về bếp lửa của Tác Giả.

Có thể thấy, bức tranh chiều tối u buồn đã hiện lên với điểm sáng từ hình ảnh cô thôn nữ và ánh lửa hồng khiến bức tranh đầy chất lãng mạn, chất tình.

Bên cạnh chất tình của bài thơ phải kể đến chất thép. Đây chính là tinh thần thép, ung dung, tự tại giữa sự hà khắc của cuộc sống. Đọc bài thơ, người đọc không chỉ cảm nhận đây là bức tranh thiên nhiên đẹp, là tâm trạng nhớ nhà khắc khoải, khát vọng tự do mà còn là thái độ ung dung, tự tại giữa cuộc đời phong ba bão tố. Chất thép hiện rõ lên trong từng ý thơ.

Để tìm hiểu chất thép chúng ta còn phải hiểu hoàn cảnh của bài thơ ra đời. Hoàn cảnh khắc nghiệt khi Bác bị đày từ nhà tù này đến nhà tù khác, chân bị gông cùm, tay xiềng xích, thân thế mệt mỏi rã rời, gầy guộc.

Vậy mà trong lúc hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng thế này Bác vẫn có thể cảm nhận sự chuyển mình của thiên nhiên, vẫn có thể gửi gắm tâm tư mình vào thơ ca cho thấy một tinh thần thép, kiên cường, mạnh mẽ mà không phải người bình thường nào trong hoàn cảnh ấy cũng làm được.

Đặc biệt trong hai câu thơ cuối, tinh thần thép thể hiện sự chuyển động mạnh mẽ của hành động xay ngô tối và ánh lửa hồng. Ngoài tính chất lãng mạn nó còn thể hiện cho sự mạnh mẽ trong tâm hồn thi sĩ. Ánh lửa hồng xua tan đi mệt mỏi, chỉ còn lại sự hoạt bát, tinh thần sáng sủa, hân hoan hướng về ánh sáng.

Hình ảnh cô gái, màu hồng của ánh lửa chính là niềm tin, là việc sắt đá trong tư tưởng của người chiến sĩ. Đây chính là tinh thần thé trong bài thơ. Cô gái hăng say xay ngô tối chính là sự hăng say hoạt động cách mạng, ánh lửa hồng chính là niềm tin lý tưởng, ánh sáng cách mạng. Nó luôn rực cháy và càng trong đêm tối càng sáng rực lên.

Có thể nói, chất tình và chất thép hòa quyện vào nhau tạo nên phong cách thơ Hồ Chí Minh. Khi đọc thơ, người đọc vừa cảm nhận được sự lãng mạn, vừa cảm nhận được sự mạnh mẽ trong lý tưởng, tâm hồn.

Bài thơ vừa tỉnh, vừa lặng, không gian mở rộng từ trên cao xuống dưới núi, thời gian từ chiều đến tối với những đám mây lững thững, lãng đãng u buồn đến sự sôi động của hành động xay ngô tối và ánh lửa phập phồng. Sự mạnh mẽ, dẻo dai, uyển chuyển ngày càng thể hiện rõ trong câu thơ như chính tâm hồn, ý chí của Bác, cũng chuyển đổi mạnh mẽ hơn giữa những thử thách khắc nghiệt của cuộc đời.

Qua tác phẩm trên, chúng ta cảm nhận được Bác, một vị lãnh tụ vĩ đại, một nhà thơ lớn với tâm hồn lãng mạn và một trái tim thép, mạnh mẽ, đã soi đường chỉ lối để dân tộc Việt Nam rũ bùn đứng dậy sáng lòa. Bài thơ chính là phong cách thơ Hồ Chí Minh qua từng chặng đường của cuộc đời, hành trình cứu nước đầy gian nan. Tự hào thay vì được là con dân của Việt Nam, là cháu, là con của Bác Hồ. Người lãnh tụ vĩ đại, người cha già đáng kính của dân tộc.

Số 4: Phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

Hồ Chí Minh được nhân loại biết đến không chỉ là một vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam mà còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỷ XX. Ngoài văn chính luận, người còn để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca đáng trân trọng. Trong đó nổi bật nhất là tập thơ Nhật ký trong tù. Tập thơ này như một cuốn nhật ký bằng thơ ghi lại những chặng đường giải lao đầy gian nan vất vả của người tù. Nhưng bằng bản lĩnh thép, tinh thần thép Người đã vượt qua hoàn cảnh tù đày để hướng về ánh sáng. Bài thơ Chiều tối là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của tập Nhật ký trong tù:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

Tháng 8/1942, Bác Hồ sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của bạn bè quốc tế về cuộc cách mạng ở Việt Nam. Sau mười lăm ngày đi bộ khi vừa tới thị trấn Túc Vinh, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ và bị “mười bốn trăng tê tái gông cùm” trong gần ba mươi nhà lao của tỉnh Quảng Tây.

Trong thời gian này Người đã sáng tác tập thơ Nhật ký trong tù gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán. Bài thơ “Mộ” (Chiều tối) được xem là áng thơ tuyệt bút, được Người làm trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.

Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên buổi chiều tà trên đường Bác bị giải lao. Chỉ vài nét chấm phá, hai câu đầu của bài thơ đã để lại một tiểu hoạ về cảnh thiên nhiên vùng sơn cước ở thời điểm “chiều tối”.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không”

Thiên nhiên hiện lên với hai nét chấm phá: cánh chim và áng mây mang màu sắc cổ thi rõ nét. Hai hình ảnh ấy tạo nên bầu không gian khoáng đãng, cao rộng, thể hiện điểm nhìn lên của tác giả “luôn ngẩng cao đầu trong hoàn cảnh tù đày”.

Buổi chiều ấy dường như ta đã bắt gặp đâu đó trong thơ xưa: “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà” hay “Chiều tà bảng lảng bóng hoàng hôn” (Bà Huyện Thanh Quan). Cánh chim và chòm mây vốn là những thi liệu rất quen thuộc trong thơ cổ thường dùng để miêu tả cảnh chiều tối như một bút pháp miêu tả thời gian. Lý Bạch trong bài thơ Độc tọa Kính Đình san cũng đã từng viết:

Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn

(Chim trời bay đi mất

Mây lẻ trôi một mình)

Điều mới mẻ ở đây là nếu như trong thơ cổ, cánh chim thường bay về chốn vô tận vô cùng, vô định, gợi cảm giác xa xăm, phiêu dạt, chia lìa, mang cái buồn thương u uẩn thì cánh chim trong thơ Bác lại gần gũi yêu thương hơn bao giờ hết.

Nó chỉ là cánh chim tìm về tổ ấm sau một ngày dài mỏi mệt kiếm ăn. Cái hay nằm ở chỗ, nhìn cánh chim bay mà thấy được “quyện điểu”, thấy được trong dáng bay của cánh chim có sự mỏi mệt của nó. Nghĩa là nhà thơ nhìn thấy được sự vận động bên trong của cánh chim kia. Đây chính là tình cảm nhân đạo của Hồ Chí Minh.

Cái nhìn ấy thể hiện tình cảm nhân ái bao la của Người đối với cảnh vật. Đúng như Tố Hữu đã từng viết “Bác ơi tim Bác mênh thống thế/ Ôm cả non sông mọi kiếp người”. Qua đó ta thấy thêm một nét nghĩa mới: người tù dường như cũng đồng cảm với cánh chim kia, Người như cũng muốn được dừng chân sau một ngày đày ải “Năm mươi ba cây số một ngày/ Áo mũ dầm mưa rách hết giày”.

Cùng với “Quyện điểu quy lâm”, là “Cô vân mạn mạn”. Bài thơ dịch khá uyển chuyển, nhưng đã làm mất đi vẻ lẻ loi, trôi nổi, lững lờ của đám mây. Người dịch đã bỏ sót chữ “cô” và chưa thể hiện được hết nghĩa của hai từ láy “mạn mạn”.

Căn cứ vào phần nguyên âm ta thấy, hình ảnh đám mây cô đơn, lẻ loi đang chầm chậm trôi qua bầu trời. Nó không chỉ làm cho bầu trời thêm cao, thêm khoáng đãng mà còn gợi lên nỗi buồn bâng khuâng của người tù trên đất khách quê người. Nhưng buồn mà không bi lụy, không hiu hắt như trong thơ cổ điển. Mặc dù câu thơ dịch: “Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không” chưa được sát nghĩa nhưng dù sao cũng thấy cái hay riêng của nó.

Chòm mây trôi nhẹ nhàng, nhàn tản như chính tâm hồn người tù chiến sĩ ung dung tự tại, bị giải tù mà như đang thưởng ngoạn cảnh trời chiều và thả tâm hồn thi sĩ chứ không còn là cảnh tù đày mệt mỏi nữa. Qua đó ta thấy tác giả không hề để lộ cái mệt mỏi, cô đơn của chính mình. Đó chính là tinh thần thép vĩ đại của người tù – thi sĩ Hồ Chí Minh.

Nhìn chung, hai câu đầu bài thơ có phảng phất nỗi buồn của lòng người, của tâm trạng người tù nhưng cảnh buồn mà không chút bi lụy. Thạc sĩ Nguyễn Đức Hùng nhận xét rằng “Những buổi chiều như vậy, đâu có thiếu trong văn chương cổ kim; nhưng nếu cảnh ấy qua cái nhìn của một Lý Bạch tiêu diêu, một Khuất Nguyên u uất chắc chắn sẽ đầy ảm đạm, thê lương. Còn ở đây, nếu không rõ xuất xứ, nhiều người sẽ lầm tưởng “Mộ” là bài thơ của thời Thịnh Đường”.

Cảnh chiều tà nơi vùng sơn cước có chút hiu hắt vắng lặng gợi lên cái bâng khuâng man mác trong lòng người đọc nhưng sự biến chuyển của hai câu sau nhanh chóng xóa đi cái hiu hắt vốn có của núi rừng. Đó chính là lúc mà đôi mắt yêu thương và trái tim nhân ái bao la của Người bắt gặp vẻ đẹp của con người lao động:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Sinh thời Hồ Chí Minh chỉ có một ao ước lớn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nghĩa là ao ước của Người luôn hướng về nhân dân, nhân dân ở đây không chỉ hiểu là dân tộc Việt Nam ta mà còn là nhân dân cần lao trên thế giới. Đó chính là tinh thần nhân đạo cao cả của Quốc tế cộng sản.

Câu thơ nguyên bản “Sơn thôn thiếu nữ” dịch là “Cô em xóm núi” đứng trên bình diện nghĩa của từ thì không có gì sai. Nhưng câu thơ dịch đã không thể hiện được cái nhìn trân trọng của nhân vật trữ tình đối với con người; giọng điệu trang trọng của câu thơ nguyên tác không hiện diện trong lời thơ dịch.

Người phụ nữ đã nhiều lần có mặt trong thơ chữ Hán, nhưng phần lớn họ đều thuộc giới thượng lưu hoặc chí ít cũng gần gũi với giới thượng lưu. Phần lớn người phụ nữ trong cổ thi đều mang nỗi buồn thương man mác vì chiến tranh sinh ly tử biệt hay lỡ dở tình duyên, Vương Xương Linh đời Đường từng viết Khuê oán:

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu.

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

Dịch thơ

“Cô gái phòng the chửa biết sầu

Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu

Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu

Hối để chồng đi kiếm tước hầu.”

Cái mới ở đây là cũng viết về hình ảnh người phụ nữ nhưng thơ Bác lại viết về người dân lao động với cái nhìn trân trọng yêu thương mang niềm vui của tấm lòng nhân đạo. Hai chữ “thiếu nữ” gợi lên vẻ trẻ trung, tươi tắn của cô gái cùng với hoạt động xay ngô đã làm hiện lên vẻ đẹp khỏe khoắn, nhịp nhàng trong lao động.

Hình ảnh này đã làm xôn xao cả buổi chiều cô quạnh mang đến cho bức tranh thơ sức sống và niềm vui lan tỏa. Có lẽ cũng chính vì vậy mà có một nhà phê bình nào đó từng nhận xét rằng “Không rõ trước Hồ Chí Minh đã có một “sơn thôn thiếu nữ” thực sự là người lao động bước vào thế giới của nàng thơ hay chưa? Chỉ biết rằng việc đặt hình ảnh “sơn thôn thiếu nữ”ở vị trí trung tâm của bức tranh phong cảnh chiều tối đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh về cuộc sống con người.

Sự chuyển đổi ấy thể hiện một khuynh hướng vận động của hình tượng thơ và quan điểm nhân sinh của Bác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng gắn bó với cuộc sống con người nơi trần thế đặc biệt là cuộc sống nhân dân lao động”.

Tính hiện đại ở đây nữa chính là nghệ thuật biểu hiện. Tài hoa của Người là ở chỗ tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh chiều tối mà không phải dùng đến một tính từ chỉ thời gian nào. Cả bài thơ không hề có chữ tối nào cả mà người đọc vẫn nhận ra chữ tối. Người dùng ánh lửa đỏ để thể hiện thời gian (trời có tối mới nhìn thấy lò than rực hồng). Hơn nữa, người đọc còn cảm nhận được bước đi của thời gian từ chiều đến tối.

Cô gái xay ngô từ khi trời còn ánh sáng; xay xong thì trời đã tối. Điệp ngữ liên hoàn (điệp ngữ vòng) “ma bao túc – bao túc ma hoàn” đã cho ta cảm nhận được thời gian đang vận động đang xoay theo từng vòng quay của cối xay ngô. Phải chăng Hồ Chí Minh đã có một phát hiện mới trong bút pháp tả thời gian. Rõ ràng, ngay cả khi tả cảnh chiều tối, thơ Hồ Chí Minh vẫn có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng.

Vòng quay của chiếc cối chấm dứt, công việc kết thúc (bao túc ma hoàn) thì lò than cũng vừa đỏ (lô dĩ hồng), ánh lửa đỏ ấm nồng xuất hiện thật bất ngờ, tỏa sáng vào đêm tối xua tan đi cái lạnh lẽo hiu hắt của núi rừng. Đó cũng là lúc mà cô gái kia được quây quần bên mâm cơm ấm cúng của gia đình.

Chữ “hồng” nằm ở cuối bài thơ nhưng có một vị trí đặc biệt. Trong nghệ thuật Đường thi, chữ hồng được xem là nhãn tự là con mắt thần. Nó tạo nên cái thần thái đặc biệt cho bài thơ. Hoàng Trung Thông nhận xét rằng: Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn ra trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ đường người ta gọi là “con mắt thơ” (Thi nhãn hoặc là nhãn tự, chữ mắt) nó sáng bùng lên, nó căn lại, chỉ một chữ thôi với hai mươi bảy chữ khác dẫn đầu nặng đến mấy đi chăng nữa.

Với chữ “hồng” đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia. Đó là màu đỏ tình cảm Bác.

Như vậy chữ “hồng” rất xứng đáng là “ông thánh thứ hai mươi tám” của bài thơ. Ánh hồng ấy không chỉ tỏa ra từ chiếc bếp lửa bình dị của một “sơn thôn thiếu nữ” mà chủ yếu được tỏa ra từ tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Về nét nghĩa khác, chữ “hồng” còn là biểu hiện của cuộc vận động từ bóng tối ra ánh sáng. Thơ Hồ Chí Minh bao giờ cũng vậy, luôn hướng về ánh sáng. Trong bài thơ Tảo giải, chữ “hồng” ấy cũng đã từng xuất hiện:

“Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng

Bóng tối đêm tàn sớm sạch không”

Chữ “hồng” ấy với chữ “hồng” trong Chiều tối có cùng một nét nghĩa là chỉ ánh sáng, chỉ niềm vui, sự lạc quan của người tù. Con đường cách mạng Việt Nam cũng vậy đi từ trong đêm trường nô lệ, đi trong chông gai để đến với con đường vinh quang.

“Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,

Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;

Trong ngục giờ đây còn tối mịt,

Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.”

(Trích Nhật ký trong tù)

Thành công của bài thơ chính là yếu tố cổ điển kết hợp với hiện đại, giữa tâm hồn thi sĩ và tinh thần thép của người tù cách mạng. Bài thơ đã làm người đọc xúc động trước tình cảm nhân ái bao la của người tù chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh dù trong hoàn cảnh tù đày nơi đất khách quê người nhưng Người vẫn vượt lên trên tất cả mọi sự khổ đau, đọa đày về thể xác để đưa đến cho người đọc những vần thơ tuyệt bút. Qua bài thơ ta càng hiểu, càng yêu hơn lãnh tụ Hồ Chí Minh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Xin được mượn bốn câu thơ của nhà thơ Tố Hữu thay cho lời kết:

“Lại thương nỗi đọa đày thân Bác

Mười bốn trăng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu, mắt mờ tóc bạc

Mà thơ bay cánh hạc ung dung”

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Số 5: Phân tích chất thép và chất tình trong Chiều tối

Bác Hồ với tâm hồn tha thiết yêu con người, đất nước bao nhiêu thì cũng thiết tha yêu thiên nhiên cuộc sống bấy nhiêu. Tâm hồn ấy trong những tháng ngày tù đày tăm tối luôn hướng về tự do, ánh sáng, sự sống và tương lai. Trên đường bị giải đi trong chiều buồn ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc lòng nhà thơ – người tù bỗng ấm lên và phấn chấn vui vẻ trước thiên nhiên đẹp và hình ảnh cuộc sống bình dị ấm cúng.

Đây là bài thơ thứ 31 của tập “Nhật ký trong tù” vào cuối thu 1942. “Chiều tối” là bài thơ mang màu sắc cổ điển, thể hiện ở thể thơ tứ tuyệt, hình ảnh ước lệ, tượng trưng, nghệ thuật điểm xuyết quen thuộc trong thơ ca trung đại và tinh thần hiện đại – lấy sự vận động của con làm hình tượng thơ, lấy con người làm đối tượng trung tâm cho bức tranh thiên nhiên.

Trước hết cần hiểu hai khái niệm trên nghĩa là gì? thép là sự ẩn dụ cho lòng kiên cường, sự bất khuất, cứng cỏi, không dễ khuất phục. Đó là biểu hiện của tinh thần bền bỉ, ý chí vững vàng. tình là sự rung cảm, là cảm xúc. Nó xuất phát từ rung động của trái tim luôn nóng hổi, sôi nổi nhiệt tâm. Hai khái niệm này có vẻ mâu thuẫn. Mâu thuẫn, mà sao lại tồn tại chung đụng với nhau như thế? Lại còn là nét tiêu biểu, đặc trưng cho phong cách của một nhà thơ lớn như Hồ Chí Minh?

Chất thép trong bài thơ Chiều tối được thể hiện đầu tiên là ở lòng nhân đạo của người chiến sĩ Cộng sản. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với hai câu thơ đầu hiện lên là bức tranh thiên nhiên được Bác vẽ bằng tâm hồn của một thi sĩ lãng mạn thông qua những thi liệu, rất cổ điển. Đó là hình ảnh cánh chim và chòm mây trở đi trở lại nhiều trong thơ cổ trung đại.

Người thiếu nữ trong thơ Bác lại đang xay ngô: “ma bao túc”. Vì vậy, câu thơ ánh lên giá trị, vẻ đẹp của con người trong lao động. Không chỉ dừng lại ở đó bởi thơ hay ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều. Chất thép trong câu thơ lại được biểu hiện một lần nữa thông qua tình thương của Bác đối với người thiếu nữ đang xay ngô trong thời điểm lẽ ra phải được nghỉ ngơi.

Thật ra thì, chất thép và chất tình chính là hai mặt cùng tồn tại và làm nền tảng cho nhau, tạo nên tính cách đáng quí của Hồ Chí Minh và trở thành nét đặc biệt trong sáng tác của ông. Tinh thần bền bỉ của tác giả thể hiện ở chỗ, trong cái khó, cái khổ, ông vẫn không hề nao núng; bị gông cùm xiềng xích, ông vẫn can đảm đối diện; nguy hiểm cận kề, ông vẫn ung dung tự tại…

Cần phải khẳng định chất thép trong thơ là một hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ. Nó là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Cộng sản; là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của một con người; thậm chí nó còn là thái độ ung dung tự tại của một tù nhân ở ngay trong tù ngục. Vì vậy, khi bộc lộ trong thơ, nó không thể là tiếng nói trần trụi của một ý chí.

Nó phải chuyển hóa linh hoạt thành hình tượng thơ, thành tình cảm thơ vì thơ là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm, hình ảnh và lý trí. Nếu tình cảm là gốc rễ, lý trí là thân cành thì hình ảnh sẽ là hoa trái. Như vậy, đi tìm thép trong tập Nhật ký trong tù, nhất là trong bài thơ “Chiều tối” nói riêng, ta không thể đi tìm thứ thép lộ thiên mà phải tìm nó trong hình tượng thơ, trong tình cảm thơ.

Chất thép càng chuyển hoá thành hình tượng, thành tình cảm sâu sắc bao nhiêu thì nó càng cao siêu, cao cường bấy nhiêu. Cao siêu nhất, cao cường nhất chính là ở điểm như Hoài Thanh đã nói: “Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép”.

Tuy nhiên ta phải hiểu chữ hồng trong câu thơ này không nên theo nghĩa tường minh mà phải theo nghĩa hàm ẩn. Hồng ở đây chính là màu hồng trong tâm tưởng của Bác. Đó là màu hồng của cuộc cách mạng đang đến gần. Dường như Người nhìn thấy cuộc Cách mạng tháng Tám của đồng bào ta đang đến gần.

Nhận định về vấn đề này, một nhà phê bình văn học khẳng định: “Thơ Bác, thơ người chiến sĩ cộng sản tay nắm chắc chân lý, mắt nhìn thấu cõi tương lai.” Chữ “hồng” ấy ta cũng không loại trừ đó là tình thương, là lòng nhân đạo của Hồ Chí Minh.

Bài thơ bốn dòng, hai mươi bảy chữ, đã thể hiện tinh thần lạc quan, ung dung, tự tại, kiêng cường vượt qua mọi hoàn cảnh sống và vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Hồ Chí Minh – người chiến sĩ, nghệ sĩ với tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống. Qua bài thơ, người ta càng cảm nhận được tấm lòng nhân ái, yêu nước thương nòi và hi sinh đến quên mình của Bác. Bài thơ rất hay và ý nghĩa, giàu ý nghĩa sâu sắc.

Số 6: Phân tích chất thép chất tình trong bài thơ Chiều tối

Một học sinh khối 11 đã treo câu hỏi trên page của mình: “Trong bài Đọc thơ Bác, Hoàng Trung Thông viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình” Điều đó thể hiện trong bài thơ Chiều tối như thế nào?”

Đúng là trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã từng cảm nhận:

“Vần thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vẫn mênh mang bát ngát tình”.

Vậy thì theo Hoàng Trung Thông, thơ Hồ Chí Minh có thể được cô đọng lại trong hai chữ: “THÉP” và “TÌNH”. Trong Chiều tối, cái chất tình và chất thép ấy thể hiện như thế nào?

Trước hết cần hiểu hai khái niệm trên nghĩa là gì? THÉP là sự ẩn dụ cho lòng kiên cường, sự bất khuất, cứng cỏi, không dễ khuất phục. Đó là biểu hiện của tinh thần bền bỉ, ý chí vững vàng. TÌNH là sự rung cảm, là cảm xúc. Nó xuất phát từ rung động của trái tim luôn nóng hổi, sôi nổi nhiệt tâm. Hai khái niệm này có vẻ mâu thuẫn. Mâu thuẫn, mà sao lại tồn tại chung đụng với nhau như thế? Lại còn là nét tiêu biểu, đặc trưng cho phong cách của một nhà thơ lớn như Hồ Chí Minh?

Thật ra thì, chất THÉP và chất TÌNH chính là hai mặt cùng tồn tại và làm nền tảng cho nhau, tạo nên tính cách đáng quí của HCM và trở thành nét đặc biệt trong sáng tác của ông. Tinh thần bền bỉ của tác giả thể hiện ở chỗ, trong cái khó, cái khổ, ông vẫn không hề nao núng; bị gông cùm xiềng xích, ông vẫn can đảm đối diện; nguy hiểm cận kề, ông vẫn ung dung tự tại… Điều này được chính HCM phát biểu:

“Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần càng phải cao”.

Trong Chiều tối, điều này thể hiện trong cái cách mà nhà thơ phóng tầm mắt ra thiên nhiên bao la, nhìn cánh chim chiều, nhìn chòm mây trôi, không màng tới cái hoàn cảnh mình đang bị giải tù. Chẳng ai miêu tả, nhưng ta phải hiểu là HCM đang “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”.

Trong cảnh đó, liệu chúng ta đủ thanh thản để làm thơ không? Thế nhưng, HCM làm thơ được, mà lại còn viết rất hay. Hơn nữa, trong thơ mình, HCM còn thể hiện tinh thần lạc quan đáng kinh ngạc. Nói về buổi chiều tối mà chẳng dùng một chữ tối nào, nhà thơ dùng màu hồng của lửa than để làm dấu hiệu nhận biết cho bóng tối. Nghĩa là lúc nào cũng vậy, đôi mắt ấy luôn hướng về ánh sáng, luôn đi tìm ánh sáng, dù đó là thứ ánh sáng nhỏ nhoi.

Nhưng sự sáng nhỏ nhoi ấy có tác dụng nâng tinh thần người ta lên để khỏi bị nhấn chìm vào bóng tối bao trùm. Làm được như thế, hẳn phải có tinh thần THÉP, tinh thần tự do, tinh thần kiên cường. Đó chính là chất THÉP đấy thôi. HCM không bao giờ chịu khuất phục, là nhờ ở tinh thần cứng cỏi ấy.

Nhưng HCM không phải một vị tiên, không phải một kẻ chẳng biết đến đau đớn trần tục. Ông là một con người, biết vui buồn, sướng khổ. Là một con người nên trong ông, không thể không tồn tại chữ TÌNH. Tuy vậy, cái TÌNH trong thơ HCM không gói gọn trong tình cảm cá nhân.

“Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa”

Tố Hữu từng khóc HCM bằng những vần thơ như thế. Tình thương của HCM trải theo chiều rộng, thấm vào chiều sâu, vươn đến tầm xa. Ông thương yêu nhiều, tình thương yêu đó dành cho thiên nhiên, cho quê hương, cho con người, cho những người đồng khổ. Riêng trong Chiều tối, tình yêu thiên nhiên thể hiện khá rõ (điều này không cần nhắc lại, vì hẳn là giáo viên nào cũng đã phân tích kĩ cho các em về tình yêu thiên nhiên).

Nhưng bên cạnh tình yêu thiên nhiên đó, nổi bật hơn lại là tình yêu với con người, đặc biệt là người lao động. Mà ở đây lại là một người lao động của xứ người – xứ Trung Hoa. Đối với HCM, đã là giai cấp lao động, thì dù ở đâu cũng đáng yêu đáng quí. Tình thương của nhà thơ không có sự ràng buột về mặt địa lí. Đó được gọi là “tình hữu ái giai cấp”.

Chất TÌNH nhờ chất THÉP mà thêm nồng hậu. Nhờ tinh thần vững vàng nên trái tim luôn rung cảm sâu sắc với nhiều kiếp người. Chất THÉP cũng nhờ chất TÌNH mà được nâng lên. Trái tim chan chứa yêu thương và tấm lòng nghĩ về cuộc đời đã nuôi dưỡng và củng cố cho HCM đương đầu với mọi thử thách vàbền bỉ gìn giữ niềm lạc quan cách mạng. Đấy chính là nét đẹp trong bài Chiều tối, trong tập Nhật kí trong tù, trong sự nghiệp văn học, sự nghiệp cách mạng và trong bản thân con người Hồ Chí Minh.

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Số 7: Phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

Chiều tối là bài thơ nổi bật cho phong cách thơ Hồ Chí Minh, đặc biệt quan trọng thể hiện được tư tưởng sáng tác cũng như chất thơ độc đáo của tác giả. Chính chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối đã cho thấy một tinh thần thép của một người chiến sĩ và một tâm hồn nhạy cảm của người thi sĩ ở Hồ Chí Minh.

Chiều tối (Mộ) gồm có bốn câu thơ, được chia làm hai phần, hai câu đầu thể hiện khung cảnh thiên nhiên núi rừng đầy hiu quanh, hai câu cuối cho thấy tinh thần sáng sủa của người chiến sĩ. Hồ Chí Minh đã sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, những câu thơ đầu đã cho thấy một ánh nhìn xa xăm cùng với khát vọng tự do mãnh liệt được như cánh chim trời, hay sự tha thiết với cái vẻ nhẹ nhàng tự do của chòm mây.

Diễn giải theo ý nghĩa khác, chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối được thể hiện hài hòa đan cài trong từng câu thơ. Nhìn chung, hai câu thơ đầu thiên về chữ tình với phong cảnh thiên nhiên lúc chiều tà trong con mắt người chiến sĩ – thi sĩ sau một ngày bị giải lao mệt mỏi.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Ý nghĩa tả thực trong câu thơ đầu là hình ảnh một cánh chim cuối chiều mệt mỏi với hướng bay về rừng nhằm mục tiêu tìm chốn ngủ sau một ngày sải cánh. Một bức tranh thiên nhiên cuối ngày như hiện lên trước mắt người đọc chỉ với vài nét phác họa tài tình của nhà thơ. Một buổi chiều tối êm đềm đầy tĩnh lặng là chất tình trong tác phẩm này.

Chính cái buổi chiều tà cuối ngày ấy lại khiến tâm trạng con người đang nhớ nhung quê nhà lại càng trở nên khắc khoải hơn. Đó là cảm giác nhớ người thân, nhớ hình bóng tổ quốc, nhớ khói lam chiều vương vấn… Một chút lạc lõng ấy lại càng làm nổi bật lên chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối.

Chỉ với hai câu thơ nhẹ nhàng, ngắn gọn, giản đơn ấy lại chứa đựng một nỗi lòng thiết tha với quê nhà. Cái khát khao được tung bay, được sải cánh như chim trời, được nhẹ nhàng như đám mây kia.

Đơn giản qua hai dòng thơ này, Hồ Chí Minh đã khiến người đọc cảm nhận được cảnh chiều tà lặng lẽ, u buồn nơi đất khách cùng với hình ảnh đơn độc, lạc lõng, xiềng xích của người chí sĩ giữa trời đất chiều tà mênh mông hiu quạnh. Thông qua đó, nhà thơ cũng thể hiện khát khao tự do thông qua hình ảnh cánh chim trời và đám mây giữa tầng không.

Chất thép và chất tình trong bài thơ Việt Bắc tiếp tục được thể hiện ở hai câu thơ cuối. Tất cả chúng ta thấy chất tình rất nên thơ từ hình ảnh giản đơn của con người:

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã ửng hồng”

Cô gái xóm núi hiện lên như điểm nhấn làm tỏa sáng cả bức tranh thiên nhiên chiều tà. Đó là hình ảnh hài hòa, là sự việc gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Chính cái sự lãng mạn, thơ mộng này của cô em gái say than đã chứng tỏ chất tình chất thơ trong tác phẩm. Sự chăm chỉ, mải miết của cô gái xay ngô như đang gợi nên vẻ đẹp lao động của chính con người Việt Nam.

Có thể thấy, trong chiều tối một bức tranh chiều tà u buồn tĩnh lặng hiện lên cùng với điểm sáng từ hình ảnh cô thôn nữ xóm núi đã khiến bài thơ mang vẻ đẹp lãng mạn đầy chất tình.

Chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối là nội dung độc đáo trong tác phẩm này. Bên cạnh chất tình, tất cả chúng ta còn cảm nhận được chất thép đầy rắn rỏi mạnh mẽ của một người chiến sĩ. Giữa cái khung cảnh chiều tà lặng lẽ u buồn ấy, người chiến sĩ vẫn không hề cảm thấy tẻ nhạt mà vẫn ấm lòng với một khát khao tự do, một ước vọng mạnh mẽ được giải phóng như cánh chim và đám mây đó.

Hai câu thơ cuối bài thể hiện chất thép thâm thúy và đậm nét hơn hết. Cô gái miền sơn cước trong sự lao động chăm chỉ mê say đã cho thấy tinh thần thép trong thơ của Hồ Chí Minh. Chỉ với tính từ “hồng” đứng cuối câu mà nhà thơ như xóa tan đi mọi sự mỏi mệt, chỉ còn sót lại tinh thần sáng sủa, sự hân hoan hướng về phía ánh sáng.

Màu hồng của lò than, từ hình ảnh cô gái lao động đó là niềm tin, là sự việc sắt đá trong tư tưởng người chiến sĩ, và chủng đó là chất thép trong bài thơ này. Quả thật, chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối được hòa quyện thật tinh tế. Cô gái xay ngô miệt mài bên ánh lửa hồng không chỉ thể hiện tư tưởng của Bác bỏ luôn rực cháy mà còn cho thấy cái tình mênh mông, bát ngát mà Hồ Chí Minh đã giành cho con người và cảnh vật.

Xuất hiện nổi bật trong bức tranh Chiều tối đó là cô gái sơn cước đang xay ngô với một vẻ khỏe khoắn của con người lao động. Đây là một bước phát triển trong chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối và cũng của chính tác giả.

Nếu như trong hai câu thơ đầu, thiên nhiên hiện lên vào trạng thái nghỉ ngơi thì hình ảnh con người gợi lên nhịp sống mạnh mẽ, dẻo dai và sinh động. Phải chăng lò than rực hồng của người thôn nữ ấy đã nhóm lên trong đếm tối niềm sự sung sướng, sự sáng sủa xua đi cái lạnh lẽo trong trái tim người tù xa nhà.

Chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối còn được thể hiện ở tinh thần tân tiến trong hai câu thơ cuối bài. Lúc này, hình tượng thơ vận động tốt với sự kết thúc màu hồng sáng sủa của lò than. Và quan trọng hơn hết, đằng sau bức tranh ấy đó là tâm hồn của một thi sĩ, một tinh thần sáng sủa của người chiến sĩ cộng sản luôn hướng về cuộc sống với việc yêu đời và đầy tin tưởng dù cho tuyến phố đang lựa chọn chứa nhiều chông gai và khó khăn.

Tinh thần chiến sĩ bình tĩnh, giữ thế chủ động trước gian khổ cũng như biết vượt lên trên mọi hoàn cảnh đó là chất thép trong bài thơ. Nhà thơ Hoàng Trung Thông từng viết về thơ Bác bỏ “Vần thơ của Bác bỏ vần thơ thép/Mà vẫn mênh mông bát ngát tình…”

Số 8: Phân tích chất thép và chất tình trong Chiều tối

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn hóa, một anh hùng dân tộc, một vị cha già của đất nước mà Người còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Người đã để lại cho đời một khối lượng thơ ca đồ sộ phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách và sâu sắc về tư tưởng. Thơ Bác vừa hay bởi cách gieo vần, vừa đẹp bởi chính hồn thơ, chính tinh thần “thép” trong thơ. Và Chiều tối là bài thơ tiêu biểu của Bác, đó là bài thơ thể hiện sự thành công khi kết hợp giữa nét cổ điển và tinh thần hiện đại

Hai câu thơ thơ mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên núi rừng rộng lớn, vắng lặng với cánh chim mỏi mệt đang bay về tổ dưới chòm mây nhẹ trôi:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Cánh chim và chòm mây là hai hình ảnh thường xuất hiện trong những câu thơ chiều xưa và nay. Đây là hai hình ảnh chỉ không gian nhưng đã gợi những liên tưởng về thời gian. Quãng thời gian chiều tối thường là lúc đoàn tụ, khi mọi người hối hả trở về đoàn tụ với gia đình nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để trở về.

Giữa không gian rộng lớn dường như con người và cảnh vật đều như đã nghỉ ngơi thì những chòm mây vẫn nhẹ nhàng trôi hững hờ không nghỉ càng làm nổi bật sự yên bình nơi rừng núi lúc chiều tối. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong chốn lao tù, vẫn phải cô độc bước đi.

Chòm mây cô đơn, lặng lẽ và Bác cũng lặng lẽ, cô đơn xen vào đó là chút băn khoăn trăn trở không biết tương lai sẽ đi đâu về đâu của người tù nơi đất khách quê người. Nhưng có lẽ chỉ người có lòng yêu nước nồng nàn như Bác thì mới thể ung dung, bình tĩnh, lạc quan vượt lên mọi sự giam cầm về thể xác để hòa mình vào thế giới thiên nhiên, mây trời ở ngoài kia.

Với câu thơ bảy chữ, Bác đã vẽ ra một cảnh chiều tối âm u, hoang vắng, mênh mông, cô quạnh đến yên ắng, êm ả đến lạ. Đồng thời ẩn sau những câu thơ người đọc thấy được ý chí vượt lên khó khăn với niềm khát khao, mong ước được tự do như mây trời, được quay trở về với quê hương, được hòa mình và sống hết mình với thiên nhiên vạn vật. Bức tranh miêu tả thiên nhiên mà còn có cả phần hồn – cái hồn của con người hòa mình vào thiên nhiên ở trong đó.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều tối nơi rừng núi, bỗng có sự xuất hiện của con người:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng)

.Trong bức tranh thiên nhiên rộng lớn, yên bình như trong thơ cổ hình ảnh cô em xóm núi xuất hiện như một điểm sáng, làm cho bức tranh sôi động, tươi vui hơn. Bức tranh là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người với những công việc hàng ngày trong cuộc sống như tô đậm, khắc họa hơn nét đẹp, nét đáng quý của những người dân lao động.

Con người trong thơ Bác là con người lao động và cũng là trung tâm của bài thơ. Cô gái hiện lên với vẻ đẹp của người dân lao động cần cù, khỏe mạnh, tràn trề sức sống.

Hình ảnh “lô dĩ hồng” là hình ảnh bình dị của đời sống làm bừng sáng, xua đi cái lạnh lẽo nơi núi rừng bởi lửa là tượng trưng cho sự sống, như ánh sáng chiếu rọi cuộc sống sinh hoạt của con người. Đối với người tù đày như Bác, hình ảnh lò than đã rực hồng như sưởi ấm trái tim nơi chốn tù lao lạnh lẽo, cô đơn, đem lại cho người sự ấm áp, niềm vui và hạnh phúc bình dị thường ngày. Một lần nữa ta nhận ra cái nhìn trìu mến hướng về sự sống của Người.

Người quên đi nỗi khổ của chính bản thân mình để chia sẻ với người dân tự do tự chủ. Bánh xe thời gian đang lăn dần từ chiều tà đến đêm khuya bởi ba từ “ma bao túc” được điệp vòng ở câu cuối. Sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng vừa diễn tả vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa diễn tả dòng lưu chuyển của thời gian.

Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách cổ điển và hiện đại, giữa vẻ đẹp giản dị mà sâu sắc. Bài thơ đã miêu tả khung cảnh thiên nhiên và đời sống một cách chân thực, hàm súc đồng thời thể hiện tình yêu, sự gắn bó với con người, thiên nhiên cùng lòng nhân ái đạt đến mức quên đi bản thân mình của Hồ Chí Minh.

Người làm thơ trong thời gian bị giam cầm nơi chốn ngục tù mà vẫn để tâm hồn vẫn hướng về thiên nhiên với niềm khát khao về ngày được tự do. Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân.

Nhưng ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng đau đáu nỗi lo cho dân tộc, cho đất nước, vẫn luôn dành có phút giây quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ, người cha già vĩ đại của dân tộc

Bài thơ Chiều tối đã thể hiện được tâm hồn Bác, con người dù trong đau khổ trong xiềng xích vẫn vững niềm tin phía trước, vẫn giữ tinh thần thép trong cuộc sống. Đồng thời thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước và ý chí sắt đá của người chiến sĩ.

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Số 9: Phân tích chất thép chất tình trong bài thơ Chiều tối

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Đất nước Việt Nam rất tự hào về Bác Hồ bởi Người chính là sự kết tinh những tinh hoa truyền thống của bản sắc dân tộc. Nhân dân ta đã thấy ở Bác Hồ con người Việt Nam đẹp nhất và nhân dân thế giới gắn liền tên nước Việt Nam với tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việt Nam – Hồ Chí Minh. Thơ Bác luôn mang đậm chất tình và chất thép giống như Hoàng Trung Thông đã từng viết:

“Vần thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vẫn mênh mang bát ngát tình”.

(Đọc thơ Bác)

Chất thép cùng chất tình trong bài thơ Chiều tối (Mộ) sẽ là bài thơ cụ thể cho ta thấy được điều đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ, là người cha già của dân tộc. Trong những năm tháng của đời mình, Bác đã bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo, đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp như ngày hôm nay. Bên cạnh con đường cách mạng lỗi lạc, Bác còn là một nhà thơ lỗi lạc, một thi nhân tài hoa bậc nhất.

Sự nghiệp văn chương của Người gắn liền với sự nghiệp của Cách mạng, với nhân dân. “Nhật ký trong tù” là tập thơ tiêu biểu, trong đó bài thơ “Chiều tối” là bài thơ nổi bật lên chất thép và chất tình trong thơ Hồ Chí Minh.

“Chiều tối” (Mộ) là nhật kí của một đoạn hành trình đầy vất vả vào buổi chiều muộn – trong chặng ải cuối cùng đấy sự mệt mỏi của người trong tù khi đã đi qua một ngày dài gian lao, trên con đường chuyển lao qua các tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc.

Đầu tiên, chất thép trong bài thơ “Chiều tối” là ý chí kiên cường, bất khuất, sự tự tin và niềm kiêu hãnh, luôn lạc quan tin tưởng vào mục tiêu của người chiến sĩ cách mạng. Còn chất tình trong “Chiều tối” là những cảm xúc, tình cảm, rung động của thi nhân trước cái đẹp của tạo vật, của tình người. Chất thép và chất tình trong bài thơ “Chiều tối” được thể hiện hài hòa, đan xen vào trong từng câu, từng chữ của bài.

Ở trong hai câu đầu tiên, nghiêng nhiều hơn về chất tình với phong cảnh thiên nhiên lúc chiều tà trong con mắt người chiến sĩ – thi sĩ sau một ngày giải lao đầy mệt mỏi:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

(Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không.)

Bức tranh chiều tối được hiện lên thông qua hai hình ảnh: cánh chim và chòm mây. Cánh chim vốn là thi liệu quen thuộc trong thơ ca ngày xưa. Đến đây ta bỗng nhớ đến hình ảnh cánh chim: “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du) hay “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan).

Trong thơ cổ, những cánh chim gợi về nỗi cô đơn, nỗi buồn, về một một kỉ niệm nào đó. Thế nhưng trong “Chiều tối”, cánh chim của Hồ Chí Minh xuất hiện trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác đó là “cánh chim mỏi”: những chú chim sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi sẽ trở về tìm chốn nghỉ ngơi.

Rõ ràng những cánh chim này bay có phương hướng, có mục đích và có chốn để về chứ không hề lênh đênh vô định giống như những cánh chim trong thơ cổ. Những cánh chim ấy gợi liên tưởng về sự tương phản với hoàn cảnh của Bác vào thời điểm lúc bấy giờ.

Chòm mây trên trời thì cô đơn, lững lờ trôi một mình giữa không gian mênh mông, rộng lớn. Phải chăng Bác Hồ đã dùng hình ảnh của chòm mây để nói lên tình cảnh, cảm xúc của mình lúc bấy giờ?

Bức tranh thiên nhiên ở đây không chỉ dừng lại ở miêu tả bề ngoài mà nó còn là bề sâu, là cảm xúc của người tù đối với thiên nhiên. Bằng những quan sát hết sức tinh tế và tỉ mỉ, Bác đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên với những cảnh vật thật có hồn, vẽ nên một không gian buổi chiều mơ màng và thanh bình.

Đằng sau cảnh thiên nhiên đẹp là nỗi cô đơn, mệt mỏi của người tù nhân khi phải một mình trải qua một hành trình dài từ nhà lao này đến nhà lao khác. Thế nhưng đằng sau nỗi cô đơn ấy còn là một bản lĩnh kiên cường, sắt đá, hi vọng vào một tương lai tươi sáng của người chiến sĩ Cách mạng.

Chất thép và chất tình trong bài thơ chiều tối còn thể hiện qua hai câu thơ cuối của bài thơ:

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng.

(Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.)

Nếu như trong văn học trung đại, người con gái tài sắc vẹn toàn, đẹp nghiêng nước nghiêng thành nhưng yếu đuối cùng với số phận lận đận, lênh đênh, chìm nổi. Nhắc đến người con gái đẹp trong văn học trung đại, ta luôn nghĩ ngay đến những hình ảnh phảng phất nỗi buồn và số phận “bảy nổi ba chìm” như Vương Xương Linh đời Đường từng viết Khuê oán:

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu.

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

Dịch thơ:

“Cô gái phòng the chửa biết sầu

Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu

Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu

Hối để chồng đi kiếm tước hầu.”

Hay Hồ Xuân Hương viết:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

(Bánh trôi nước)

Trong thơ Bác là hình ảnh người con gái hiện lên quá đỗi giản dị, hết sức bình thường, công việc tuy vất vả nhưng vẫn rất đáng yêu và đáng trân trọng. Hình ảnh “cô em” nổi bật trước thiên nhiên, con người đang làm chủ cuộc sống của mình với sự trẻ trung và đầy sức khỏe, làm việc hăng say, chăm chỉ.

Con người như hòa vào cùng thiên nhiên, người với thiên nhiên quyện vào nhau. “Ma bao túc….bao túc ma hoàn”, cách sử dụng điệp ngữ vòng, Bác đã tạo nên sự nhịp nhàng trong vòng quay công việc, liên tục và nhịp nhàng. Hình ảnh này đã làm cho buổi chiều cô quạnh một bức tranh thơ sức sống và niềm vui lan tỏa.

Câu thơ cuối là sự kết hợp hài hòa giữa nét cổ điển và lãng mạn. Tính cổ điển được thể hiện qua bút pháp dùng ánh sáng để nói đến bóng tối. Trời đất ngoài kia cao rộng, bao la rộng lớn, dần thu hẹp lại bên cạnh không gian sinh hoạt gia đình thông qua hình ảnh bếp lửa.

Cả câu thơ chỉ với một từ “hồng” – từ được coi là nhãn tự của bài thơ cùng với bút pháp điểm xuyết đã khiến cho bao nhiêu cảm xúc bị dồn nén, chất chứa bấy lâu được bung toả. Chữ “hồng” – là ánh sáng của niềm tin, của sự hy vọng, là ngọn lửa bừng sáng xua tan đêm đen, là hơi ấm xua đi lạnh lẽo và cô độc.

Chữ “hồng” – là ánh sáng của ngọn lửa niềm vui, là niềm lạc quan xua tan nỗi buồn và mệt nhọc của thực tại. Ta cứ ngỡ như ngọn lửa đang hắt lên khuôn mặt của cô gái như tô vẽ thêm cho khuôn mặt cô càng thêm rạng rỡ.

Tứ thơ chuyển đổi chính là nhờ một chữ “hồng” làm sáng cả bài thơ, đem ấm nồng và sức sống đến cho tác phẩm như Hoàng Trung Thông đã nói: “Một chữ hồng mà đủ sức để cân lại với 27 chữ thơ kia, nó làm sáng cả câu thơ, cả bài thơ. Nó là nhãn tự (chữ mắt) của bài thơ”.

Những nhãn tự đó do đâu mà ra? Do đâu mà chỉ với một chữ “hồng” đã làm cho người đọc cảm nhận được cái “thần” của bài thơ, là linh hồn của bài thơ tứ tuyệt? Phải chăng là trong lòng tác giả cũng có một ngọn lửa hồng rực sáng như vậy? Đó là ngọn lửa của tình yêu tha thiết cuộc sống, yêu con người mà không bao giờ tắt trong lòng thi nhân Hồ Chí Minh.

Do ở trong cảnh giải tù đày, Bác không còn niềm vui cho riêng mình, chỉ có những nỗi đau, nỗi buồn, sự lo lắng cho đất nước, nhưng chính lúc Người đi qua hẻm núi và chứng kiến cảnh cô gái xay ngô tối, thì niềm vui xuất hiện và tứ thơ hiện lên thành một ngọn lửa hồng rực cháy, cháy rực trong người thi sĩ. Đó là niềm vui cho người lao động.

Qua đó thể hiện sự trân trọng và nâng niu đối với hạnh phúc thật bình thường, là ước mơ nhỏ nhoi của người lao động xóm núi. Đúng như Hoài Thanh đã viết: “Những cảnh tượng ấy biết bao người đã đi qua, nhưng nếu không có một tấm lòng nâng niu trân trọng thì cũng không thể nào ghi lại được trong thơ”

Thành công của bài thơ chính là yếu tố cổ điển kết hợp với hiện đại, giữa chất thép và chất tình của người tù cách mạng. Bài thơ là tình tình cảm nhân ái, bao la của người tù chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Dù ở trong hoàn cảnh tù đày nơi xứ người nhưng Bác vẫn vượt lên tất cả mọi khổ đau, đọa đày về thể xác để đưa đến cho bạn đọc những vần thơ tuyệt bút.

Qua bài thơ ta càng hiểu và yêu hơn vị lãnh tụ vĩ đại, Người cha già của cả dân tộc. Xin mượn bốn câu thơ của Tố Hữu để thay cho lời kết:

“Lại thương nỗi đọa đày thân Bác

Mười bốn trăng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu, mắt mờ tóc bạc

Mà thơ bay cánh hạc ung dung”

Số 10: Phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối

Bài thơ được tả theo hướng vận động từ chiều cho đến tối, từ ngày sang đêm nhưng không gợi sự tối tăm, bi quan, trái lại đầy hơi ấm và ánh sáng được hắt lên từ ánh lửa chiều hôm. Thể hiện nhịp sống của con người được toát lên từ trái tim lạc quan yêu đời của Hồ Chí Minh.

Bài thơ Chiều tối toát lên vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong trạng thái bị áp giải, bị đau đớn về thể chất nhưng vẫn vươn lên trên cảnh ngộ cũng để cảm nhận sự tươi đẹp của cuộc sống.

Thể hiện tinh thần của Bác là tinh thần thép, nhưng trái tim vẫn bát ngát nghĩa tình. Từ đó mỗi bản thân chúng ta cũng học hỏi được từ Bác rất nhiều điều. Là cần phải biết sống có nghị lực, sống có quyết tâm, vươn lên, vượt khó để rồi từ đó ta mới cảm thấy yêu thương. Ta càng cảm thấy trân trọng hơn vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc – Hồ Chí Minh.

Tố Hữu từng khóc Hồ Chí Minh bằng những vần thơ như thế. tình thương của Hồ Chí Minh trải theo chiều rộng, thấm vào chiều sâu, vươn đến tầm xa. Ông thương yêu nhiều, tình thương yêu đó dành cho thiên nhiên, cho quê hương, cho con người, cho những người đồng khổ.

Riêng trong Chiều tối, tình yêu thiên nhiên thể hiện khá rõ (điều này không cần nhắc lại, vì hẳn là giáo viên nào cũng đã phân tích kĩ cho các em về tình yêu thiên nhiên). Nhưng bên cạnh tình yêu thiên nhiên đó, nổi bật hơn lại là tình yêu với con người, đặc biệt là người lao động. Mà ở đây lại là một người lao động của xứ người – xứ Trung Hoa.

Đối với Hồ Chí Minh, đã là giai cấp lao động, thì dù ở đâu cũng đáng yêu đáng quí. tình thương của nhà thơ không có sự ràng buột về mặt địa lí. Đó được gọi là “tình hữu ái giai cấp”.

Bài thơ còn nổi bật ở một điểm đó là có lẽ cái sức mạnh của bài thơ lại được tập trung ở hình ảnh “lô dĩ hồng”, một trong những đặc điểm của thơ Bác đó là thơ Người luôn luôn vận động, hướng vận động đi từ hiện tại tới tương lai, từ bóng tối để hướng đến ánh sáng.

“Chiều tối” không nằm ngoại lệ, “Chiều tối” có nghĩa là chiều tối, ngỡ tưởng sẽ kết thúc bằng một màn đêm đen đặc. Nhưng không, với cái nhìn của người chiến sĩ, Bác đã kết thúc bài thơ của mình bằng màu hồng. Vì vậy, có lẽ chất thép của bài thơ dồn đổ mạnh nhất đó là ở chữ hồng ở bài thơ này. Chữ “hồng” ở đây là hình ảnh đa nghĩa.

Ta không nên hiểu nó theo một nghĩa đơn nào mà nó là một hình ảnh đa nghĩa. Hiểu theo nghĩa tường minh, đây là màu hồng của lò than. Lò than ấy có lẽ đã hồng từ lúc buổi chiều. Điều này thể hiện rõ qua sắc thái của chữ “dĩ”. Trời cứ tối dần, ma lực của màu hồng càng phát sáng.

Chất tình nhờ chất thép mà thêm nồng hậu. Nhờ tinh thần vững vàng nên trái tim luôn rung cảm sâu sắc với nhiều kiếp người. Chất thép cũng nhờ chất tình mà được nâng lên. Trái tim chan chứa yêu thương và tấm lòng nghĩ về cuộc đời đã nuôi dưỡng và củng cố cho Hồ Chí Minh đương đầu với mọi thử thách và bền bỉ gìn giữ niềm lạc quan cách mạng. Đấy chính là nét đẹp trong bài Chiều tối, trong tập Nhật kí trong tù, trong sự nghiệp văn học, sự nghiệp cách mạng và trong bản thân con người Hồ Chí Minh.

Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài Chiều Tối của Hồ Chí Minh

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu phân tích chất thép và chất tình trong bài thơ Chiều tối chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 11.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.