Top 10 bài phân tích bài Những đứa con trong gia đình chi tiết nhất

209
Top 10 bài phân tích bài Những đứa con trong gia đình chi tiết nhất
Top 10 bài phân tích bài Những đứa con trong gia đình chi tiết nhất
4.8/5 - (17 votes)

Tổng hợp các bài phân tích Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 bài phân tích tác phẩm Những đứa con trong gia đình chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Dàn ý phân tích tác phẩm Những đứa con trong gia đình

I. Mở bài

– Tác giả Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ miền Nam, thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm của ông phản ánh hiện thực nóng bỏng của chiến trường Nam Bộ và vẻ đẹp con người nơi đây.

– Những đứa con trong gia đình là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Nam Bộ.

II. Thân bài

  1. Vẻ đẹp dòng sông truyền thống gia đình

– Gia đình kiên cường chịu nhiều đau thương trong chiến tranh: ông nội bị giặc giết, cha của Việt bị giặc chặt đầu, má bị trúng đạn của Mĩ, thím Năm bị giặc bắn chết. Đau thương đã nhen nhóm ngọn lửa căm thù trong mỗi thành viên.

a) Vẻ đẹp của khúc sông trước

– Cha Việt và Chiến là cán bộ Việt Minh, kiên cường, trung thành với cách mạng đến cùng đến đã bị giết hại.

– Má là một người phụ nữ mạnh mẽ, gan góc: dám đi đòi lại đầu chồng, đối đáp với bọn giặc Mĩ mà không hề run sợ, biết nén đau thường thành lòng hận thù. Mặt khác cũng là người phụ nữ tháo vát, yêu thương chồng con.

– Chú Năm là là người luôn lưu giữ truyền thống gia đình (cuốn sổ), là người lao động chất phác có tâm hồn nghệ sĩ, hết lòng vì cách mạng (thu xếp cho cả hai chị em đi tòng quân).

– Nhận xét: đây là khúc sông thượng nguồn, kết tinh những vẻ đẹp truyền thống để truyền cho khúc sông sau phát huy.

b) Vẻ đẹp của khúc sông sau

*Nhân vật Chiến:

– Có những nét giống mẹ: mang vóc dáng của má “hai bắp tay tròn vo … chắc nịch”, giống má từ cái lối nằm với thằng út em, biết lo liệu mọi việc một cách chu đáo (đặc biệt trước đêm sắp xa nhà), Chiến tự thấy mình như hòa vào má “ Tao cũng đã lựa ý … nên tao cũng tính vậy”

– Là cô gái mới lớn nên khi thì người lớn (nhường em, tháo vát, …) nhưng có lúc vẫn rất trẻ con (vào chiến trường vẫn không quên mang gương nhỏ).

– Chiến cũng có những nét khác biệt so với má: trẻ trung hơn, được tự tay cầm súng để trả thù cho người thân.

– Là một cô gái kế thừa được sự kiên cường từ người thân trong gia đình: “nếu giặc còn thì tao mất”

*Nhân vật Việt:

– Có nét riêng của cậu con trai mới lớn: hiếu động, ngây thơ, trẻ con

+ Luôn tranh giành phần hơn từ chị: đi bắt ếch, giết giặc, đi bộ đội, …

+ Thích những trò chơi hiếu động: bắn chim, câu cá, đi bộ đội vẫn mang ná thun, …

+ Đêm trước khi lên đường đi bộ đội, Việt vẫn vô tư “lăn kềnh ra ván cười khì khì”, “chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay”, rồi ngủ quên lúc nào không biết.

+ “Giấu chị như giấu của riêng” trước những lời trêu đùa của các anh trong đội.

+ Bị thương trên chiến trường, không sợ địch, không sợ chết mà chỉ sợ con ma cụt đầu, gặp lại anh em thì vừa khóc vừa cười như đứa trẻ “khóc đó rời cười đó”.

– Việt cũng là một chiến sĩ dũng cảm:

+ Khi còn nhỏ đã dám xông vào đá thằng giặc giết cha mình

+ Khi lớn lên tranh giành đi tòng quân với chị Chiến dù chưa dủ tuổi. Trong quân ngũ Việt chiến đấu rất dũng cảm, dùng pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc.

+ Dù đang bị thương nặng nhưng vẫn luôn trong tư thế chiến đấu, không hề run sợ: “Tao sẽ chờ mày … mày là thằng chạy”.

– Nhận xét: Việt và Chiến chính là khúc sông sau, kế thừa những tinh hoa của khúc sông trước và chảy xa hơn khúc sông trước.

c) Hình ảnh hai chị em khiêng bàn thờ ba má gửi nhà chú Năm

– Đó là sự tôn trọng, hiếu thảo với cha mẹ đã khuất

– Không khí thiêng liêng đã khiến Việt cảm thấy mình trưởng thành hơn: biết thương chị, cảm nhận sâu sắc mối thù đè nặng trên vai.

– Thể hiện sự trưởng thành của hai chị em, đã biết tự lo toan mọi điều, gánh vác những công việc qaun trọng trong gia đình.

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, kể theo mạch hồi tưởng đứt nối của nhân vật Việt, ngôn ngữ đạm chất Nam Bộ, giọng kể giàu chất sử thi, …

– Tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người Nam Bộ, khẳng định truyền thống gia đình và dân tộc là sức mạnh to lớn để chống lại kẻ thù xâm lược.

Đọc thêm:

Top 10 bài phân tích Những đứa con trong gia đình

1. Bài tham khảo số 1 phân tích Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông được mọi người gọi với cái tên rất gần gũi “Nhà văn của người dân Nam Bộ”. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm gắn liền với tên tuổi của ông.

Trong những tác phẩm đặc sắc ấy nổi lên truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” (Năm 1978). Truyện viết về những ngày chiến đấu gian khổ, khó khăn của chiến trường miền Nam. Qua đó, người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ: tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt dưới ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Thi.

Thật vậy, nhan đề “Những đứa con trong gia đình” mang một hàm ý sâu xa của tác giả. Truyện kể về những đứa con trong gia đình có truyền thống cách mạng là gia đình hai chị em Chiến và Việt. Gia đình ấy cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của miền Nam Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ..

Nguyễn Thi đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo: Việt – một anh giải phóng quân sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ông nội và cha mẹ anh đều bị chết dưới tay kẻ thù. Chính mối thù nợ nước, nợ nhà không đội trời chung đó đã thúc đẩy anh tham gia cách mạng. Trong một trận đánh, Việt bị thương, lạc đồng đội, ngất đi tỉnh lại rất nhiều lần. Mỗi lần ngất đi tỉnh lại, quá khứ và hiện tại lại đan xen nhau trong tiềm thức của anh.

Ở lần tỉnh lại thứ 4, kí ức về mẹ hiện về. Việt nhớ lại cảnh hai chị em tranh nhau đi tòng quân. Việt đòi đi nhưng chị Chiến không cho. Anh nhờ chú Năm giúp đỡ. Chú đồng ý cho hai chị em Việt đi tòng quân. Chị Chiến thu xếp mọi công việc trước khi hai chị em lên đường… Trở về với thực tại, sau 3 ngày tìm kiếm, anh Tánh và đồng đội đã đưa Việt về điều trị tại một bệnh viện dã chiến. Sức khỏe Việt dần hồi phục.

Có thể thấy, truyện được kể theo dòng nội tâm của nhân vật Việt. Nguyễn Thi đã để cho đứa con tinh thần của mình hồi tưởng lại đứt quãng sau mỗi lần anh ngất đi tỉnh lại ở chiến trường. Tuy dòng cảm xúc không được trôi chảy mạch lạc song ở mỗi lần Việt tỉnh dậy lại là một câu chuyện chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Để hiểu rõ hơn về tác phẩm này, chúng ta sẽ phân tích từng nhân vật một.

Ở mỗi nhân vật mà nhà văn nhắc tới đều có một biểu tượng riêng về tình yêu quê hương, tình yêu đất nước. Trong đó, tình yêu gia đình làm nền tảng để cho gia đình Việt tuôn chảy một tình yêu bất diệt với quê hương. Những thành viên trong gia đình đều rất gan góc, dũng cảm, có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ giàu tình nghĩa thủy chung, son sắt với quê hương, với cách mạng. Mỗi một nhân vật trong truyện đều được Nguyễn Thi tả rất đặc sắc, hấp dẫn người đọc.

Trước hết, nhân vật Việt được coi là trung tâm của câu chuyện hiện lên thật chân thực và sắc nét. Anh là đứa con tiêu biểu của gia đình. Việt là một chiến sĩ giải phóng quân sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống cách mạng. Khi những người thân bị chết dưới tay giặc đều là những người việt yêu quý nhất: ông nội, ba mẹ. Gia đình chỉ còn lại chị Chiến, chú Năm, thằng út em với người chị nuôi đi lấy chồng xa.

Việt hăng hái tham gia tòng quân giết giặc trả thù cho người thân, bảo vệ quê hương. Ở Việt ta luôn thấy được đó là “cậu tư” gan gạ, muốn lập nhiều chiến công như chị. Qua dòng hồi ức của Việt khi ngất đi tỉnh lại, ta còn thấy được, anh là một người tính tình trẻ con, vô tư, nghịch ngợm của tuổi mới lớn. Anh hay tranh giành với chị mình chuyện bắn tàu giặc Mĩ trên sông Định Thủy, anh có hành động “đá trái dừa rụng xuống mương” khi chị không cho đi tòng quân, sợ câu chuyện “con ma cụt đầu” mà chị hay kể.

Đặc sắc nhất là cảnh hai chị em thu xếp mọi thứ để lên đường tòng quân. Khi ấy, Việt chỉ “lăn kềnh ra ván cười khì khì” trong khi chị Chiến lo toan mọi thứ. Cảnh hai chị em khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm là một hành động chứng tỏ Việt đã trưởng thành, sẵn sàng đối đầu với quân địch. Cái cách Việt thương chị mình cũng rất đáng yêu “ Giấu chị như giấu của riêng”…

Ta còn bắt gặp một hình ảnh Việt gan dạ, quả cảm khi đi bộ được hai năm, anh đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch hay lúc anh bị thương, lạc đồng đội, anh không hề sợ mà vẫn rất bình tĩnh, với tư thế hội tụ đủ phẩm chất của người lính cụ Hồ, anh “đạn đã lên nòng, ngón tay còn lại sẵn sàng nổ súng.

Có thể thấy, Nguyễn thi đã rất thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Việt – đứa con cưng tình thần của ông với những tính cách đáng yêu, dễ mến, vô tư đời thường, ga dạ quả cảm trong chiến đấu. Nhà văn tiếp tục lia ống kính của mình để khắc họa hình tượng nhân vật Chiến – chị của Việt – một người con gái cũng giống như Việt trải qua hoàn cảnh bi thương nhưng sớm trưởng thành, già dặn trước tuổi.

Ở chị ấy được thừa hưởng những nét đẹp từ người mẹ. Đó là người con gái gan dạ, đảm đang, tháo vát nhưng cũng căm thù giặc sâu sắc. Chiến tòng quân ra chiến đấu trong một tiểu bộ đội nữ địa phương. Chị chiến đấu dũng cảm, coi cái chết cũng chỉ như “chết giấc” với câu nói bất hủ “Nếu giặc còn thì tao mất” và cô đã trở thành tiểu đội trưởng quân địa phương. Chiến vừa làm ba, vừa làm mẹ, vừa làm chị để chăm lo, lấp đầy khoảng trống cho các em.

Trước khi cùng em đi bộ đội, mọi chuyện trong nhà đã được cô sắp xếp đâu vào đó khiến cho chú Năm cũng phải hết sức ngạc nhiên mà thốt lên: “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Câu nói của chú Năm thể hiện sự yên tâm của người đi trước đối với lớp người trẻ kế cận họ.

Việc cô ngăn không cho em đi tòng quân không phải vì sợ Việt tranh cướp công lao của cô mà cô hiểu rất rõ, với vai trò của người đi trước, cô đã tham gia kháng chiến, cô hiểu rất rõ sự tàn khốc của chiến tranh nó ghê gớm đến nhường nào, cô sợ Việt bị thương. Qua đó, người đọc thấy được tình yêu ruột thịt máu mủ sâu sắc đến nhường nào. Nó là phương thuốc hữu hiệu nhất để gắn kết mỗi thành viên trong gia đình lại với gần nhau hơn.

Ta thấy Chiến hiện lên thật giản dị, thật đẹp dưới cái nhìn phác họa đầy lí tưởng của tác giả. Ở cô gái trẻ ấy hội tụ mọi vẻ đẹp của người con gái Việt Nam “đảm việc nước, giỏi việc nhà”. Chính những sự hi sinh thầm lặng mà lớn lao của người phụ nữ ấy đã góp phần vào thắng lợi của dân tộc.

Thật là thiếu sót nếu như không có nhân vật chú Năm. Chính chú Năm là hiện thân của truyền thống, là khúc thượng nguồn trong “dòng sông truyền thống” của gia đình Việt. Chú là người ghi lại tất cả những sự kiện diễn ra trong gia đình. Ở chú Năm hiện lên một hình ảnh người lao động chất phác nhưng giàu tình cảm. Chú cũng biết hò và Việt là nơi gửi gắm những câu hò của chú.

Chú Năm ghi chép cẩn thận và đầy đủ tội ác của giặc đối với dòng họ, gia đình mình và chiến công của các thành viên trong gia đình. Khi Chiến và Việt chuẩn bị lên đường, chú đã giao cuốn sổ cho hai chị em. Cuốn sổ đó tuy nhỏ nhưng rất ý nghĩa. Nó là thước phim ghi lại một cách chân thực, chi tiết nhất những chiến tích của gia đình và tội ác của quân giặc. Nó dấy lên lòng căm thù giặc, món nợ lớn nhất phải trả.

Cùng với chú Năm, má Việt cũng là hiện thân của truyền thống. Là người phụ nữ gan góc, rất mực thương chồng con và có lòng căm thù giặc sâu sắc. Mỗi lần bị lính bắn dọa “mắt má lại sắc ánh lên nhìn lại bọn lính, đôi mắt của người đã từng vượt sông vượt biển”. Má Việt đã ngã xuống song hình ảnh người phụ nữ ấy luôn bất tử trong lòng các con.

“Những đứa con trong gia đình” đặt trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước là một truyện ngắn đặc sắc bởi giọng văn trần thuật khắc họa miêu tả tâm lí nhân vật Chiến, Việt, Chú Năm…, Nguyễn Thi đã dựng nên một gia đình có truyền thống yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc, mối thù nợ nước nợ nhà. Qua đó, tác giả giúp người đọc thêm đồng cảm với cảnh ngộ éo le, thêm yêu thương quý trọng gia đình, biết ơn công lao của những người cách mạng.

Tóm lại, truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” thể hiện rõ tài năng của Nguyễn Thi trên nhiều phương diện. Truyện không những phác họa thành công hình tượng của người con yêu gia đình, yêu quê hương đất nước mà còn thể hiện tình yêu của chính tác giả vào những đứa con tinh thần của mình. Ông xứng đáng được coi là “Nhà văn của người dân Nam Bộ”.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

2. Tham khảo số 2 phân tích bài Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi (1928 – 1968) tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, ông vào Nam sinh sống từ năm 1943, tham gia cách mạng năm 1945. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội và sáng tác dưới bút danh Nguyễn Ngọc Tấn. Năm 1962, ông tình nguyện trở về Nam, công tác tại Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam. Thực tế chiến đấu nóng bỏng của chiến trường là nguồn cảm hứng vô tận để ông sáng tác bút kí, truyện ngắn và tiểu thuyết với bút danh Nguyễn Thi.

Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì đánh Mĩ, xứng đáng với danh hiệu nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Tác phẩm của Nguyễn Thi bắt nguồn từ hiện thực chiến đấu nóng bỏng, ác liệt của chiến tranh, nhưng vẫn đằm thắm chất trữ tình.

Nguyễn Thi viết được nhiều thể loại: bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết… Sau khi hi sinh, các sáng tác của ông được sưu tập và in trong Truyện và kí Nguyễn Thi, xuất bản năm 1978; Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi toàn tập (4 quyển) xuất bản năm 1996. Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. Những đứa con trong gia đình là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi. Truyện được viết trong những ngày chiến đấu gian khổ, ác liệt nhất của chiến trường miền Nam. Qua truyện, tác giả thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ và khẳng định: lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình thiêng liêng là sức mạnh tinh thần to lớn của họ trong công cuộc chống Mĩ cứu nước.

Truyện kể về hai chị em trong một gia đình có thù sâu với giặc Mĩ và bè lũ tay sai bán nước. Chiến và Việt đã gửi lại nhà cửa, ruộng vườn cho người chú để cùng tham gia bộ đội, trực tiếp cầm súng trả thù nhà, đền nợ nước. Đoạn trích nằm ở phần giữa của truyện, kể về tình huống đặc biệt của nhân vật Việt. Trong một trận đánh ác liệt, anh bị thương nặng và lạc đơn vị. Việt ngất đi tỉnh lại nhiều lần, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Nhưng cũng chính vì thế mà kí ức sống dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Việt nhớ má, nhớ đồng đội, nhớ những giây phút không thể nào quên trước khi nhập ngũ của hai chị em. Những hình ảnh về con người và cảnh vật quê hương hiện lên rõ ràng trong tâm tưởng của Việt.

Đoạn trích có thể chia làm hai cảnh, cảnh một: Tác giả kể về tình huống và tâm trạng của Việt lúc bị thương. Cảnh hai: Việt nhớ lại chuyện hai chị em tranh nhau xin nhập ngũ và sau đó cùng thu xếp việc nhà để lên đường đi chiến đấu. Ở cảnh một, lần thứ tư tỉnh lại, trong kí ức Việt hiện lên những kỉ niệm vui buồn về người mẹ thân yêu luôn đùm bọc, che chở cho các con: Má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn… Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng đã về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt?

Trong những đoạn khác, Nguyễn Thi chọn những chi tiết điển hình hàm chứa nhiều ý nghĩa để khắc họa hình tượng người phụ nữ một tay bồng con, một tay cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng, hoặc hiên ngang đối đáp với kẻ thù mà hai bàn tay to bản vẫn phủ lên đầu đàn con đang nép dưới chân. Mỗi lần bọn lính bắn dọa, mắt má lại sắc ánh lên nhìn lại bọn lính, đôi mắt của người đã từng vượt sông, vượt biển… Đó là hình ảnh của người phụ nữ miền Nam gan góc, kiên cường, yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc và rất mực thương chồng thương con. Cuộc sống lam lũ vất vả, chồng chất đau thương nhưng họ vẫn cắn răng chịu đựng, vượt qua để nuôi con, đánh giặc.

Hình ảnh chú Năm hiện lên với những phẩm chất tiêu biểu của dòng tộc, gia đình. Giữa lúc anh cán bộ huyện đang phân vân không biết giải quyết thế nào trước tình cảnh hai chị em Chiến, Việt giành nhau ghi tên nhập ngũ thì chú Năm đứng ra bảo lãnh cho cả hai: Từ dưới sân, chủ Năm bước lên. Chú nheo mắt nhìn chị em Việt, rồi nói với anh cán bộ:

– Tôi xin có một câu với đồng chí huyện đội. Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cho cả hai. Việc lớn ta tính theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong.

Chú Năm cẩn thận ghi chép đầy đủ tội ác dã man của giặc đối với dòng họ, gia đình mình và chiến công của các thành viên vào một cuốn sổ truyền thống. Khi Chiến và Việt chuẩn bị lên đường, chú Năm bàn giao cuốn sổ cho hai chị em:

Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước – Chú cười, đưa mấy ngón tay cứng còng chùi mắt. Đây rồi tao giao cuốn sổ gia đình cho chị em bây. Gọi là giao vậy chớ đưa cho bây rồi bây lội đùng đùng qua sông là hư hết. Gọi vậy chớ tao vẫn giữ, tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày.

Cuốn sổ tuy nhỏ nhưng ý nghĩa thì đặc biệt lớn bởi nó vừa biểu dương công trạng của từng thành viên, vừa là một tấm bia căm thù, vừa thể hiện quyết tâm đánh giặc của một đại gia đình. Trước kia, cuốn sổ do thế hệ cha chú giữ gìn và ghi chép, nay con cháu đã trưởng thành, chú Năm bàn giao lại cho thế hệ trẻ viết tiếp. Vì vậy, cuốn sổ cũng chính là câu chuyện về cha con, chú cháu cùng đánh giặc để giải phóng quê hương. Điều đó thể hiện một cách giản dị mà sâu sắc quy luật phổ biến của lịch sử Việt Nam, quy luật của sức sống Việt Nam: Đánh đuổi giặc ngoại xâm đã trở thành sự nghiệp chung của nhiều thế hệ.

Là một nông dân chất phác và giàu tình cảm, mỗi khi làm xong một việc, tâm hồn chú Năm lại lâng lâng bay bổng, dạt dào cảm xúc. Chú gửi gắm tình cảm tha thiết của mình vào tiếng hò, tiếng hát quen thuộc của quê hương. Lúc hai chị em Chiến, Việt chuẩn bị ra trận, chú hoàn toàn tin rằng các cháu đã đủ sức gánh vác việc lớn của xã hội. Trong lòng vui vẻ, chú cất lên tiếng hò thay cho lời nhắn nhủ, lời thề:

Không phải giọng hò trong trẻo trong đêm bay ra hai bên bờ sông, rồi dội lại trên cái ghe heo chèo mướn của chú. Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội.

Nhân vật Chiến tuy không được tác giả miêu tả nhiều như nhân vật Việt nhưng vẫn hiện lên sinh động trong tâm trí người đọc. Chiến là hình ảnh của một cô gái Nam Bộ đảm đang, vị tha, nhân hậu. Những gì quen thuộc, tiêu biểu trong phẩm chất đáng quý của người mẹ hầu như đã để lại ấn tượng sâu đậm trong cô con gái có cái tên rất con trai là Chiến. Bởi thế nên mỗi khi nghe chị Chiến nói, Việt lại hình dung ra má và thấy chị sao mà giống má đến thế! Điều đó làm cho Việt bùi ngùi nhớ má và càng thương chị hơn. Hai chị em tuy có hai tính cách khác nhau nhưng giống nhau ở chỗ đều ngoan ngoãn, hiếu thảo, biết gìn giữ và phát huy truyền thống cách mạng của gia đình, dòng họ, láng xóm, quê hương.

Trong tác phẩm, Việt là nhân vật được nói đến nhiều nhất. Việt vừa có những nét riêng dễ mến của một cậu con trai mới lớn như hồn nhiên, hiếu động; vừa có tính cách của một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường.

Ở cảnh một, nhà văn đã để cho nhân vật Việt xuất hiện trong tình huống hoàn toàn đơn độc giữa trận địa vắng lặng đến ghê người sau cuộc giao tranh và giữa sự rình rập của hiểm nguy, của cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Nguyễn Thi đã viết thật hay, thật cảm động về cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất của chàng tân binh trơ trọi một mình, lại bị thương nặng, hai mắt không còn nhìn thấy gì, sức đã cạn vì đói khát. Ngón tay Việt đau không còn kéo nổi cò bấm súng. Việt lết đi được một đoạn cũng là cả một kì công. Anh ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Ở trạng thái như thế, người ta có thể nghĩ gì? Chắc chắn là sẽ nhở lại những kỉ niệm vui buồn thân thiết nhất đã thực sự làm nên đời sống tinh thần của mình. Vì thế, với việc để nhân vật Việt nhớ đến những đồng đội, người thân, tác giả đã khẳng định rằng gia đình là cội nguồn sức mạnh của con người và truyền thống gia đình là thực sự thiêng liêng:

…Khi Việt cảm thấy không còn bò đi được nữa, khi những hình ảnh thân yêu thường kéo đến rất nhanh rồi cũng vụt tan biến đi rất nhanh chỉ vì một cành cây gãy, một giọt mưa rơi trên mặt, hoặc một tiếng động nhỏ của ban đêm. Việt muốn chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày, gặp lại anh Tánh, níu chặt lấy các anh mà khóc như thằng út em vẫn níu chân chị Chiến, nhưng chân tay không nhấc lên được. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc…

Có một chi tiết khá thú vị là đánh giặc Việt không sợ nhưng vẫn rất sợ ma. Tuy mới nhập ngũ nhưng Việt tỏ ra là một chiến sĩ thông minh, phân biệt rõ tiếng súng của ta, tiếng súng của giặc; phán đoán được tình huống của trận đánh: Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai… Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm… chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ.

Tuy đang lâm vào tình huống hiểm nghèo nhưng Việt vẫn hướng về đồng đội, tin tưởng vào chiến thắng: Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra… Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên… Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ…

Đối mặt với cái chết, Việt cố gắng tìm về với cuộc sống: Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lỗ nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong…

Đời người lính chiến, giữa hi sinh tính mạng và chịu đựng khó khăn gian khổ hoặc đau đớn về thể xác thì hi sinh tính mạng dễ chấp nhận hơn nhiều. Đoạn văn kể về nghị lực phi thường của Việt là khúc ca ca ngợi tinh thần dũng cảm của người chiến sĩ giải phóng quân trẻ tuổi.

So sánh nhân vật Chiến và Việt, ta thấy điểm giống nhau của hai chị em là đều có một tình yêu quê hương, đất nước và thái độ căm thù giặc sâu sắc. Tuy là những đứa trẻ mới lớn nhưng Chiến và Việt đã khắc sâu trong tâm khảm mối thù không đội trời chung với những kẻ đã giết hại ba má và đồng bào mình. Từ đó, hai chị em xác định mục đích của cuộc đời mình là phải trả thù bằng được cho ba má, cho quê hương. Chính vì mối thù này mà cả hai chị em đều nung nấu quyết tâm đánh giặc. Mối thù ấy dường như thôi thúc họ lớn nhanh hơn. Khi nghe Chiến kể rằng chú Năm nói lần này hai chị em ra đi chiến đấu, thù ba má chưa trả được mà trở về thì chú chặt đầu, Việt nói tỉnh queo: Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị. Còn Chiến thì cũng khẳng khái nói: Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!

Tuy nhiên, sự độc đáo và hấp dẫn của ngòi bút Nguyễn Thi chính là ở chỗ ông đã có cách miêu tả khác nhau nên Chiến và Việt hiện ra với cá tính riêng không thể lẫn.

Hơn em một tuổi nhưng Chiến luôn tỏ ra là một người chị khôn lớn, đảm đang, việc gì cũng nhận lãnh về mình. Ba má đã khuất, Chiến sớm ý thức được vai trò của người chủ gia đình. Chiến đã phải lớn vượt lên so với lửa tuổi để thay ba má lo liệu việc nhà, bảo ban các em.

Việt là em nên ỷ lại mọi việc cho chị, thường bắt chị phải chiều theo ý mình. Chiến nhường nhịn em trong mọi việc nhưng có một việc Chiến kiên quyết không nhường, ấy là ghi tên tòng quân. Nhưng tính cách của người chị thương em hết lòng cũng thể hiện ở chính điều đó. Thực ra, đây là một đức hi sinh lớn, một sự nhường nhịn lớn. Chiến muốn giành về mình phần nguy hiểm để em được bình yên. Đoạn văn thuật lại cảnh hai chị em Chiến và Việt chuyện trò với nhau mộc mạc mà vô cùng cảm động:

– Tao lớn tao mới đi, mầy còn nhỏ, ở nhà phụ làm với chú Năm, qua năm hãy đi.

Việt đá trái dừa rụng dưới chân xuống mương cái đùng:

– Bộ mình chị biết đi trả thù à?

– Hồi đó má nói cho tao đi, mầy ở nhà làm ruộng với má, trọng trọng rồi đi sau.

– Má nói hồi nào?

Má chết rồi, không biết ai mà phân chứng. Nhưng chị Chiến vẫn không chịu, việc này đâu có nhường được, chị sang vận động chú Năm.

Là chị cho nên Chiến thường tỏ ra có sự tính toán chu đáo, còn Việt thì nông nổi, vô tư. Một trong những tình tiết cảm động nhất của câu chuyện này là cuộc bàn bạc của hai chị em vào cái đêm cuối cùng trước khỉ ra trận. Họ phải làm những phần việc quá sức so với độ tuổi của mình. Đó là việc nhà cửa, làm ăn, việc nuôi dạy thằng út em, việc hương khói cho ba má…

– Bây giờ chị Hai ở xa. Chị em mình đi thì thằng út sang ở với chú Năm, chú nuôi. Còn cái nhà này ba má làm ra đó thì cho các anh ở xã mượn mở trường học. Chú Năm nói có con nít học ê a có gì nó quét dọn cho. Thằng út cũng học ở đây. Mầy chịu không?

Việt chụp một con đom đóm úp trong lòng tay:

– Sao không chịu?

– Giường ván cũng cho xả mượn làm ghế học, nghen

– Hồi đó má dặn chị làm sao, giờ chị cứ làm y vậy, tội chịu hết.

– Má dặn tao hồi nào? Giờ còn có tao với mầy thôi. Nếu đồng ý thì nồi, lu, chén, đĩa, cuốc, vả, đèn soi với nơm để gởi chú Năm. Chừng nào chị Hai ở dưới biển về làm giỗ má, chị có muốn lấy gì thì chị chở về dưới, nghen?

– Tôi nói chị tính sao cứ tính mà…

…” Còn năm công ruộng hồi trước mấy chú cấp cho ba má, giờ mình đi mình trao lại chi bộ đảng chia cho cô bác khác mần, nghen? Hai công mía thì chừng nào tới mùa, nhờ chú Năm đốn, để dành đó làm đám giỗ ba má. Em cũng ừ nghen?

– Ừ!

– Còn bàn thờ má em tính gởi đâu? Gởi sang chủ Năm cho thằng út nó coi chừng hay là để chị Hai về đem đi?

Việt ngóc đầu lên dòm bàn thờ. Từ nãy giờ đang mải với ý nghĩ má đã về, nghe chị hỏi, Việt lại tin má đã về ngồi đâu đó thật. Việt nói:

– Mình đi đâu thì má đi theo đó chớ lo gì mà lo?

– Vậy chở ba má không theo con thì theo ai, nhưng mà cũng phải tính cho đâu ra đó chớ. Đem bàn thờ sang gởi chú Năm, em có ừ không?

– Ừ!… Mà hồi đó má dặn chị vậy hả?

– Má cỏ biết má chết đâu mà dặn.

Việt sải chân ra giường:

– Vậy mà nói nghe in như má vậy.

Chị Chiến hử một cái “cóc” rồi trở mình. May mà chị không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi.

Chị nói:

– Tao cũng lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy.

Đúng rồi, hèn chi chị nói nghe thiệt gọn. Vậy mà hồi nãy còn giành đi với mình. Việt nghĩ vậy, rồi ngủ quên lúc nào không biết.

Chiến biết là Việt chưa lo toan nổi việc nhà, nhưng nhà chỉ có hai chị em nên Chiến vẫn đem việc nhà ra bàn với em một cách dân chủ. Tuy vậy, Chiến đã dự định từ trước, mọi việc đã được sắp xếp đâu ra đấy, khiến cho Việt cảm thấy chị mình chín chắn, già dặn giống in như má. Còn Việt, trong khi nghe chị nói thì lại để mắt đến mấy con đom đóm và trong lúc chị Chiến vẫn nói thì Việt đã lăn ra ngủ từ lúc nào.

Câu chuyện trao đổi giữa hai chị em cũng bộc lộ phẩm chất đáng quý của tuổi trẻ miền Nam thời đánh Mĩ: đã ra đi là quyết tâm chiến đấu và chiến thắng. Điều đáng quý của hai chị em là rất thương yêu, lo lắng cho nhau và cả hai đều nhớ đến má: Hình như má cũng về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt, má cũng phải về dòm ngó coi chị em Việt tính toán việc nhà ra làm sao chớ? Chị em Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, cho nên dù cha mẹ đã khuất nhưng lời dạy của cha mẹ vẫn thấm sâu vào tâm trí, nhắc nhở các con trong từng suy nghĩ, từng lời nói và hành động.

Trước lúc lên đường Việt đi câu ít con cá về làm bữa cơm cúng má trước khi dời bàn thờ sang nhà chú… Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Người đọc không thể quên đoạn văn rất cảm động tả cảnh hai chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm: Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập chúng con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lân đầu tiên Việt thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác.

Chỗ hay nhất của đoạn văn trên có lẽ là cái không khí thiêng liêng làm thay đổi cả cảnh vật lẫn con người. Con đường quen thuộc bỗng có thêm mùi hoa cam thoảng lại từ chân vườn. Còn đối với Việt, cái không khí thiêng liêng ấy khiến anh trở thành người lớn. Lần đầu tiên, Việt hiểu rõ lòng mình, bỗng thương chị lạ và cảm thấy rất rõ mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Đây là một chi tiết nghệ thuật cô đọng, dồn nén, chất chứa rất nhiều ý nghĩa, vừa là hành động cụ thể, vừa có yếu tố tâm linh, vừa nặng trĩu căm thù, vừa chan chứa yêu thương… Nếu để ý, người đọc sẽ thấy tác giả còn tô đậm sức vóc của hai chị em. Chiến thì hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng… dang cả thân người to và chắc nịch của mình… nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt cũng ghé vào để khiêng. Nghĩa là thế hệ sau đã cứng cáp, trưởng thành. Những đứa con trong gia đình đã đủ sức cầm súng đánh giặc như thế hệ của cha mẹ mình.

Câu chuyện trong đoạn trích được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật chính, dựa theo dòng hồi tưởng đan xen với thực tại, vì thế mà đậm đà chất trữ tình và vô cùng sống động. Phẩm chất, tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét. Trong kí ức nhân vật hiện lên rõ ràng từng kỉ niệm của quá khứ chưa xa. Đó là những ngày Việt được sống trong tình yêu thương của đồng đội, của những người thân yêu trong gia đình. Quá khứ này tạo điều kiện cho nhà văn có thể đi sâu vào thế giới nội tâm phong phú của nhân vật. Kết cấu của truyện không phụ thuộc vào trật tự thời gian. Từ những chi tiết ngẫu nhiên của hiện thực chiến trường, tác giả đã gợi ra những dòng hồi tưởng về quá khứ từ chuyện này sang chuyện khác hết sức tự nhiên. Dưới ngòi bút của nhà văn Nguyễn Thi, nhân vật nào cũng sống động và có cá tính rõ nét. Nhờ ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ mà tác phẩm chân thực và sinh động.

Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình vừa giàu tính hiện thực vừa giàu tính trữ tình. Những suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật Việt được tác già thể hiện bằng giọng kể tự nhiên, mộc mạc rất đúng với tầm trạng của một chàng trai mới lớn, xa gia đình đi chiến đấu chưa được bao lâu. Điều đó phần nào phản ánh phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ Giải phóng quân trong cảnh ngộ nguy hiểm và chết chóc của chiến trường. Sự đau đớn do các vết thương trên thân thể gây ra không làm cho Việt khủng hoảng tinh thần mà ngược lại, anh vẫn bình tĩnh sống với kí ức tuổi thơ gắn liền bao kỉ niệm vui buồn và tìm thấy ở đó nguồn sức mạnh lạ thường. Nhà văn Nguyễn Thi miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ không phải qua chiến công mà là qua nghị lực phi thường và đời sống tình cảm phong phú của họ.

Chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng thời đánh Mĩ còn được tác giả khai thác ở đời sống tinh thần giản dị mà cao đẹp của thế hệ trẻ miền Nam. Hai chị em Chiến, Việt là những đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo và trong chiến đấu họ lại là những chiến sĩ vô cùng kiên cường, dũng cảm.

Thông qua truyện, Nguyễn Thi cũng kín đphân tích bài Những đứa con trong gia đìnháo đề cập tới một vấn để có tính chất xã hội: Gia đình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành nhân cách. Những người con được giáo dục tốt trong giá đình sẽ trở thành những thành viên tích cực và hữu ích cho xã hội. Ở từng nhân vật đều có sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình và tình cảm yêu nước, yêu cách mạng, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc, thà hi sinh tất cả quyết giành độc lập tự do. Điều đó đã tạo nên sức mạnh to lớn của con dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp chống Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

3. Mẫu tham khảo số 3 tác phẩm Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi là một trong các nhà văn tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ. Ông viết nhiều, viết chân thực về mảnh đất và con người Nam Bộ để rồi nó trở thành không gian vô cùng đặc sắc trong văn thơ Nguyễn Thi. Trong đó, “Những đứa con trong gia đình” là một trong những tác phẩm mà ông đặt nhiều tâm huyết để nói về con người Nam Bộ với những vẻ đẹp phẩm chất, tính cách anh hùng.

Nhan đề “Những đứa con trong gia đình” gợi ra sự nối tiếp của sự sống trong một mạch nguồn bất tận của thế hệ sau với thế hệ trước. Không chỉ nối tiếp một huyết thống mà còn nối tiếp cả một truyền thống. Qua đó, Nguyễn Thi cũng đề cao vai trò của gia đình đối với mỗi con người. Ở đó không chỉ là cái nôi nuôi dưỡng sự sống mà nó còn nơi khơi dậy sức sống mãnh liệt về tình yêu Tổ Quốc, yêu gia đình. Ngoài ra, nhan đề còn mở các hình tượng trung tâm trong tác phẩm là chú Năm, Việt, chị Chiến…

Chú Năm hiện lên là người thân lớn tuổi duy nhất còn lại trong gia đình, là chỗ dựa, cưu mang, chăm sóc thay ba má dạy dỗ chị em Việt. Chú là điểm tựa tinh thần của chị em Việt – Chiến để hai chị em tiếp tục sống và chiến đấu. Ở chú Năm hiện lên tất cả vẻ đẹp của một người nông dân mộc mạc, chất phác, mang trong mình vẻ đẹp riêng của người nông dân Nam Bộ. Tính cách bộc trực, thẳng thắn, mạnh mẽ qua cách dạy hai chị em Việt – Chiến “thù cha mẹ chưa trả mà bảo về là chú chặt đầu”. Chú là người ham sông ham bến và đi nhiều nơi, viết nhiều. Tất cả hiện lên ở chú Năm là con người của đất đai sông nước, kênh rạch, nồng nàn hơi thở Nam Bộ.

Đặc biệt trong chú Năm còn là tình yêu và lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc. Chú Năm cũng là người có ý thức chăm chỉ giữ gìn và bảo vệ truyền thống của gia đình. Chú rất chăm chỉ và tỉ mỉ ghi lại các sự kiện, sự việc của gia đình, không sót một cái nào. Đặc biệt là cuốn sổ mà chú giữ được ví như cuốn biên niên sử và chú cũng hiện lên là gia phả sống của gia đình nông dân Nam Bộ. Chú là hiện thân trực tiếp luôn luôn sống về truyền thống, hướng về Tổ quốc. Nếu ví gia đình chú như một dòng sông chú Năm được ví là khúc thượng nguồn.

Má Việt hiện lên là người phụ nữ gan góc, mạnh mẽ và có lòng yêu thương con sâu sắc. Cuộc đời má chồng chất những đau thương gắn liền với Mỹ ngụy. Tuy nhiên bằng bản lĩnh và nghị lực, người mẹ ấy nén đau thương nuôi các con để sống và duy trì sự sống. Đau thương ấy, người mẹ Nam Bộ nuốt vào trong để lặng lẽ chịu đựng. Má là hình ảnh điển hình cho người phụ nữ Nam Bộ những con người bất khuất, trung hậu, đảm đang và kiên cường, giàu đức hi sinh.

Dưới ngòi bút khắc họa nhân vật của Nguyễn Thi, chị Chiến hiện lên với sự thừa hưởng cả hình dáng và tính cách của má. Dáng người khỏe khoắn, chắc nịch gánh vác công việc của gia đình, tròn trách nhiệm của một người chị lớn trong gia đình. Chị Chiến còn thừa hưởng những tính cách của mẹ về sự mạnh mẽ, kiên cường, bản lĩnh. Là người tảo tần, thu vén mọi việc trong gia đình và có lòng yêu nước, ý thức phát huy truyền thống dân tộc. Tuy nhiên ở cô gái 19 tuổi ấy vẫn giữ được vẻ ngây thơ, hồn nhiên và rất tinh tế, nhạy cảm. Qua ngôn ngữ đơn giản, rắn rỏi, Nguyễn Thi làm nổi bật vẻ đẹp người con Nam Bộ.

Với ngòi bút đặc tả cùng lối trần thuật ở ngôi thứ ba, Việt hiện lên là một cậu bé 18 tuổi vừa giữ được sự ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên nhưng cũng là một cậu bé rất yêu thương chị gái của mình. Việt còn là một cậu bé giàu lòng yêu thương và sống rất tình nghĩa. Việt gan góc và dũng cảm. Và hơn ai hết, trong Việt cũng là tình yêu quê hương, đất nước, luôn sục sôi với dòng máu truyền thống của cách mạng.

Bằng ngòi bút sử thi và cảm hứng lãng mạn, ngôn ngữ vừa tả thực, vừa lãng mạn nhà văn đã xây dựng một gia đình Nam Bộ có sự nối tiếp thế hệ. Chính sức mạnh sinh ra từ tình thương và nỗi đau đã giúp những con người trong gia đình đặc biệt thế hệ sau nhanh chóng trưởng thành sẵn sàng mang trên vai trách nhiệm của gia đình và sứ mệnh thiêng liêng lịch sử. Việc xây dựng nhân vật có sự tiếp nối thế hệ là cách nhà văn ca ngợi sức mạnh tư tưởng, lí giải cội nguồn tạo nên chiến thắng.

4. Bài văn tham khảo số 4 Những đứa con trong gia đình phân tích

Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, nếu giai đoạn trước các mạng các tác giả chủ yếu tập trung vào đề tài phản ánh, tố cáo hiện thực xã hội, và thương cảm với phận của người nông dân cùng khổ và trí thức nghèo, thì sau khi cách mạng tháng 8 thành công, đất nước bước sang trang sử mới, tiến vào thời kỳ vừa chiến đấu bảo vệ vừa xây dựng kiến thiết đất nước. Đề tài của các tác đã có sự thay đổi lớn, tập trung vào làm rõ vẻ đẹp của con người trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp, theo khuynh hướng sử thi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với sự nổi lên của một số tác giả nổi tiếng trong đề tài “chiến tranh cách mạng – lực lượng vũ trang” như Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trung Thành, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải,… Và tác giả Nguyễn Thi cũng là một trong số đó, ông và Nguyễn Trung Thành là hai người bạn thân, cùng tham gia chiến đấu, sau khi tập kết ra Bắc thì cả hai cùng tình nguyện vào Nam để chiến đấu, rồi chia tay nhau tại khu rừng xà nu phía Tây Thừa Thiên giáp Lào. Nguyễn Trung Thành ở lại gắn bó với chiến trường Tây Nguyên và viết nên tác phẩm Rừng xà nu kể về cuộc chiến đấu của những con người Tây Nguyên để làm sáng tỏ chân lý: “Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”, còn Nguyễn Thi đi tiếp vào phía Nam gắn bó với miền đất Nam Bộ và viết nên tác phẩm nổi tiếng Những đứa con trong gia đình, lý giải sức mạnh làm nên chiến thắng chính là sức mạnh đến từ truyền thống. Câu chuyện bắt nguồn từ nhân vật Việt, một chàng trai trẻ tuổi với những nét tính cách, phẩm chất đẹp đẽ, hội tụ đầy đủ các vẻ đẹp của cộng đồng là hình mẫu lý tưởng của một người anh hùng cách mạng mang khuynh hướng sử thi, lãng mạn cách mạng.

Nguyễn Thi có cách mở đầu truyện và giới thiệu nhân vật một cách độc đáo và ấn tượng, từ đó khiến cho nhân vật trung tâm của tác phẩm đi vào lòng người đọc trước hết là ở vẻ đẹp kiên cường, mạnh mẽ trong đấu tranh. Nhân vật Việt, xuất hiện trong bối cảnh khá đặc biệt, đó là trong lần ra trận đầu tiên, anh đã lập được chiến công lớn, hạ được một chiếc xe bọc thép và 6 tên Mỹ lẻ, tuy nhiên bản thân Việt cũng bị thương rất nặng, hai mắt không nhìn thấy gì, lạc mất đồng đội, một mình nằm lại giữa rừng cao su rộng lớn, không ăn không uống suốt mấy ngày. Cơ thể kiệt sức đến nỗi không thể cử động được, chỉ duy nhất có một ngón tay còn hơi nhúc nhích được, Việt ngất đi rồi tỉnh lại nhiều lần, trong suốt quá trình đó những ký ức về gia đình, về mẹ, về chị, về ngày nhập ngũ cử trở đi trở lại trong trí óc Việt. Từ đó tính cách và những vẻ đẹp của nhân vật được bộc lộ một cách tự nhiên và khách quan không chỉ dưới góc nhìn của tác giả mà còn ở góc nhìn của chính nhân vật Việt.

Việt, cũng như gia đình Việt chính là tiêu biểu cho những con người Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo Nam Bộ có truyền thống đánh giặc lâu đời, phải gánh chịu nhiều đau thương mất mát nhưng cũng rất hào hùng vẻ vang với nhiều chiến công. Từ nhỏ Việt đã chịu cảnh mồ côi cha, phải đối diện với nỗi đau cha bị giặc Mĩ chặt đầu một cách dã man, mẹ anh một người đàn bà kiên cường, đã phải nén giọt nước mắt đau thương dẫn theo đàn con thơ đi đòi đầu chồng về để lo ma chay, an táng. Đến khi Việt lớn thì lại phải chịu nỗi đau mất mẹ, khi mẹ Việt cũng theo gót chồng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ và chết vì bom đạn của kẻ thù. Không chỉ vậy, trong suốt quá trình trưởng thành Việt cũng lần lượt chứng kiến những cái chết thương tâm của những người thân khác trong gia đình như ông nội, thím Năm bởi sự tàn bạo của kẻ thù. Tuy nhiều đau thương, thế nhưng gia đình Việt lại cũng có nhiều chiến công rạng rỡ với truyền thống đánh giặc cứu nước lâu đời mà tất cả những chiến công ấy đều được chú Năm ghi lại trong cuốn sổ của gia đình bằng nét chữ nguệch ngoạc, “còng còng” nhưng rất đỗi tự hào, trân trọng. Chính từ những mất mát đau thương to lớn và truyền thống vẻ vang bao đời của gia đình  đã trở thành cơ sở  để hình thành trong tâm hồn Việt lòng căm thù giặc sâu sắc, ý niệm trả nợ nước, thù nhà mãnh liệt, lòng giác ngộ cách mạng sớm, càng củng cố thêm lý tưởng sống và chiến đấu cho Tổ quốc cao đẹp của nhân vật.

Việt chính là đại diện cho hàng triệu thanh niên Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở anh hội tụ tất cả nhiều vẻ đẹp của một người anh hùng  theo khuynh hướng sử thi, lãng mạn cách mạng. Đầu tiên là vẻ đẹp của tấm lòng sâu nặng, tha thiết dành cho gia đình, đặc biệt là cho mẹ và chị gái. Có lẽ vì mất cha từ khi còn nhỏ tuổi, thế nên trong ký ức của Việt luôn tràn ngập hình bóng của mẹ, người phụ nữ kiên cường cùng lúc nắm giữ hai vai trò, vừa là cha vừa là mẹ để nuôi lớn cả đàn con thơ, đồng thời cũng là một chiến sĩ cách mạng dũng cảm. Trong khi bị thương nặng nằm giữa chiến trường, sự sống và cái chết chỉ cách nhau một ranh giới vô cùng mỏng manh, Việt kiệt sức, ngất đi và hồi tỉnh nhiều lần, giữa những lần ấy Việt luôn nhớ về má của mình, với nhiều mảnh ký ức sống động dội về. Việt nhớ má với cái ngoại hình rắn chắc,  khỏe mạnh đặc trưng của một người phụ nữ Nam Bộ “đôi bắp chân tròn vo, sạm đỏ, lúc nào cũng lấm bùn”, nhớ đến cái màu áo bà ba đã bạc phếch vì trải nhiều mưa nắng, nhớ đến tiếng bước chân “bịch bịch” trong những đêm mẹ thức bưng từng thúng lúa từ xuồng vào nhà. Việt cũng nhớ mãi ánh mắt kiên cường của một người đàn bà đã từng vượt sông vượt suối khi đứng đối đáp với bọn giặc Pháp, nén đau thương để đòi được đầu chồng về an táng. Việt cũng nhớ mãi đôi bàn tay thô ráp, to bản nhưng đầy ấm áp, yêu thương khi má lùa chị em Việt ra sau lưng để che đạn giặc. Má trong tâm trí Việt không chỉ kiên cường, mạnh mẽ mà còn là người đàn bà tháo vát, đảm đang, một tay nuôi cả đàn con khôn lớn, “miệng thì cười nói nhưng tay đã bơi xuồng ra giữa dòng”… Không chỉ vậy tình cảm sâu nặng của Việt đối với má còn thể hiện sâu sắc qua những mong ước, khao khát của Việt khi bị thương nặng, nằm lại giữa chiến trường. Trong lúc đau đớn và kiệt quệ ấy, Việt chỉ mong sao được gặp má, được quay trở về những ngày còn ở nhà, lúc “má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xong cơm đi làm đồng để dưới xuồng lên cho Việt ăn,…”. Hoặc trong đêm trước ngày lên đường nhập ngũ tình cảm dành cho má cũng thể hiện ở việc Việt nhìn đom đóm lập lòe nhớ má và nghĩ rằng “hình như má cũng về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà, hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà ngồi quạt nón? Đêm nay, dễ gì mà má vắng mặt…”. Rồi trong lúc ngẩn ngơ nghe chị Chiến thu xếp công việc nhà, Việt chẳng mấy để tâm nghe câu được câu mất, thế nhưng cứ thỉnh thoảng lại hỏi rằng có phải hồi đó má dặn vậy không. Hoặc nghe nhìn thấy dáng điệu, cách nói năng của chị Việt luôn suy tưởng về má, lòng cứ xuýt xoa sao mà giống má thế, giống y hệt,… Tất cả những điều đó đều chứng minh rằng Việt đã dành cho má của mình một tình cảm rất sâu nặng, rất gắn bó, mà như lời Việt nói, chị em Việt đi đâu thì ba má đi theo đấy, Việt đã mang theo má trong trái tim, ra chiến trường, không giây phút nào Việt thôi nghĩ về má, về gia đình.

Đối với chị Chiến, Việt không bộc lộ nhiều tình cảm trực tiếp, thế nhưng chị Chiến cũng là người mà Việt dành những tình cảm yêu thương sâu sắc. Điều đó được anh thể hiện thông qua một số chi tiết khá đặc sắc. Khi còn ở nhà, trước ngày lên đường nhập ngũ, trong lúc khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm gửi, khi nghe thấy tiếng bước chân chị “bịch bịch” đằng sau, “Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt thấy lòng mình rõ thế”. Đây được xem là sự chuyển biến mới, một bước tiến trưởng thành trong tâm hồn của Việt, trước lúc chia xa Việt đã nhận thức được tình thương của mình dành cho chị gái, đồng thời cũng thấu hiểu được những vất vả lo toan của chị sau khi má mất, chị phải là người gánh vác gia đình, mang trên vai mối thù của cả gia đình. Đặc biệt chị Chiến có lẽ sẽ trở thành một người phụ nữ thứ hai như má, kiên cường, mạnh mẽ, tháo vát đảm đang, điều đó càng làm Việt thấy yêu thương chị nhiều hơn. Khi ra chiến trường, sống và chiến đấu cùng anh em đồng đội, Việt chưa từng kể về chị Chiến, anh giấu chị như giấu của, sợ chị bị những lời tán tỉnh, đùa tếu của anh em cướp đi mất. Đó là một hành vi có phần ấu trĩ và trẻ con nhưng đó lại là biểu hiện chân thực, hồn nhiên nhất cho tấm lòng thương yêu sâu sắc đối với chị gái của Việt.

Trên cơ sở những mất mát đau thương, truyền thống chống giặc ngoại xâm và những tình cảm sâu sắc dành cho gia đình đã hình thành nên trong tâm hồn Việt vẻ đẹp thứ hai đó chính là lòng căm thù giặc sâu sắc, lý tưởng sống và chiến đấu để trả nợ nước thù nhà. Sau khi má chết, Việt càng quyết tâm đi bộ đội để trả thù cho má, tranh giành với chị Chiến suất đi bộ đội trước, khi không cãi lý được với chị thì lại đâm ra cãi cùn. Điều đó bộc lộ khao khát được ra chiến trường, trực tiếp cầm súng diệt giặc để trả mối nợ nước thù nhà đang bốc cháy ngùn ngụt trong lòng chàng trai trẻ. Đặc biệt ý chí trả thù, ra đi chiến đấu còn thể hiện rất cảm động trong tâm tưởng của Việt khi anh cùng chị khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm “chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về”, rồi “mối thù thằng Mỹ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng trên vai”. Mối thù sâu nặng, truyền thống đánh giặc bất khuất của gia đình đã trở thành tiền đề, cơ sở và động lực cho tinh thần dũng cảm và kiên cường của Việt ở trên chiến trường. Tuy còn nhỏ tuổi thế nhưng Việt đã có những bước tiến lớn vượt xa trên dòng sông truyền thống của gia đình, trong lần ra trận đầu tiên Việt đã anh dũng, gan dạ lập được chiến công rất vẻ vang khi tự mình hạ được một xe bọc thép và tiêu diệt 6 tên Mỹ lẻ. Nhưng sau đó Việt cũng bị thương rất nặng, lạc mất đồng đội, trong lúc nằm lại giữa chiến trường, mắt không thể nhìn thấy gì, cả người kiệt sức không thể động đậy thế nhưng Việt vẫn rất kiên cường chiến đấu đấu dù chỉ còn một chút hơi sức cuối cùng, anh dùng một ngón tay còn có thể cử động đặt vào cò súng, đạn đã lên nòng chỉ cần nghe động là sẵn sàng bắn với ý nghĩ “trên trời có mày dưới đất có mày ở giữa cánh rừng này chỉ có mình tao, mày mà bắn được tao thì tao cũng bắn được mày. Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn với tao thì mày chỉ là thằng chạy”. Không chỉ vậy ở Việt còn là quyết tâm sống còn mạnh mẽ dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, anh không chỉ ham chiến đấu mà còn muốn tiếp tục sống và chiến đấu để trả thù, thế nên khi bị lạc giữa chiến trường, mắt không nhìn thấy Việt đã dùng đôi tai nghe tiếng súng để xác định phương hướng rồi cố bò lết về phía ấy để tìm sự giúp đỡ của đồng đội. Bản lĩnh, sự kiên cường đến tận phút cuối, trân trọng từng phút của sinh mạng ấy đã làm nên vẻ đẹp của một người anh hùng cách mạng, là vẻ đẹp lý tưởng của cộng đồng, đại diện cho tầng lớp thanh niên chống Mỹ cứu nước lúc bấy giờ.

Bên cạnh những vẻ đẹp chung, tiêu biểu đại diện cho vẻ đẹp của người anh hùng thời đại, thì ở Việt còn có những nét đẹp riêng của một thanh niên trẻ tuổi. Tuy đã cầm súng chiến đấu, mang trong mình mối thù sâu nặng nhưng ở Việt vẫn có những nét hồn nhiên tinh nghịch của các chàng trai cùng lứa tuổi đó là sự trẻ trung, hồn nhiên, vô tư, tinh nghịch. Khi còn ở nhà thì Việt luôn tranh giành với chị mọi thứ, kể cả việc đi bộ đội anh cũng tranh giành cho kì được, khi không cãi lý được với chị thì Việt giở trò cãi cùn, cốt chỉ được đi trước chị. Khi vào bộ đội thì Việt vẫn không quên được trò bắn chim yêu thích lúc còn ở nhà thế nên hành trang cậu cũng giắt theo cả chiếc ná thun. Sống cùng đồng đội, dẫu có thân thiết Việt cũng chẳng bao giờ kể về chị gái, luôn giấu chị như giấu của vì ngây thơ, sợ rằng chị sẽ bị đồng đội cướp mất bằng những lời tán tỉnh, đùa tếu. Thậm chí, tính trẻ con, ngây thơ của Việt còn bộc lộ ngay cả khi anh bị thương nặng nằm lại chiến trường, Việt không sợ chết, nhưng tự bản thân anh lại tưởng tượng ra đủ thứ ma quái đang rình rập, sợ ma đến mắt mình.

Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi có nhiều nét tương đồng với Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, cả hai đều được sinh ra trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ trở nên ác liệt nhất, đều sinh ra và lớn lên trong môi trường với truyền thống đánh giặc bất khuất, chịu nhiều mất mát đau thương, có những tình cảm sâu sắc với gia đình, quê hương. Điều đó đã trở thành tiền đề, cơ sở củng cố thêm cho lý tưởng sống và chiến đấu trả nợ, nước thù nhà, bảo vệ quê hương đất nước của nhân vật. Khiến họ trở thành những tấm gương sáng, hình mẫu anh hùng lý tưởng của thời đại, hội tụ đầy đủ các vẻ đẹp của cộng đồng, mang đậm khuynh hướng sử thi, chất lãng mạn cách mạng, là tượng đài trong nền văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1975.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

5. Bài tham khảo số 5 phân tích tác phẩm Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi không phải người con của quê hương Nam Bộ nhưng được mệnh danh là nhà văn của nhân dân Nam Bộ. Quá trình gắn bó lâu dài, sự am tường, thấu hiểu về mảnh đất, con người nơi đây đã giúp Nguyễn Thi khắc họa thành công các nhân vật mang tính Nam Bộ rõ nét. Đến với các nhân vật của Nguyễn Thi người đọc khó có thể quên các nhân vật trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình.

Tác phẩm bắt đầu với câu chuyện của một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống Cách mạng với những người con ưu tú vừa kế thừa, vừa phát huy truyền thống của cha anh, đưa truyền thống của gia đình vào biển lớn mênh mông của tình yêu Tổ quốc. Đầu tiên là nhân vật Chiến mang vẻ đẹp trẻ trung khỏe khoắn của người con gái Nam Bộ. Chiến già dặn hơn lứa tuổi rất nhiều, biết chăm lo quán xuyến việc gia đình. Chiến liệu việc y hệt má. Hình ảnh người mẹ như bao bọc lấy Chiến, Việt đã không dưới ba lần thấy chị mình giống in như má vậy. Điều mà Nguyễn Thi muốn khẳng định, trong thời điểm thiêng liêng, lúc quyết định lên đường hình ảnh người mẹ sống hơn bao giờ hết trong lòng những đứa con “Má biến theo con đom đóm trên nóc nhà, hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt”. Chú Năm nhìn cháu thiệt lâu và nói: “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn, thì việc nước nó mở được rộng. Gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây giờ kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Đó là niềm tin của những người đi trước gửi gắm thế hệ sẽ tiếp bước theo sau. Chiến khát khao cầm súng chiến đấu để trả thù cho ba, mẹ, quê hương. Việc Chiến cùng Việt khiêng bàn thờ má sang gửi chú Năm đã khẳng định Chiến cũng như em trai của mình đã ý thức rất rõ về trách nhiệm của mình, tấm lòng yêu nước, sự căm thù quân giặc, quyết tâm trả thù cho cha mẹ. Bằng nghệ thuật dựng chân dung nhân vật độc đáo Nguyễn Thi đã tạo nên một phong cách mới lạ.

Cùng với Chiến, Việt hiện lên với tất cả ngây ngô, lộc ngộc của trẻ nhỏ. Đêm trước ngày tòng quân, Chiến nói với em những lời trang nghiêm thì Việt lại coi những việc đó là do má dặn chị rồi. Trong mỗi giấc mơ, người Việt nhớ đến đầu tiên là má. Trong việc tranh giành với chị Chiến để đi tòng quân, “bộ mình chị biết đi trả thù à” không chỉ đơn thuần là sự hồn nhiên mà còn niềm khát khao chiến đấu để trả thù cho ba mẹ, quê hương.

Hình ảnh Việt cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má sang gửi chú Năm đã khẳng định Việt cũng như chị gái của mình đã ý thức được trọng trách của mình để quyết tâm trả thù cho gia đình, quê hương. Có yêu thương, có căm thù, có mất mát nhưng có cái vĩnh hằng, cũng có yếu tố tâm linh…

Truyện ngắn vừa sâu sắc, vừa hấp dẫn với tình huống truyện hấp dẫn, diễn biến linh hoạt, không tuân theo trật tự thời gian. Khắc họa tính cách nhân vật đậm chất Nam Bộ: thẳng thắn, bộc trực, ngùn ngụt ngọn lửa căm thù giặc…

Qua hồi ức của Việt khi bị thương, tác giả ngợi ca tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ đồng thời khẳng định: chính sự kết hợp giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

6. Tham khảo số 6 phân tích truyện Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi là nhà văn gắn bó sâu sắc với nhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh hiệu: Nhà văn của người dân Nam Bộ. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Những đứa con trong gia đình. Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc và khao khát chiến đấu, son sắt với cách mạng.

Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ quân giải phóng năm 1966. Nhân vật chính của truyện là Việt. Việt là một chiến sĩ giải phóng quân. Ông nội và bố Việt bị giặc giết hại, mẹ Việt một mình nuôi con vất vả rồi cũng chết vì bom đạn. Gia đình chỉ còn lại Việt, chị Chiến, thằng Út em, chú Năm và một người chị nuôi đi lấy chồng xa. Truyền thống ấy được chú Năm ghi tất cả vào cuốn sổ gia đình. Việt và Chiến hăng hái đi tòng quân giết giặc. Trong một trận chiến đấu, Việt hạ được một chiếc xe bọc thép của địch nhưng lại lạc đồng đội và bị thương nặng ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, dòng hồi ức lại đưa anh về với những kỉ niệm thân thiết đã qua: kỉ niệm về má, về chị Chiến, chú Năm, đồng đội và anh Tánh…Anh Tánh và đồng đội tìm được Việt, đưa về điều trị một bệnh viện và sức khoẻ Việt dần dần hồi phục. Chuyện được kể theo dòng hồi ức của Việt trong những lần ngất đi tỉnh lại ấy.

Đặc sắc của truyện là đã dựng nên được hình tượng những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, thuỷ chung, son sắt với cách mạng. Những con người này có những nét chung thống nhất, thể hiện rõ đặc điểm của nhân vật Nguyễn Thi. Đó là: Căm thù giặc sâu sắc; gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc; giàu tình nghĩa, rất mực thuỷ chung son sắt với quê hương và cách mạng. Tuy nhiên, trong cái dòng sông truyền thống của gia đình ấy, “mỗi người một khúc”, có nét tính cách riêng, không ai giống ai. Đó chính là điểm nói lên tài năng của Nguyễn Thi.

Trong dòng sông truyền thống gia đình này, chú Năm là khúc thượng nguồn, là nơi kết tinh đầy đủ hơn cả truyền thống của gia đình. Chú hay kể sự tích gia đình. Chú là tác giả cuốn sổ gia đình ghi chép tội ác của giặc và chiến công của các thành viên trong gia đình. Chú Năm là người lao động chất phác nhưng giàu tình cảm. Tâm hồn chú Năm bay bổng, đạt dào cảm xúc khi cất lên tiếng hò. Những lúc đó, chú Năm như đặt cả trái tim mình vào trong câu hò, tiếng hát. Cùng với chú Năm, má Việt cũng là một hiện thân của truyền thống. Đây là một hình tượng người phụ nữ mang đậm những nét tính cách của nhân vật Nguyễn Thi. Rất gan góc, căm thù giặc sâu sắc. Rất mực thương chồng, thương con, đảm đang, tháo vát. Cuộc đời lam lũ, vất vả chồng chất đau thương tang tóc, nhưng cắn răng nén chặt nỗi đau thương của mình để nuôi con, đánh giặc. Một tay bồng con, một tay cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng; hiên ngang đối đáp vời kẻ thù mà “hai bàn tay to bản” vẫn “phủ lên đầu đàn con đang nép đước chân”; mỗi lần bọn lính bắn doạ “mắt má lại sắc ánh lên nhìn lại bọn lính, đôi mắt của người đã từng vượt sông, vượt biển”…

Đó là hình ảnh của sự gan góc, chở che mang ý nghĩa biểu tượng về người phụ nữ ở một xứ sở như đất nước ta, cuộc sống thì lam lũ vất vả, chồng chất đau thương nhưng con người lại rất đỗi kiên cường, cao cả. Má Việt đã ngã xuống trong một cuộc đấu tranh nhưng trái cà-nông lép má nhặt đem về vẫn còn nóng hổi. Trong quan niệm của Nguyễn Thi, người mẹ ấy cái phần thác chỉ là thể phách còn linh hồn thì bất tử, sống mãi trong lòng những đứa con. Không phải ngẫu nhiên mà vào cái đêm sắp xa nhà đi chiến đấu, những đứa con đều cảm nhận không phải ai khác mà chính là người mẹ đã hiện về.

Chiến có những nét giống mẹ: gan góc, đảm đang tháo vát. Nguyễn Thi có ý thức tô đậm nét kế thừa người mẹ nhân vật Chiến. Chiến là một tính cách đa dạng: vừa là một cô gái mới lớn, tính khí còn rất trẻ con, vừa là người chị biết nhường em, biết lo toan, đảm đang, tháo vát. So với người mẹ, Chiến không chỉ khác ở cái vẻ trẻ trung thích làm duyên làm dáng. Vận hội mới của cách mạng đã tạo điều kiện cho Chiến được trực tiếp cầm súng đánh giặc để trả thù nhà, thực hiện lời thề như dao chém đá của mình: “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất”.

Trong tác phẩm, Việt là nhân vật xuất hiện nhiều lần nhất. Việt đã hiện lên cụ thể và sinh động trước mắt ta, vừa là cậu con trai mới lớn, vừa là một chiến sĩ gan góc, dũng cảm, kiên cường. Việt có cái nét riêng dễ mến của một cậu con trai lộc ngộc vô tư, tính anh còn rất trẻ con, rất ngây thơ, hiếu động.

Nếu Chiến luôn biết nhường nhịn em, thì trái lại, Việt lại hay tranh giành phần hơn với chị. Việt rất thích đi câu cá, bắn chim, và đến khi đi bộ đội vẫn còn đem theo cả cái súng cao su ở trong túi. Mọi công việc trong nhà, Việt đều phó thác cho chị. Đêm trước ngày lên đường, Chiến lo toan thu xếp chu đáo việc nhà, từ Út em, nhà cửa, ruộng nương đến nơi gửi bàn thờ má, bàn bạc với em một cách trang nghiêm còn Việt thì vô tư “lăn kềnh ra ván cười khì khì”, vừa nghe vừa chụp một con đom đóm úp trong lòng tay rồi ngủ quên lúc nào không biết. Cách thương chị của Việt cũng rất trẻ con, “giấu chị như giấu của riêng” vì sợ mất chị trước những lới tán tỉnh đùa tếu của anh em. Việt bị thương nằm lại ở chiến trường, đến khi gặp được đồng đội thì cũng giống hệt như thằng Út em ở nhà “khóc đó rồi cười đó”,…

Tuy vẫn còn có vẻ hồn nhiên, vô tư nhưng Việt cũng thật đường hoàng, chững chạc trong tư thế của người chiến sĩ trẻ dũng cảm, kiên cường. Dòng máu nóng chảy trong người Việt là dòng máu gia truyền của những con người gan góc, không bao giờ biết sợ trước sự bạo tàn. Cho nên, còn bé tí mà Việt đã dám xông thẳng vào thằng giặc đã giết hại cha mình. Việt đã nằng nặc đòi đi tòng quân để trả thù cho ba má. Khi xông trận, Việt đã chiến đấu rất dũng cảm, đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch. Và đến khi bị trọng thương, một mình nằm giữa chiến trường, hai mắt không còn nhìn thấy gì, toàn thân đau điếng và rỏ máu, người thì khô khốc đi vì đói khát, Việt vẫn ở trong tư thế chờ tiêu diệt giặc: “Tao sẽ chờ mày. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Có thể nói, hành động giết giặc để trả thù nhà, đền nợ nước đã trở thành một trong những thước đo quan trọng nhất về phẩm cách con người các nhân vật của Nguyễn Thi.

Đọc Những đứa con trong gia đình, không ai có thể quên đoạn văn rất cảm động tả cảnh hai chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm: “Chị Chiến ra đứng giữa sân… rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”. Trong cái không khí vô cùng thiêng liêng ấy, con người ta bỗng thấy mình thành một người khác, trưởng thành và khôn lớn hơn. Một người hồn nhiên, vô tư như Việt, vào chính giờ khắc này mới thấy “thương chị lạ”, mới thấy rõ lòng mình và cảm thấy rất rõ mối thù thằng Mĩ như có hình, có khối, có trọng lượng cụ thể đang đè nặng ở trên vai. Đây là một chi tiết nghệ thuật cô đọng, dồn nén, chất chứa biết bao ý nghĩa, vừa là hành động cụ thể, vừa có yếu tố tâm linh, vừa nặng trĩu căm thù, vừa chan chứa yêu thương,…

Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến đời chị em Chiến, Việt. Sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Truyện có bút pháp nghệ thuật già dặn, điêu luyện được thể hiện qua giọng trần thuật, qua hồi tưởng của nhân vật, miêu tả tâm lí và tính cách sắc sảo, ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

7. Mẫu tham khảo số 7 tác phẩm Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi là một nhà văn sinh ra ở miền Bắc nhưng các sáng tác của ông lại gắn liền với những phong trào kháng chiến Nam Bộ. Tác phẩm của ông bước ra từ hiện thực nóng bỏng, khắc nghiệt qua ngòi bút phân tích tâm lí, tính cách nhân vật sắc sảo; qua hệ thống ngôn ngữ phong phú, góc cạnh nhưng cũng không kém chất đằm thắm, trữ tình. Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông khi viết về những ngày tháng chiến đấu đau thương, những con căm thù giặc sâu sắc và lòng yêu nước thiết tha, mãnh liệt.

Truyện “Những đứa con trong gia đình” được viết năm 1966 khi Nguyễn Thi đang tham gia công tác tại Tạp chí Văn Nghệ quân giải phóng, kể về truyền thống yêu nước, thủy chung với cách mạng của một gia đình nông dân Nam Bộ. Nhan đề đã toát lên nội dung tinh thần của tác phẩm. Đó mối quan hệ giữa riêng với chung, nhà với nước, giữa tình cảm gia đình, với tình yêu nước, yêu cách mạng. Chính sự kết hợp giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của mỗi con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc. Tác phẩm xoay quanh nhân vật Việt – một chiến sĩ Giải phóng quân xuất thân từ truyền thống cách mạng và những ngày tháng tham gia chiến đấu hào hùng. Trong một trận chiến đấu ác liệt tại một cánh rừng cao su, Việt bị thương nặng và lạc mất đồng đội. Ngất đi tỉnh lại nhiều lần, hồi ức đưa Việt về với kí ức gia đình, về với hình ảnh của má, của chị Chiến, của chú Năm…Sau đó, Việt được đưa về bệnh viện và bình phục. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến để kể về những chiến công của mình. Việt định viết nhưng nghĩ thành tích của mình chưa thực sự xứng đáng…

Chị em Việt và Chiến là hai nhân vật trọng tâm của tác phẩm. Ở họ, vừa có sự gặp gỡ và sự khác nhau trong tính cách. Ở nét chung ta thấy, Việt và Chiến cùng lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống cách mạng, cùng được nuôi dưỡng, hun đút dòng máu anh hùng chiến đấu gan góc, oai hùng. Những người ở thế hệ trước như ông Nội, chú Năm, ba má Việt, chị Hai của Việt đều là những người cán bộ cách mạng kiên trung với lòng căm thù giặc sâu sắc và tình yêu quê hương xứ sở thấm vào trong từng mạch máu, con tim. Nếu nói gia đình của chị em Việt như một dòng sông thì Việt và Chiến như là khúc sông sau của đại gia đình ấy. Tình cảm gia đình và tình yêu nước, truyền thống gia đình và truyền thống cách mạng gắn bó, hòa hợp với nhau để cùng chảy thành một dòng. Hai chị em còn có chung mối thù sâu sắc với bọn Mỹ – Ngụy. Gia đình họ chính là những chứng nhân lịch sử điển hình nhất cho những mất mát đau thương trong ngày tháng bạo tàn. Chiến tranh đã tước đoạt hạnh phúc, đã cướp đi mạng sống của những người mà họ thương yêu nhất. Chiến tranh đã vùi ngày tháng vào sự mất mát và tất cả những gì còn lại chỉ là ám ảnh, làm bạo tàn. Ông nội hi sinh trong đấu tranh. Ba Việt bị giặt chặt đầu dã man. Má Việt cũng vùi thây dưới bom đạn của lũ ác ôn. Chính vì vậy, từ nhỏ cho đến lớn, hai chị em đều ấp ủ có thể đi đánh giặc để trả thù cho ba má, đều giành nhau ghi danh tòng quân: “Nó làm em tôi mà cái gì nó cũng giành”. Một nét điểm chung khác giữa Chiến và Việt đó là sự thơ ngây, trẻ con của hai chị em. Dù căm thù giặc đến tận xương tận tủy: “Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị” nhưng chị em vẫn giành nhau bắt ếch nhiều hay ít, giành nhau thành tích bắn tàu chiến của giặc và giành nhau cả việc ghi danh đi tòng quân. Bên cạnh những điểm giống nhau đó, Chiến và Việt mỗi người lại mang trong mình nét đẹp riêng. Chị Chiến chính là đại diện cho hình ảnh của má. Chị vừa là một cô gái đảm đang, tháo vát, mạnh mẽ với dáng vóc chắc nịch, với thân người cao to, làn da sạm nắng… nhưng lại vô cùng nữ tính khi đi đánh giặc mà lại mang theo chiếc gương nhỏ để dành soi mình. Cái đêm sắp xa nhà đi bộ đội, Việt cảm thấy chị rất giống má: “Phải chị thở dài rồi kêu thằng Út dậy đi đái nữa thì giống hệt như má vậy”, “Vậy mà nói nghe in như má vậy”, “may mà chị không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi”…. Rồi từng việc từng việc trong gia đình, chị Chiến sắp xếp đảm đang y như má, đến mức cả chú Năm còn tấm tắc khen: “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước non nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây bây kì đánh giặc khôn hơn chú ngày trước.” Khác với sự trưởng thành của chị Chiến, trong Việt vẫn còn những phẩm chất hồn nhiên của trẻ thơ. Chẳng hạn, đi đánh giặc lạc giữa từng sâu và đêm tối, hơn nữa lại bị thương nặng, tuy nhiên Việt chỉ sợ ma chứ không sợ chết. Việc nhà việc cửa Việt mặc cho chị Chiến định liệu cả, vừa nghe vừa thản nhiên “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay”. Khắc họa nhân vật Việt, Nguyễn Thi đặc biệt chú ý đến phẩm chất của người anh hùng. Có thể nói, Việt là đại diện tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Sự dũng cảm, gan góc được tái hiện trong từng ý nghĩ, từng chi tiết như: “Tao sẽ chờ mày…. Cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày. Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao mày là thằng chạy”.

Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” còn là khúc ca hào hùng về truyền thống anh hùng cách mạng, về sự hòa hợp giữa gia đình và dân tộc, giữa cá nhân và cộng đồng trong những ngày tháng kháng chiến chống Mỹ đầy máu và nước mắt. Qua đó, có thể thấy được chiến thắng của dân tộc chính là sự hi sinh của mỗi cá nhân, là sự kết tinh từ lòng yêu nước cao độ và lòng căm thù giặc sâu sắc, là thành tựu của những quyết tâm không ngừng nghỉ. Thế hệ nhà Chiến và Việt được ví như một khúc sông mà từ thượng nguồn đến hạ nguồn đều mang trong mình dòng chảy lí tưởng cách mạng mãnh liệt. Nguyễn Thi đã làm toát lên khuynh hướng sử thi của tác phẩm trên các phương diện: chủ đề, nhân vật, giọng điệu. Trước là ở tình cảm gia đình sâu đậm, sau là tinh thần khát khao cầm súng chiến đấu của những người con đất Nam Bộ. Hình ảnh đọng lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc chính là lúc Việt cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má sang gửi chú Năm và quyển sổ gia đình. Từ đó cho thấy Việt cũng như chị gái của mình đã ý thức rất rõ về trách nhiệm đối với gia đình, quê hương, tấm lòng yêu nước, sự căm thù quân giặc bởi những tội ác không thể dung tha, sự quyết tâm trả thù cho gia đình, quê hương. Yêu thương, căm thù, mất mát, đấu tranh quyết liệt… là tất cả những cung bậc được diễn tả đủ đầy trong tác phẩm.

Về nghệ thuật, Nguyễn Thi đã để lại những dấu ấn nhất định trên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Thi đã từng viết: “Trước khi trở thành nhà văn, tôi đã là người lính, nếu gặp lúc gay go tôi có thể cho cây bút vào túi áo, tay cầm súng và bóp cò. Tôi cần cái không khí của chiến dịch, những cái mà mắt tôi nhìn được, tai tôi nghe được. Trước sự kiện lịch sử trọng đại như thế này, nhà văn không thể đứng ngoài mà ngó…” Chính vì vậy, ta thấy được hơi thở ấm nóng của thời đại qua từng câu, từng chữ. Nghệ thuật dựng chân dung nhân vật độc đáo. Sự thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, yêu quê hương, gia đình, thủy chung đến với cách mạng, ngùn ngụt ngọn lửa căm thù giặc… là những nét nổi bật của người chiến sĩ cách mạng. Sự kết hợp thành công giữa ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ và ngôn ngữ trần thuật hiện đại, Nguyễn Thi đã xây dựng nên những chị “Út Tịch” trong chính sáng tác của mình. Đó là sự gan góc, là bản lĩnh, là sức mạnh không thể chuyển dời. Cách trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt, khi anh bị thương trong trận chiến, nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, trong tư thế nửa tỉnh nửa mê đã tạo nên sự hấp dẫn và chân thật trong cách kể, trong cảm xúc. Nhà văn có dịp đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, vào những kí ức riêng tư không phải tuân theo một trình tự sắp xếp gượng ép nào. Những đoạn đối thoại và độc thoại hấp dẫn, cảm động bởi những suy nghĩ, tình cảm gia đình, tình cảm quê hương chân thành, da diết.

Tóm lại, qua tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” , chúng ta có một cái nhìn sâu rộng hơn về ngày tháng máu lửa đã qua, về sự hi sinh để đánh đổi ngày dân tộc được nở hoa độc lập, kết trái tự do. Và từng chi tiết trong truyện sẽ từ trang sách bước vào kí ức của người đọc, đó là câu hò tha thiết của chú Năm, là tiếng chân “bịch bịch” của chị Chiến, là quyển sổ gia đình ghi lại dòng sông cách mạng… Qua đó, một chân lý muôn đời đã được nêu cao: chính sự kết hợp giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

8. Bài văn tham khảo số 8 Những đứa con trong gia đình phân tích

Nguyễn Thi – một con người tài hoa, sáng tác trên nhiều thể loại thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết,… Ngòi bút của tập trung chủ yếu vào những người dân Nam Bộ yêu nước mãnh liệt, có lòng căm thù giặc sâu sắc và có tinh thần chiến đấu kiên cường. Những đứa con trong gia đình có thể coi là kết tinh phong cách nghệ thuật của ông. Tác phẩm hoàn thành vào tháng 2 năm 1966 – giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mĩ đang rất căng thẳng, ác liệt.

Tác phẩm được xây dựng dựa trên tình huống Việt – một chiến sĩ giải phóng quân bị thương, lạc đồng đội giữa cánh rừng cao su. Đây là trận đánh đầu tiên của Việt nhưng đã lập được chiến công vang dội: dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép và sáu tên Mĩ lẻ. Anh chịu tổn thất nặng nề, ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại Việt lại có dòng hồi ức miên man về gia đình, về những kỉ niệm ngày xưa. Câu chuyện được kể lại là những dòng hồi ức đứt nối giữa những lần chợt ngất đi tỉnh lại của Việt. Xây dựng tình huống này, tác giả nhằm khẳng định tình cảm lớn lao bao giờ cũng bắt nguồn từ những gì gần gũi, bình dị nhất.

Việt bị thương trong một lần đánh giặc, cậu bị lạc đồng đội, bị ngất đi và tỉnh lại nhiều lần, trong những lần ấy, Việt nhớ về những kỉ niềm khi còn ở nhà, nhớ về cuốn sổ gia đình và những kỉ niệm trẻ thơ. Một cách rất tự nhiên tác giả đã trao ngòi bút cho nhân vật từ trần thuật về cuộc đời mình, khiến cho câu chuyện chân thực và giàu cảm xúc hơn.

Việt sinh ra trong một gia đình nông dân Nam Bộ rạng rỡ những chiến công và có nhiều đau thương mất mát. Cha của Việt bị chặt đầu, chỉ có ba mẹ con nhưng dám dắt díu nhau đi đòi lại đầu chồng, không hề run sợ trước những lời hăm dọa của kẻ thù. Không chỉ vậy, má của Việt cùng ông nội và thím Năm đều chết dưới sự tàn sát, bom đạn của kẻ thù. Gia đình anh hùng mà cũng đầy đau thương, mất mát. Đây đồng thời cũng là hoàn cảnh chung của những gia đình Nam Bộ lúc bấy giờ.

Việt là một người giàu tình cảm, luôn dành tình yêu thương sâu nặng nhất cho gia đình. Giữa lúc nằm một mình ở rừng, cái chết đang cận kề, nhiều lần ngất đi tỉnh lại, điều cậu nghĩ tới đầu tiên chính là gia đình, là má của mình, và trong những lần ấy cậu còn tưởng má mình đang ở quanh đâu đây. Và ngay cả đêm trước khi lên đường ra chiến trường, nhìn vào hình ảnh chị Chiến cậu cũng liên tưởng đến má. Dù má đã mất, nhưng tình yêu thường dành cho má vẫn không bao giờ vơi cạn trong lòng Việt. Không chỉ dành tình yêu thương cho mẹ, mà Việt còn rất thương chị Chiến. Mẹ mất, chỉ có hai chị em nương tựa vào nhau, trong ngày khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm, nghe thấy những bước chân bình bịch của chị, cậu thương chị đến lạ, có lẽ đây là lần đầu tiên trong suốt bao năm cùng chung sống dưới một mái nhà, tình cảm ấy được biểu lộ một cách rõ ràng đến vậy. Và một phản ứng vừa ngây ngô trẻ con mà cũng vô cùng đáng yêu của Việt ấy là khi ra chiến trường cậu giấu nhẹm chị mình, không bao giờ kể về chị với đồng đội, vì cậu sợ lỡ kể ra người ta sẽ lấy mất người chị thân yên của cậu, cậu giữ lấy chị làm của riêng. Hành động, suy nghĩ tuy trẻ con nhưng lại cho thấy tình yêu thương sâu sắc Việt dành cho chị.

Không chỉ vậy, Việt còn có lòng căm thù giặc sâu sắc và luôn nung nấu quyết tâm trả thù. Gia đình Việt đã có biết bao người ngã xuống dưới sự tàn sát ghê rợn của kẻ thù: cha, mẹ, họ hàng, … bởi vậy lòng căm thù giặc càng trở nên mạnh mẽ, mãnh liệt hơn. Ngay sau cái chết của má, ý nghĩ ấy thôi thúc câu mãnh liệt hơn bao giờ hết, Việt tranh giành quyết liệt với chị Chiến để lên đường ra chiến trường, dù cậu còn nhỏ, vẫn chưa đủ tuổi nhưng ý chí, lòng quyết tâm vẫn không hề bị lay chuyển. Khi khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm , suy nghĩ trong tâm trí hai chị em: “…khi nào nước nhà độc lập chúng con lại đưa má về”. Lòng căm thù giặc chính là động lực mạnh mẽ nhất để Việt cũng như Chiến nêu cao quyết tâm đánh giặc, trả thù cho gia đình.

Ngoài mặt trận Việt là một người chiến sĩ hết sức gan góc, dũng cảm và vô cùng kiên cường. Mặc dù mới vào trận lần đầu tiên song với lòng dũng cảm, ý chí giết giặc cậu đã tiêu diệt được một xe bọc thép của kẻ thù và sáu tên giặc. Ngày cả khi bị thương thì tinh thần chiến đấu của Việt vẫn không hề giảm sút. Mặc dù bị lạc đồng đội, mắt không còn nhìn rõ, chín đầu ngón tay gần như bị tê liệt, nhưng Việt không hề nao núng sợ hãi, anh vẫn lắng nghe từng chuyển động để phán đoán hành động của kẻ thù và ngón tay duy nhất còn lại vẫn nắm chặt vào cò sung, sẵn sang chiến đấu. Việt luôn tâm niệm: “Bầu trời này có mày, mặt đất này có mày nhưng cánh rừng này có tao nếu mày giết tao thì tao sẽ giết mày”. Chỉ với một câu nói ấy thôi nhưng đã chủ thấy sự hiên ngang, chủ động của Việt.

Dù trên chiến trường hết sức gan dạ, dũng cảm, nhưng trong cuộc sống đời thường cậu vẫn mang những nét hết sức dễ thương, hồn nhiên, vô tư của một đứa trẻ. Khi còn ở nhà, Việt luôn tranh giành, hay giận dỗi với chị Chiến. Ngay cả đêm trước khi lên chiến trường cậu cũng không them để tâm đến những gì chị nói và còn ngủ quên. Không chỉ vậy, tính cách trẻ con của Việt còn được biểu lộ ngay cả khi ở chiến trường cậu mang theo một chiếc ná thun và không bao giờ kể về chị mình với đồng đội. Dù gan góc, dũng cảm là thế, nhưng cậu có một nỗi sợ hết sức trẻ con ấy là sợ ma.

Bên cạnh nhân vật Việt, cũng không thể không nhắc đến chị Chiến. Chị Chiến là người chan chứa tình cảm cho gia đình, đầu tiên là tình yêu thương với má. Chị giống má như tạc, có lẽ là do ngưỡng mộ má, tự tạc mình theo má. Đồng thời chị cũng rất yêu thương Việt, chị luôn nhường nhịn em, duy chỉ có việc ra chiến trường đầy nguy hiểm là chị tranh giành với việt.

Trong chị Chiến cũng có lòng căm thù giặc sâu sắc. Dù là một người con gái bé nhỏ, nhưng chị sẵn sang xung phong đi bộ đội. Khi khiêng bàn thờ ba má: “Chúng con đi đánh giặc trả thù ho ba má…”, “mối thù thằng Mĩ có thể rờ thấy được”. Đêm trước ngày ra chiến trường: dặn em và cũng là dặn chính mình phải quyết tâm trả thù giặc bằng xong với về. Tự hứa: “Đã là thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Bằng những lời nói thật giản dị nhưng chất chứa lòng căm thù giặc sâu sắc của chị. Trong cuộc sống hàng ngày chị là một người con gái đảm đang, tháo vát. Trước khi đi, chị thu xếp việc nhà chu toàn: viết thư cho chị Hai, cho xã mượn nhà làm trường học;…

Xây dựng hai nhân vật Việt và Chiến, tác giả đã cho thấy lòng căm thù giặc, cùng ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước, lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng của những người con trong các gia đình nông dân Nam Bộ. Đồng thời cũng khẳng định sự gắn bó, hòa quyện giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên chiến thắng vẻ vang.

Vẻ đẹp của hai nhân vật chính là bắt nguồn từ thế hệ trước. Gia đình Chiến có lòng dũng cảm và lòng căm thù giặc sâu sắc. Bên cạnh đó mỗi thế hệ lại mang những nét đẹp riêng, chú Năm luôn có ý thức gánh vác việc gia đình, tạo cơ hội cho các thế hệ sau được ra chiến trường trực tiếp cầm súng chiến đấu, lập chiến công trả thù. Má Tư Năng, chồng mất, can trường bất khuất, một mình nuôi con. Thế hệ sau có Việt và Chiến với lòng căm thù giặc sâu sắc, khúc sông sau chảy mạnh hơn, đi xa hơn, đã hòa vào biển lớn. Truyền thống gia đình đã cho thấy sự gắn bó, hòa quyện giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên chiến thắng vẻ vang.

Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm là một nét đặc sắc của tác phẩm. Tác phẩm được trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện giấu mình, tạo nên tính trung thực, khách quan. Bên cạnh đó còn còn phải kể đến ngôn ngữ giản dị, đậm chất Nam Bộ đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm.

Tác phẩm đã xây dựng hàng loạt chân dung anh hùng, mang trong mình lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ không còn là cá nhân anh hùng đơn lẻ mà là tập thể, gia đình anh hùng. Qua đó nhà văn cũng khẳng định sự gắn bó, hòa quyện giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên chiến thắng vẻ vang.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

9. Bài tham khảo số 9 phân tích Những đứa con trong gia đình

Nguyễn Thi là nhà văn quân đội đã anh dũng hi sinh tại mặt trận Sài Gòn năm 1968. “Truyện và kí” xuất bản 1978 là tuyển tập của Nguyễn Thi, trong đó có truyện “Những đứa con trong gia đình” được ông viết vào tháng 2 năm 1966. Bên cạnh những nhân vật như má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, còn có nhân vật Việt được tác giả xây dựng khá thành công, tiêu biểu cho một đứa con tốt đẹp của gia đình, một chiến sĩ quả cảm, anh hùng của quê hương. Tác phẩm này đã cho thấy một số nét đặc sắc về nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thi.

Việt là một chàng trai có tâm hồn trong sáng và hồn nhiên yêu đời. Hai gò má thì “căng mướt” như da trái vú sữa. Nụ cười thì “lỏn lẻn”. Việt là em ruột của chị Chiến, là con trai thứ hai của má Tư Năng. Chiếc ná thun bằng nạng ổi “láng o” đã gắn bó với tâm hồn Việt. Thuở nhỏ, Việt để đầu trần, lội tắt trong vườn, xách ná thun đi bắn chim. Lớn lên đi làm, cái ná thun lại giắt gọn sau lưng quần. Lúc trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân, cầm súng tự động, đánh Mĩ bằng lô, thì cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo của Việt. Chiếc ná thun là kỉ vật tuổi thơ, là một phần đời thân thiết của chú. Việt đã dùng nó đi gác, bắn “chóc… bịch!” báo tin cho các cô, các chú cán bộ ở trong nhà xuống hầm bí mật khi bọn lính giặc kéo tới.

Việt là một chú bé “hiếu thắng” hay tranh giành với chị Chiến. Từ chuyện bắt ếch, chuyện bắn tàu chiến Mĩ trên sông Định Thủy đến chuyện ghi tên tòng quân, Việt đều tranh giành với chị. Vốn được má cưng chiều, biết chị hay nhường nhịn, nên chú mới hay tranh giành như thế. Đó là một nét tâm lí dễ thương của tuổi thơ hồn nhiên.

Việt quý mến tin cậy đồng đội biết bao, nhất là anh Tánh, anh Công… nhưng Việt không cho ai biết là chú có chị gái tên là Quyết Chiến, tiểu đội trưởng của bộ đội nữ địa phương quân Bến Tre. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy, vì cậu ta “sợ mất chị mà”. Khi Việt đã có hai tuổi quân, đã từng trải qua những trận đánh dữ dội, những cuộc đọ lê ác liệt với giặc Mĩ, chú ta không sợ giặc, không sợ chết mà lại sợ ma. Bị lạc đơn vị, bị thương nằm một mình giữa chiến trường, chú “nằm thở dốc” khi chợt nhớ tới con ma cụt đầu, thằng chỏng thụt lưỡi mà các chị vẫn kể hồi ở nhà…

Cái đêm trước lúc hai chị em ra trận, chị Chiến bàn với cậu em trai thu xếp việc gia đình. Việt phó thác hết mọi chuyện cho chị gái, chỉ ậm ừ cho xong chuyên, “rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Thật là vô tư và hồn nhiên.

Việt là một con người có một trái tim giàu tình yêu thương. Bị thương nặng, nằm giữa chiến trường, Việt ngất đi mê man rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê đến ba bốn lần. Cậu nhớ má, nhớ câu chuyện của má thời con gái, nhớ đôi mắt “sắc ánh lên” của má khi má đứng trước mũi súng quân giặc, nhớ kỉ niệm đau thương mấy chị em theo má lên tới quận đòi “trả đầu ba”. Việt nhớ “cái gáy đo đỏ và đôi vai lực lưỡng” của má lúc chèo xuồng, nhớ tiếng gọi đầy yêu thương của má: “Việt à, ra phụ má nghe con!”. Có nhiều đêm má đi làm thuê đến canh hai mới về, Việt tỉnh giấc “ngửi thấy mùi gạo và mùi mồ hôi của má ngay trên đầu mình”.

Sau ngày má mất, nhất là đêm cuối cùng trước lúc đi bộ đội, đom đóm từ ngoài rặng bần kéo vào đầy nhà, Việt cảm thấy “má cũng đã về đâu đây”… Việt cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má gửi sang nhà chú Năm, Việt đã hứa với linh hồn má: “Chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, con lại đưa má về”. Nghe tiếng chân bình bịch của chị Chiến, Việt “thấy thương chị lạ”. Lần đầu tiên, Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Việt càng yêu thương gia đình sâu nặng bao nhiêu thì chú càng căm thù quân giặc bấy nhiêu, đúng là “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương” !

Thương má, thương chị, Việt nhớ và thương chú Năm vô cùng. Việt nhớ cuốn sổ của chú Năm ghi mọi chuyện “thỏn mỏn” của gia đình, nhớ chú Năm hay bênh Việt, nhớ giọng hò tức và đục như gà gáy của chú. Ọuên sao được câu hò của chú khi chị em Việt khiêng bàn thờ má đi gửi, tiếng hò “cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi ngắt lại như một lời thề dữ dội”.

Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân rất quả cảm, anh hùng. Chú ra trận mang theo sức mạnh truyền thống cách mạng của gia đình, sức mạnh của tình thương ba má…, sức mạnh của lòng căm thù quân xâm lược giày xéo quê hương.

Lúc còn sống, má đã từng nói với Việt: “Để má ráng nuôi bay lớn, coi bây có làm được gì cho cha mày vui không?”. Ý nghĩ “đi trả thù” thôi thúc Việt suốt đêm ngày. Chưa đủ 18 tuổi vẫn xung phong ghi tên tòng quân. Mới được 2 tuổi quân, Việt đã lập chiến công dùng thủ pháo tiêu diệt một xe bọc thép của giặc Mĩ. Bị trọng thương, khắp người “đau điếng, rỉ máu”, đôi mắt sưng lên không nhìn thấy gì hết, mười ngón tay chỉ còn một ngón cái cử động được. Bị lạc đơn vị, đói, khát đã hai ba ngày đêm. Thế nhưng, ba viên đạn còn dưới hộp, một viên đã lên nòng, Việt vẫn day họng súng về phía giặc khi nghe hơi xe bọc thép chạy mỗi lúc một gần. Việt quyết đánh đến viên đạn cuối cùng, đánh đến giọt máu cuối cùng: “Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Việt không thấy đơn độc, anh tin rằng: “Nghe tiếng súng nổ, các anh tao sẽ chạy tới đâm mày!”.

Gặp lại anh Tánh và đồng đội sau ba ngày đêm bị trọng thương, bị lạc đơn vị một mình nằm giữa chiến trường, tuy đã bị kiệt sức, nhưng Việt vẫn giữ vững tư thế sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với quân thù, “ngón tay của cậu vẫn còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên nòng và chung quanh cậu, dấu xe bọc thép hằn ngang dọc”. Câu hỏi đầu tiên của Việt là câu hỏi về tin chiến sự. Và Việt đã cười khi nghe anh Tánh báo tin “diệt hết rồi, trận đánh xong rồi, xong rồi…”. Tư thế ấy, nụ cười ấy là những biểu hiện tuyệt đẹp tính cách anh hùng của đứa con trai má Tư Năng.

Cũng như chị Chiến, Việt là một đứa con đã nêu cao truyền thống gia đình, đi tiếp con đường cách mạng của ba má, “một lòng theo Đảng”, hăm hở ra trận với quyết tâm “đi trả thù mà không sợ dài lâu” (Nguyễn Khoa Điềm). Chú Năm đã tự hào nói: “Việt là một thằng nhỏ gan”. Việt đã trở thành câu hò, là hiện thân câu hò của chú Năm: “theo từng câu hò, khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười”.

Việt là niềm tự hào và hi vọng của gia đình, là hình bóng thân thiết của quê hương. Nhân vật Việt tiêu biểu cho tình yêu gia đình, quê hương đất nước, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí phách anh hùng của những chàng trai vùng đồng bằng sông Cửu Long thời đánh Mĩ.

Nhân vật Việt là một thành công của Nguyễn Thi về nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả tính cách anh hùng. Truyện “Những đứa con trong gia đình” đã thể hiện tập trung nhất nét đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Thi về kể chuyện, về xây dựng nhân vật, về sử dụng ngôn ngữ.

Truyện được kể theo hồi ức của Việt. Mở đầu truyện, Việt nằm trong bệnh viện dã chiến. Tiếp theo nói về trận đánh lớn giữa đồn điền cao su. Việt lập chiến công to và bị thương nặng, bị lạc đơn vị. Mê rồi tỉnh, tỉnh rồi mê… Việt nhớ lại tuổi thơ, nhớ lại những kỉ niệm về má, về chú, về chị, về đêm ghi tên tòng quân, chuyện gửi bàn thờ má… Cấu trúc truyện rất hiện đại, tạo nên sự đồng hiện về thời gian, không gian (hiện tại, quá khứ, hôm nay và hôm qua, bệnh viện, chiến trường và quê hương), đồng hiện về sự việc, nhân vật, tâm trạng. Mọi tình tiết đan xen, thế mà không rối vẫn hấp dẫn, mạch lạc, chân thực, đó là tài kể chuyện của Nguyễn Thi.

Đặc sắc thứ hai về nghệ thuật là xây dựng tính cách nhân vật. Má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, Việt đều có những nét chung như hồn nhiên, yêu đời, bộc trực, căm thù ngùn ngụt, gan góc, dũng mãnh, yêu nước, yêu gia đình quê hương, sẵn sàng hi sinh vì đại nghĩa,… Nhưng mỗi nhân vật lại có những nét riêng, cá tính riêng. Cuốn sổ tay và giọng hò của chú Năm. Cái nhìn “sắc ánh lên” và câu trả lời: “Vợ Tư Năng đây!”, với cái tư thế hiên ngang của má Việt đứng trước mũi súng giặc. Cái bịt miệng cười, cử chỉ hứ một cái “cóc”, đôi chân đi “bịch bịch” của Chiến. Cái ná thun, cái nụ cười “lỏn lẻn” của Việt,… Đó là những chi tiết nghệ thuật rất cụ thể đã cá thể hóa nhân vật khi khắc họa tính cách nhân vật.

Một thành công nữa của Nguyễn Thi là đã vận dụng sáng tạo ngôn ngữ bà con nông dân Nam Bộ trong miêu tả cảnh vật và kể chuyện. Những từ ngữ: trọng trọng, tía, việc thỏn mỏn, kiếng, ná thun, tèm lem, rê thuốc… đã tạo nên màu sắc và không khí Nam Bộ, đem đến nhiều nhã thú văn chương cho độc giả trên miền Bắc. Ngôn ngữ nhân vật mộc mạc đậm đà, thể hiện cá tính và tâm lí nhân vật một cách rõ nét. Đây là một câu nói của chú Năm với anh cán bộ huyện đội trong đêm hội tòng quân: “Tôi xin có một câu nói với đồng chí Huyện đội. Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cho cả hai. Việc lớn ta theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

Tóm lại, đọc truyện “Những đứa con trong gia đình” và thông qua phân tích nhân vật Việt, một chiến sĩ anh hùng để lại cho ta nhiều yêu mến, ta thấy Nguyễn Thi là một cây bút giàu bản sắc. Ông xứng đáng được tôn vinh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ thời đánh Mĩ.

10. Tham khảo số 10 phân tích bài Những đứa con trong gia đình

Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của nền văn học chống Mĩ. Tác phẩm kể về một gia đình có truyền thống yêu nước, trong đó nhân vật Việt được coi là độc đáo nhất, Việt không chỉ là một người con trong gia đình mà còn là hình ảnh chung cho thanh niên miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Cái độc đáo trong bút pháp của nhà văn Nguyễn Thi khi miêu tả nhân vật Việt là ở chỗ kết hợp được những cái bình thường với cái phi thường trong cùng một con người. Nhân vật Việt được khắc họa ở những khía cạnh rất con người nhưng đồng thời cũng tập trung được những phẩm chất kiên cường, mạnh mẽ phi thường của một người chiến sĩ giải phóng quân. Nhờ vậy mà nhìn về nhân vật Việt độc giả luôn cảm nhận được những nét gần gũi, chân thực như chàng trai nhà bên vừa cảm phục nghị lực, tinh thần chiến đấu, dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh chung của đất nước.

Nhân vật Việt trước hết hiện lên với tính cách hồn nhiên, trẻ con. Thực chất Việt chỉ là một chàng trai mới lớn nên vẫn còn những nét hồn nhiên, hành động nghịch ngợm đúng với lứa tuổi của mình. Sự trẻ con của Việt thể hiện qua hành động tranh giành với chị Chiến từ những con ếch bắt được đến việc đi bộ đội trả thù cho ba má, cho bà con hàng xóm.

Ở đơn vị của Việt, những người anh em, đồng đội tuy vô cùng thân thiết, có thể sẵn sàng hi sinh vì nhau nhưng Việt cũng chỉ kể về đứa em út ở nhà và chị cả đã lấy chồng mà tuyệt nhiên giấu kín thông tin về chị Chiến vì sợ mất chị. Hành động ngỡ như trẻ con này nhưng lại thể hiện được sự yêu thương, gắn bó của cậu em trai đối với người chị mà mình luôn yêu quý.

Tính cách hồn nhiên của Việt còn thể hiện trong chi tiết Việt bị thương nằm lại một mình trong rừng, nghe tiếng động Việt đã nghĩ đến những con ma trọc đầu mà mình đã từng được nghe kể. Tuy bị thương đến toàn thân đau nhức, nhưng chỉ cần một ngón tay có thể cử động được thì ngón tay ấy luôn trên cò súng để sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù. Thế nhưng chỉ một suy nghĩ về những con ma kinh dị nào đó lại có thể làm cho Việt sợ đến run người.

Việt là một con người giàu tình cảm, Việt luôn nhớ về mẹ, dù mẹ còn hay mất Việt vẫn luôn mường tượng ra hình dáng mẹ, mùi mồ hôi của mẹ. Đối với chị Chiến, tuy không một lần trực tiếp nói thương chị nhưng những suy nghĩ của Việt lại thể hiện được tình thương sâu sắc hơn cả của cậu em nhỏ có phần trẻ con này. Khi cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má đi gửi, lần đầu tiên Việt thấy thương chị đến thế.

Việt là người có ý thức trách nhiệm sâu sắc với gia đình, đất nước. Khi con nhỏ theo mẹ đi đòi đầu ba, lòng căm hận với thằng Mĩ đã khiến Việt lao vào mà đấm đá. Đến khi lớn lên rồi ý thức về mối thù gia đình, trách nhiệm với đất nước càng rõ ràng hơn nên dù chưa đủ tuổi nhưng Việt vẫn đăng kí đi lính.

Việt là người chiến sĩ giải phóng quân thực thụ, sự trưởng thành rõ rệt của Việt cả về nhận thức và tình cảm cũng là sự trưởng thành của người chiến sĩ giải phóng qua từng giai đoạn. Sự kiên trung, bất khuất của Việt thể hiện qua chi tiết bị thương trong rừng, thông qua hành động giữ chặt cò súng hay trong chính suy nghĩ của Việt: “Trong rừng này chỉ có tao với mày, mày giết tao được thì tao cũng giết mày được, mày chỉ giỏi giết bố mẹ tao, còn với tao mày chỉ là thằng chạy.

Bằng sự tinh tế và tài năng của mình, Nguyễn Thi đã xây dựng lên nhân vật Việt thật chân thực, sắc nét, đó là người con của gia đình, người chiến sĩ quả cảm của đất nước. Qua nhân vật Việt, tác giả Nguyễn Thi đã khơi dậy được tinh thần, ý thức đấu tranh cho bao thế hệ trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc.

Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Bài Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 bài phân tích bài Những đứa con trong gia đình chi tiết nhất. đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.