Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt chi tiết nhất

257
Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt chi tiết nhất
Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt chi tiết nhất
4.9/5 - (14 votes)

Tổng hợp các bài mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong bài Vợ nhặt của tác giả Kim Lân một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị

Số 1: Dàn ý phân tích nhân vật Thị

I. Mở bài

Giới thiệu về tác phẩm và dẫn dắt các nhân vật trong truyện

II. Thân bài

– Lai lịch – xuất thân của Thị: 5 không: không tên (thị, ả, người đàn bà), không nhà, không gia đình, không quê hương, không của cải (nghèo đói): ngồi vêu ở nhà kho nhặt hạt rơi, hạt vãi hay ai có việc gì thì gọi đến làm.

– Ngoại hình: Gầy yếu, xanh xao “trên khuôn lưỡi cày mặt xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, quần áo thì “rách tả tơi như tổ đĩa”

– Phẩm chất, tính cách: hai mặt đối lập.

Trơ trẽn, thiếu lòng tự trọng: Trong lần đầu tiên gặp Tràng, nghe câu hò vu vơ của Tràng “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì” thị cong cớn, vùng dậy, chạy theo Tràng. Lần thứ hai gặp Tràng, thị sưng sỉa. Được Tràng gợi ý cho ăn, thị không hề ý tứ, ngượng ngùng mà “đôi mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên rồi ngồi xà xuống ăn thật”.

Khao khát hạnh phúc – mái ấm gia đình:

  • Trên đường về nhà, trước sự trêu ghẹo của mọi người, thị e thẹn, rón rén. Khi về tới nhà, thị ngại ngùng ngồi vào mép giường, tay vân vê tờ áo đã rách bợt và chào hỏi mẹ Tràng lễ phép.
  • Sáng hôm sau, thị cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa và trong mắt Tràng: nom thị chẳng còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy hôm Tràng gặp ngoài tỉnh mà rõ là một người đàn bà hiền lành đúng mực. Thị biết cảm thông chia sẻ cùng gia đình: trong bữa ăn ngày đói (ăn chè khoáng) và khi nghe tiếng trống thúc thuế.

– Đánh giá chung: Thị là nạn nhân của nạn đói, vì nạn đói đánh mất hết ý thức, nhân phẩm của một người phụ nữ. Nhưng khi được sống trong sự che chở của gia đình, những phẩm chất tiêu biểu của một người phụ nữ Việt được bộc lộ qua nhân vật này: đảm đang, cảm thông, chia sẻ,…

III. Kết bài

Nhà văn Kim Lân khi khắc họa nhân vật, chủ yếu miêu tả nhân vật không chú trọng khai thác tâm lý nhân vật mà khai thác nhân vật qua những cử chỉ, hành động. Nói một cách khác, qua cử chỉ, hành động tính cách, phẩm chất của nhân vật được bộc lộ.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 2: Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt dàn ý

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Kim Lân.

– Giới thiệu chủ đề tác phẩm “Vợ nhặt”.

– Giới thiệu nhân vật người vợ nhặt: một nhân vật đáng thương nhất trong tác phẩm

II. Thân bài

– Giới thiệu khái quát:

+ Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ tác phẩm “Vợ nhặt”

+ Khái quát giá trị nội dung tác phẩm

– Bàn về nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm:

Lai lịch:

+ Không quê hương, không gia đình, nhà cửa _tha phương cầu thực.

+ Không cả tên họ. Thị là hình ảnh tiêu biểu cho những người dân đói khổ lúc đó.

Ngoại hình:

+ Quần áo rách như tổ đỉa, “gầy sọp”,

+ khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.

Hoàn cảnh:

+ Không việc làm cụ thể, cuộc sống bấp bênh, bị nạn đói dồn dập đẩy đang trên bờ vực cái chết.

+ Chị về nhà chồng trong tình cảnh thật hảm hại: theo không Tràng chỉ vì Tràng cho ăn. Đó là hành động thật liều lĩnh và trân tráo! Cái đói quay quắt đã dồn đẩy chị, làm chị đánh mất cả sĩ diện và lòng tự trọng!

+ Số phận bi thảm đáng thương. Chị là nạn nhân của nạn đói.

Phẩm chất, tính cách:

+ Trước khi về nhà làm vợ Tràng: thích đùa và biết đùa pha chút liều lĩnh bạo mồm bạo miệng, thị tỏ ra cong cớn, ăn nói chao chát, chỏng lỏn.

+ Lần gặp Tràng thứ nhất: vừa mới quen Tràng đã gọi “nhà tôi ơi”, rồi liếc mắt cười tít, chạy ra đẩy xe cho Tràng, chị táo bạo hơn các cô khác.

+ Lần gặp Tràng thứ hai: Chị xuất hiện thật rách nát, thảm hại, bị cái đói hành hạ. Thị trâng tráo chủ động gợi ý để được ăn. Và chị không ngượng ngùng ăn liền 4 bát bánh đúc “Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát đánh đúc liền”. Chằng cần biết Tràng là người thế nào đã liều lĩnh theo không Tràng về nhà làm vợ chỉ qua một câu nói đùa. Cái đói đã đẩy lùi ý thức về nhân cách, sĩ diện, đẩy thị vào bước đường cùng.

+ Khi theo về làm vợ Tràng: Thị thay đổi hẳn, vẻ đanh đá, con cớn đã biến mất (đó chỉ là vẻ bên ngoài để chống chọi với đời) con người thật của chị hoàn toàn khác. Chị biết xấu hổ khi theo không về làm vợ Tràng. Trên đường về: “Thị có vẻ rón rén, e thẹn”, trước sự bàn tán của dân xóm ngũ cư “thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước cả vào chân kia”, không còn vẻ bạo dạn đanh đá nữa

+ Khao khát hạnh phúc gia đình. Khi về đến nhà: thị buồn và thất vọng, lo lắng khi thấy gia cảnh nghèo khó của Tràng, vì khi theo anh chị muốn trốn chạy cái đói nhưng cái đói không chừa một ai “Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén tiếng thở dài … mặt bần thần” _Chị biết kìm nèn cảm xúc và trên hết là nỗi kaht1 khao cuộc sống gia đình đã giữ chân chị ở lại bên Tràng.

+ Hiền thục đảm đang là người vợ hiền dâu thảo, biết cư xử tế nhỉ, khôn khéo và nhạy bén với thời cuộc. Sáng hôm sau, thị dậy sớm dọn dẹp, quét trước sân nhà sạch sẽ… tạo ra một không khí ấm cúng, mới mẻ cho gia đình.

+ Thị nhanh chóng hòa nhập vào không khí gia đình. Thị cảm nhận được tình thương của mẹ chồng, dù nghèo nhưng hiểu và thương thị. Thị ra vẻ một cô con dâu nết na, hiền thục “Người đàn bà lằng lặng đi vào bếp”, “ rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực”.

+ Trong bữa ăn ngày đói, khi nhận bát cháo cám “hai con mát thị tối lại” nhưng vẫn “điềm nhi6en và vào miệng” vì không nỡ làm mất đi niềm vui tội nghiệp của người mẹ già khốn khổ.

  • Thị là người đã dấy lên niềm tin mới về cách mạng, tạo niềm tin hi vọng cho chồng khi kể chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không còn đóng thuế nữa và Việt Minh đi phá kho thóc Nhật chia cho người đói.
  • Nhân vật thị tiêu biểu cho những người nghèo khổ, khốn cùng bị cái đói, cái chết đe dọa, dồn đẩy đến bước đường cùng. Luôn khao khát hạnh phúc gia đình, thị xuất hiện trong tác phẩm đã đem đến làn gió tươi sáng, ấm áp cho gia đình anh Tràng và cả người dân ở xóm ngụ cư trong hoàn cảnh bi đát nhất.

Đánh giá: Nhân vật: là nhân vật thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm

* Nghệ thuật;

+ Xây dựng tình huống truyện độc đáo.

+ Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn: dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc.

+ Nhân vật được khắc họa sinh động, đối thoại hấp dẫn, thể hiện tâm lí tinh  tế.

+ Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi.

III. Kết bài

+ Khẳng định lại vai trò, giá trị nhân vật.

+ Nêu suy nghĩ riêng.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 3: Dàn ý hình tượng nhân vật Thị

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Kim Lân: là cây bút chuyên viết Truyện ngắn, ông am hiểu sâu sắc đời sống của người nông dân và thường tập trung viết về họ.
  • Vợ nhặt là một trong số những truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân của ông. Nhân vật đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm này chính là người vợ nhặt.

II. Thân bài

  1. Lai lịch
  • Không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.
  • Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt”: thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.
  1. Chân dung

– Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

– Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, Thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

– Lần thứ hai:

  • Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.
  • Khi nghe tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ cùng về”, Thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để Thị bấu víu lấy sự sống.

– Nhận xét: cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với Thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy.

  1. Phẩm chất

– Có khát vọng sống mãnh liệt:

  • Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì Thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.
  • Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, Thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

– Thị là người ý tứ và nết na:

  • Trên đường về, Thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
  • Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.
  • Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt Thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.

– Nhận xét: cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

– Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

– Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

III. Kết bài

Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, …

Tác phẩm chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: người đọc hiểu và cảm thông với cảnh ngộ thương tâm, rẻ rúng của người lao động trong nạn đói, tố cáo thực dân, phát xít, ngợi ca khát vọng sống trong cảnh cơ cực.

Số 4: Dàn ý nhân vật Thị trọng Vợ Nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu sơ qua về tác giả, tác phẩm, hình tượng đối tượng người “vợ nhặt”

II. Thân bài

* Người “vợ nhặt” là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, cập kênh

– Thị hiện ra vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của 1 con người 5 đói:

+ Lần đầu thị hiện ra là hình ảnh: ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh. Khi nghe Tràng hò 1 câu chơi cho đỡ nhọc “Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây nhưng đẩy xe bò với anh”, thị “lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng…cười tít mắt”. Thị đẩy xe với hi vọng được ăn nên cũng rất vồ vập và chẳng cần ý tứ.

+ Lần thứ 2, thị hiện ra với ngoại hình kém thu hút: Ấy là người đàn bà gầy vêu vao, “quần áo tơi tả như tổ đỉa”, “gương mặt lưỡi cày xám xịt” nổi trội với “2 con mắt trũng hoáy”. Có thể nói, cái đói đã khiến thị càng nhếch nhác, khổ thân lại càng nhếch nhác, khổ thân hơn nữa. Cái đói ko chỉ tàn hại sắc đẹp của thị nhưng còn tàn hại cả tính cách, phẩm giá. Vì đói nhưng thị trở thành “chao chát”, “chỏng lỏn”, “ngoa ngoắt, đanh đá”. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” lúc giao tiếp, trò chuyện. Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ kẽ tứ, lòng tự tôn của người con gái. Thị cứ thế nhưng đòi ăn. Được cho ăn, thị chuẩn bị “sà xuống cắm đầu ăn 1 chặp 4 bát bánh đúc liền chẳng nói chuyện gì”. Thị đã đặt sự còn đó của mình, đặt miếng ăn lên trên tư cách.

* Người “vợ nhặt” có 1 lòng ham sống mãnh liệt

– Khi anh cu Tràng hay đùa, lại đùa “có muốn theo tớ về nhà té ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về” thì người phụ nữ kia lại yên lặng (nhưng thường tâm lý yên lặng là đồng ý).

– Thị đồng ý, đồng ý nhưng chẳng phải chần chờ, chần chờ. Trong lúc ấy, Tràng là người nào, tốt xấu như thế nào, gốc gác ra sao? Thị nào hay nào biết. Chỉ mấy bát bánh đúc là thị có thể theo ngay Tràng. Phcửa ải chăng thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn ? Thị dễ ợt, nông cạn thế ư?

– Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất hành từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khát khao được sống. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được còn đó. Thị chấp thuận theo ko Tràng. Ấy là tinh thần bám lấy sự sống. Kế cận bên cái chết, người phụ nữ chẳng phải buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình.

=> Niềm sáng sủa yêu sống của thị chính là 1 phẩm giá rất đáng quý. Nói như Kim Lân: ”Trong tình cảnh cơ cực, dù kế cận bên cái chết nhưng mà những con người đấy ko nghĩ tới cái chết nhưng vẫn hướng đến sự sống, vẫn hi vọng, tin cậy ở mai sau”.

* Phía sau vẻ nhếch nhác, bẩn thỉu, người “vợ nhặt” lại là 1 người đàn bà rất ý tứ, biết điều

– Trên đường về nhà chồng tâm cảnh của thị có sự chỉnh sửa rõ nét.

+ Giả dụ anh cu Tràng phấn kích, tự đắc, cái mặt vênh lên tự mãn với mình thì người phụ nữ lại cảm thấy mắc cỡ. Trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, trêu ghẹo của người dân cư ngụ. Thị ngượng ngập, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa gương mặt”.

+ Về tới nhà chồng, trông thấy “ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén 1 tiếng thở dài”. Đây là tiếng thở dài chán ngán, tuyệt vọng nhưng mà cũng là sự chấp thuận. Ai ngờ cái phao nhưng thị vừa bám vào lại là 1 chiếc phao rách. Trong tiếng thở dài ấy vừa có sự lo âu cho mai sau mai sau, vừa có cả những toan lo và phận sự của thị về gia đạo nhà chồng. Ấy phải chăng là thị đã tinh thần được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.

+ Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường (“ngồi mớm” – thế ngồi cập kênh, ko bất biến nhưng mà cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, kính cẩn, lễ độ chào bà cụ Tứ (chào tới 2 lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu hết mực thước trong quan hệ với mẹ chồng. Khi Tràng thưa chuyện với mẹ, thị chỉ biết “đứng vân vê tà áo đã rách bợt”.

* Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn là 1 người đàn bà hiền lành, đúng đắn, biết toan lo

+ Sau đêm tân hôn, người đàn bà đấy có sự chỉnh sửa hoàn toàn về tâm cảnh và tính cách. Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng quét dọn, thu vén nhà cửa. Sự chỉnh sửa đấy người đọc cũng dễ trông thấy: nếu bữa qua thị ngoa ngoắt, đanh đá, chỏng lỏn bao lăm thì bữa nay thị lại hiền hậu bấy nhiêu. Hơn người nào hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự chỉnh sửa xuất sắc đấy: “Tràng nom thị bữa nay khác lắm, rõ ràng là người phụ nữ hiền lành, đúng đắn ko còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Câu văn này đã đánh dấu xúc cảm sống động của Tràng trước sự thay đổi hăng hái của vợ. Phcửa ải chăng tình yêu thực sự với sức nhiệm màu kì diệu đã có sức cảm hóa với thị.

+ Trong bữa cơm trước tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng 2 bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng mà thị vẫn vui vẻ, chấp thuận.

+ Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cục cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta ko chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đó”.

+ Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng tỉnh ngộ về trục đường phía trước nhưng anh sẽ tuyển lựa “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ bự lắm”.

-> Qua ấy, ta thấy đối tượng vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mệnh.

=> Viết về sự thay đổi trong tâm lý của thị, Kim Lân bộc bạch tình cảm trân trọng, truyền tụng những phẩm giá tốt đẹp của người dân lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn trình bày ở đây.

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Xây dựng đối tượng người vợ nhặt, Kim Lân đã đặt đối tượng vào cảnh huống truyện lạ mắt; diễn biến tâm lí được mô tả chân thật, tinh tế; tiếng nói mộc mạc, giản dị, thích hợp với tính cách đối tượng. Nghệ thuật tường thuật thu hút, kịch tính…

=> Người “vợ nhặt” là 1 thông minh của Kim Lân. Thông qua đối tượng này, nhà văn đã trình bày 1 ý nghĩa nhân bản cao đẹp: Con người Việt Nam dù sống trong tình cảnh cơ cực nào cũng sẽ luôn hướng về mai sau với niềm tin vào sự sống.

III. Kết bài

– Qua sự chỉnh sửa của người vợ nhặt, ta có thể thấy người phụ nữ đấy có khát vọng sống, khao khát hạnh phúc thầm lặng nhưng mãnh liệt. Ấy cũng là những khát vọng chính đáng của con người dẫu bị đặt vào tình cảnh oái oăm nhất.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 5: Dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu sơ qua về tác giả, tác phẩm, hình tượng nhân vật người “vợ nhặt”

II. Thân bài

* Người “vợ nhặt” là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, bấp bênh

– Thị xuất hiện vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của một con người năm đói:

+ Lần đầu thị xuất hiện là hình ảnh: ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh. Khi nghe Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc “Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, thị “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng…cười tít mắt”. Thị đẩy xe với hi vọng được ăn nên cũng rất nhiệt tình và chẳng cần ý tứ.

+ Lần thứ hai, thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn: Đó là người phụ nữ gầy vêu vao, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” nổi bật với “hai con mắt trũng hoáy”. Có thể nói, cái đói đã khiến thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng nhếch nhác, tội nghiệp hơn nữa. Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm. Vì đói mà thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa, đanh đá”. Thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện. Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng của người con gái. Thị cứ thế mà đòi ăn. Được cho ăn, thị sẵn sàng “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Thị đã đặt sự tồn tại của mình, đặt miếng ăn lên trên nhân cách.

* Người “vợ nhặt” có một lòng ham sống mãnh liệt

– Khi anh cu Tràng hay đùa, lại đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về” thì người đàn bà kia lại im lặng (mà thường tâm lý im lặng là đồng ý).

– Thị đồng ý, đồng ý mà không hề do dự, phân vân. Trong khi đó, Tràng là ai, tốt xấu như thế nào, gốc tích ra sao? Thị nào hay nào biết. Chỉ mấy bát bánh đúc là thị có thể theo ngay Tràng. Phải chăng thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn ? Thị dễ dàng, hời hợt thế ư?

– Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Thị chấp nhận theo không Tràng. Đó là ý thức bám lấy sự sống. Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống. Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình.

=> Niềm lạc quan yêu sống của thị chính là một phẩm chất rất đáng quý. Nói như Kim Lân: ”Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.

* Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáy, người “vợ nhặt” lại là một người phụ nữ rất ý tứ, biết điều

– Trên đường về nhà chồng tâm trạng của thị có sự thay đổi rõ nét.

+ Nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ. Trước cái nhìn “săm soi”, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Thị ngượng nghịu, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia… cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt”.

+ Về đến nhà chồng, nhìn thấy “ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị “nén một tiếng thở dài”. Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Ai ngờ cái phao mà thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.

+ Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt “ngồi mớm” vào mép giường (“ngồi mớm” – thế ngồi bấp bênh, không ổn định nhưng cũng rất ý tứ). Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ (chào đến hai lần). Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong quan hệ với mẹ chồng. Khi Tràng thưa chuyện với mẹ, thị chỉ biết “đứng vân vê tà áo đã rách bợt”.

* Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan

+ Sau đêm tân hôn, người phụ nữ ấy có sự thay đổi hoàn toàn về tâm trạng và tính cách. Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu. Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự thay đổi tuyệt vời ấy: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Câu văn này đã ghi lại cảm xúc chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ. Phải chăng tình yêu đích thực với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị.

+ Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.

+ Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”.

+ Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm”.

-> Qua đó, ta thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mạng.

=> Viết về sự đổi thay trong tâm lý của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn thể hiện ở đây.

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Xây dựng nhân vật người vợ nhặt, Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo; diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật. Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, kịch tính…

=> Người “vợ nhặt” là một sáng tạo của Kim Lân. Thông qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp: Con người Việt Nam dù sống trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm tin vào sự sống.

III. Kết bài

– Qua sự thay đổi của người vợ nhặt, ta có thể thấy người đàn bà ấy có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt. Đó cũng là những khát vọng chính đáng của con người dẫu bị đặt vào hoàn cảnh éo le nhất.

Số 6: Dàn ý phân tích nhân vật Thị

I. Mở bài

  • Giới thiệu về tác giả Kim Lân: ông là một cây bút nổi tiếng trong về truyện ngắn. Kim lân có sự am hiểu vô cùng sâu sắc đến đời sống của người nông dân, và viết về họ bằng sự tập trung nhất.
  • Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất viết về những người nông dân. Nhân vật đóng vai trò quan trọng nhất trong xuyên suốt tác phẩm chính là người vợ nhặt.

II. Thân bài

1. Lai lịch người Vợ nhặt

  • Không có quê hương và gia đình: nạn đói năm 1945 khiến cho biết bao nhiêu con người phải lâm vào cảnh lầm than. Bị chia cách khỏi quê hương, gia đình. Đói khát lưu lạc nơi xứ người.
  • Tên tuổi cũng chẳng có mà phải được gọi bằng cái tên “vợ nhặt”. Điều đó cho thấy được sự rẻ rúng, túng mạc của con người trong cảnh đói khổ.

2. Chân dung người Vợ nhặt

  • Ngoại hình: Người vợ nhặt quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp trơ xương, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn nhìn thấy hai con mắt.
  • Lần thứ nhất: Khi vừa nghe thấy câu hò vui của Tràng, Thị đã vui vẻ giúp đỡ anh. Đây chính là sự thể hiện cho cái gì đó vô cùng hồn nhiên, vô tư của những người lao động nghèo.
  • Lần thứ hai: Thị bắt đầu sưng sỉa mắng Tràng, từ chối việc ăn trầu để được ăn một thứ gì đó có giá trị hơn. Khi được mời ăn thì lập tức ngồi sà xuống, mắt sáng lên, và thế rồi “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.
  • Khi Thị nghe Tràng nói đùa rằng “đằng ấy có về với tớ cùng về”, Thị theo về thật. Bởi vì trong cái đói, cái khổ, chẳng một ai cho Thị nương tựa. Tràng là người duy nhất cho Thị bấu víu lấy sự sống cuối cùng.
  • Nhận xét: Trong cái đói, cái khổ, không chỉ hình hài con người ta bị biến dạng mà cả nhân cách cũng lung lay đôi ba phần. Thế nhưng người đọc Vợ nhặt vẫn cảm thông sâu sắc với Thị vì đó không phải bản chất mà là do cái đói xô đẩy đến bước đường cùng.

3. Phẩm chất của Vợ nhặt

  • Có khát vọng sống vô cùng mãnh liệt:
  • Quyết định đi theo Tràng về làm vợ mặc dù chẳng biết gì về Tràng. Chấp nhận đi theo không cần sính lễ, như một người “vợ nhặt”. Vì sẽ không còn phải sống trong cảnh lang thang đầu đường xó chợ nữa.
  • Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ. Thị chỉ biết “nén một tiếng thở dài’. Dù có phần ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội được sống tiếp.
  • Thị là một người nết na và ý tứ.
  • Trên đường trở về nhà, Thị chỉ rón rén e thẹn đi theo sau anh Tràng, đầu thì hơi cúi xuống. Thị ngại cho cái thân phận vợ nhặt của mình.
  • Khi vừa về đến nhà, được Tràng đon đả mời ngồi, Thị cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay thì ôm khư khư cái thúng. Đó chính là thể hiện cho sự ý tứ khi vẫn chưa xác định thân phận trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào hỏi, Thị cũng chỉ biết cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, lúng túng đến ngượng người.
  • Sáng hôm sau, Thị chủ động dậy sớm quét tước nhà cửa như một người vợ hiền đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt Thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước mặt mẹ chồng. Người “vợ nhặt” không muốn làm mẹ chồng buồn.
  • Nhận xét: Cái nghèo cái đói có thể cướp đi nhân phẩm người nông dân nghèo chứ vĩnh viễn không bao giờ lấy đi được tâm hồn họ.
  • Người vợ nhặt là người có niềm tin vào tương lai, lan tỏa niềm tin ấy đến chồng. Thắp lên một hy vọng cho gia đình.
  • Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi đã phân tích.

III. Kết bài

  • Giá trị nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện trong vợ nhặt độc đáo, nhân vật vô cùng thành công, ngôn ngữ giản dị và hết sức tự nhiên.
  • Tác phẩm mang lại giá trị hiện thực và nhân đạo vô cùng sâu sắc. Giúp người đọc hiểu được và cảm thông cho cảnh ngộ đầy thương tâm. Sự rẻ rúng của những người lao động nghèo trong nạn đói. Tố cáo tội ác của thực dân và phát xít, ca ngợi khát vọng sống mãnh liệt giữa thời đại cơ hàn.
Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 7: Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt dàn ý

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Kim Lân
  • Giới thiệu tác phẩm, tình cảnh sáng tác, chủ đề của tác phẩm “Vợ nhặt”
  • Giới thiệu đối tượng người vợ nhặt, đói nghèo, xấu số nhưng mà lại có 1 khát vọng sống mãnh liệt

II. Thân bài

a) Thân phận và hoàn cảnh của người Vợ nhặt

  • Vợ nhặt được giới thiệu là 1 người ko tiếng tăm, ko quê quán họ hàng, hiện ra giữa chợ tỉnh.Quần áo rách như tổ đỉa, gầy sọp, gương mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy 2 con mắt.
  • Là người đàn bà ko họ tên, Thị là hình ảnh điển hình cho những người dân đói khổ lúc ấy.
  • Không có việc làm chi tiết, cuộc sống cập kênh, cái đói đã hành tội và đẩy chị tới bờ vực của cái chết. Chỉ vài 3 câu nói bâng quơ của Tràng nhưng Thị theo Tràng về làm vợ. Cái đói đã biến Thị biến thành kẻ trơ trẽn liều lĩnh cùng đường.

b) Tâm cảnh của người vợ nhặt

* Trên trục đường trở về nhà với chồng

  • Chị về nhà chồng trong hoàn cảnh thật thảm hại, theo ko Tràng vì Tràng cho ăn ấy là hành động thật liều lĩnh. Cái đói quay quắt đã dồn đẩy chị, khiến cho chị đánh mất cả thể diện và lòng tự tôn.
  • Trên trục đường trở về nhà chồng, người đàn bà này ko tự tin vì thân phận của mình, cùng lúc có cả sự tủi phận, ngại ngùng, lo lắng. Thị cảm thấy khó ở trước lời chêu chọc của những người dân xóm cư ngụ: “người phụ nữ có vẻ khó chịu lắm, chị nhíu đôi chân mày lại, sắp lại tà áo, chân nọ bước díu vào chân kia”, tâm cảnh đấy trình bày người con gái này suy tư về trục đường ở trước mắt, cùng lúc ko dấu được niềm khát khao hạnh phúc.
  • Thị chỉnh sửa hẳn, vẻ đanh đá, cong cớn đã mất tích (ấy chỉ là vẻ vẻ ngoài để đương đầu với đời) con người thật của Thị hoàn toàn khác.

* Về tới nhà

  • Thị mang 1 tâm cảnh ngại ngùng của 1 nàng dâu mới, buồn thủi cho gia đạo nhà chồng “Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn bao quanh cái ngực gầy lép nhô lên, nén 1 tiếng thở dài…”
  • Thị buồn và tuyệt vọng, lo âu lúc thấy gia đạo nghèo nàn của Tràng, vì lúc theo Tràng chị muốn trốn chạy cái đói nhưng mà cái đói ko chừa 1 người nào.

* Sáng hôm sau

  • Chỉ qua 1 đêm về làm dâu, ở người con gái này đã có sự chỉnh sửa rất nhanh, Thị đã biến thành người phụ nữ nhanh nhảu, tự tin, Thị chủ động quét dọn quét quáy nhà cử. Hơn thế nữa, sự có mặt của người phụ nữ trong ngôi nhà này chính là mối gắn kết tình cảm trong gia đình. Với bản lĩnh của mình, Thị đã mang đến hạnh phúc cho gia đình này. Ở Thị còn có thái độ lễ độ với mẹ chồng.
  • Thị mau chóng hòa nhập vào ko khí gia đình. Thị cảm thu được tình thương của mẹ chồng, dù nghèo nhưng mà hiểu và thương Thị
  • Trong bữa ăn ngày đói, lúc nhận bát cháo cám “2 con mắt Thị tối lại” “Thị bình thản và vào mồm” vì ko nỡ làm mất đi thú vui khổ thân của người mẹ già khốn khổ.
  • Thị là người đã dấy lên niềm tin mới về cách mệnh, tạo niềm tin hi vọng cho chồng lúc kể chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta ko còn đóng thuế nữa và Việt Minh đi phá kho thóc Nhật chia cho người đói.

* Thị là đối tượng đã trình bày được trị giá hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm

c) Nghệ thuật

  • Xây dựng cảnh huống truyện lạ mắt
  • Cách kể chuyện thiên nhiên, thu hút, dựng cảnh sinh động, có nhiều cụ thể rực rỡ
  • Nhân vật được khắc họa sinh động, hội thoại thu hút, trình bày tâm lí đối tượng
  • Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng mà sàng lọc và giàu sức gợi

III. Kết bài

Bằng văn pháp tả chân cùng cách xây dựng cảnh huống truyện lạ mắt, tái tạo diễn biến tâm lí đối tượng 1 cách chi tiết. Kim Lân đã cho người đọc thấy được hình ảnh của người dân cày nghèo nhưng mà luôn giàu tình mến thương. Bóng vía Thị xuất hiện tuy ko lộng lẫy, ko hào nhoáng nhưng mà gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình. Nhân vật ThỊ đã mang lại 1 làn gió mới cho cuộc sống u tối của những người nghèo nàn.

Số 8: Dàn ý hình tượng nhân vật Thị

I. Mở bài

–     Giới thiệu đôi nét về tác giả Kim Lân (Năm sinh? Đặc trưng sáng tác?…).

–     Giới thiệu đôi nét về tác phẩm Vợ nhặt.

–     Đề cập vấn đề sẽ nghị luận (dựa theo đề bài: phân tích về nhân vật thị).

II. Thân bài

–     Khái quát:

+ Tác phẩm Vợ nhặt: In trong tập thơ nào? Hoàn cảnh sáng tác? Nội dung chính? Ý nghĩa? …

+ Bức tranh nạn đói 1945 trong truyện: con người, không gian, …

+ Tình huống truyện

–     Giới thiệu nhân vật Thị:

+ Lai lịch, tình cảnh: tha hương cầu thực, không tên tuổi, nghèo đói, cuộc sống bấp bênh.

+ Vẻ ngoài, cử chỉ, điệu bộ: sưng sỉa, thô lỗ, …

–     Phẩm chất đáng quý của nhân vật thị:

+ Một người có nghị lực, khát vọng sống mãnh liệt.

+ Trước lúc gặp Tràng, ai kêu làm gì thị làm nấy miễn có ăn.

+ Theo Tràng làm vợ nhặt chỉ để có ăn.

+ Sau biết điều kiện gia đình chồng nghèo khó chứ không được như cách Tràng khao thị ăn bánh đúc, vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

=>  Đói nghèo tha hóa Thị. Đứng trước sống chết thì sĩ diện không còn là vấn đề.

+ Một người phụ nữ có ý tứ, biết chừng mực, đảm đang.

+ Cách thị đi theo Tràng trên đường về làng. Biết ngượng khi bị lũ con nít trong làng chọc ghẹo.

+ Vào nhà vẫn “lẳng lặng”, nén tò mò chỉ “đảo mắt” nhìn quanh căn nhà, chỉ ngồi ở mép giường.

+ Rụt rè, chủ động chào mẹ chồng.

+ Sáng hôm sau, dậy sớm chăm lo cửa nhà, lễ phép với mẹ chồng.

+ Ăn cháo cám vẫn giữ vẻ điềm nhiên để gia đình không phải mất vui, khó xử.

=>  Khao khát mái ấm gia đình. Bản chất thị rất đẹp chỉ do nhất thời trong hoàn cảnh khốn khổ mới trở nên đanh đá.

+ Thông minh, có hiểu biết về cách mạng, đặt niềm tin vào tương lai:

+ Kể chuyện Việt Minh ở Bắc Giang, Thái Nguyên cho Tràng.

–     Nhận xét chung:

+ Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo.

+ Nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện, cách dẫn cách kể chuyện, cách miêu tả nhân vật, ngôn ngữ sử dụng trong truyện.

III. Kết bài

–     Khẳng định giá trị của tác phẩm, tài năng của tác giả – Kim Lân.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 9: Dàn ý nhân vật Thị trọng Vợ Nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu: truyện ngắn Vợ nhặt và tác giả Kim Lân

+ “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, viết năm 1955 được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” (1962). Truyện ngắn có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, tác phẩm viết sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại (1954) tác giả dựa vào cốt truyện cũ đặt tên là Vợ nhặt.

– Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích: nhân vật người “vợ nhặt”

II. Thân bài

* Tóm tắt nội dung cốt truyện

– Truyện lấy bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945, kể về nhân vật chính có tên là Tràng, một chàng trai xấu xí nghèo khổ, làm nghề đẩy xe thóc thuê. Giữa lúc nạn đói tràn đến xóm ngụ cư của hắn, Tràng đưa vợ về nhà, người vợ hắn “nhặt” được sau vài ba bận nói đùa và bốn bát bánh đúc. Bà cụ Tứ, người mẹ giàu tình thương người, xót cho cảnh ngộ người đàn bà, vừa mừng vừa tủi, bà chấp nhận nàng dâu mới. Cái liều lĩnh của Tràng đã biến thành hạnh phúc, những con người nghèo khổ ấy cùng nương tựa vào nhau và cùng hi vọng vào tương lai. Tác phẩm kết thúc bằng hình ảnh lá cờ đỏ, niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn.

* Cảm nhận về hình tượng nhân vật người vợ nhặt

– Ngoại hình: gầy ốm, xơ xác, tiều tụy.

– Thân phận: cô gái lang thang, nhặt thóc vãi, không tên tuổi, không gia đình, không quê quán.

– Ấn tượng ban đầu về thị: chao chát, chỏng lỏn, không biết xấu hổ là gì. Chỉ với vài lần gặp, một bữa bánh đúc, vài câu nói bông mà đã theo không người ta về làm vợ -> cái đói đã làm cho thị trở nên trơ trẽn.

– Hành động: chịu lấy Tràng -> ý thức bám lấy sự sống.

– Diễn biến tâm lí, hành động khi về nhà Tràng

+ Trên đường về nhà cùng Tràng: ngượng ngùng, lo âu, hồi hộp.

+ Khi gặp mẹ Tràng: khép nép, chỉ dám “ngồi mớm ở mép giường” và tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp.

+ Buổi sáng hôm sau: dậy sớm, quét dọn -> người vợ hiền dâu thảo.

+ Trong bữa cơm ngày đói: tạo niềm tin cho cả nhà khi kể câu chuyện người ta phá thóc kho Nhật cứu đói.

=> Niềm khao khát hạnh phúc gia đình

* Nhận xét đánh giá về nhân vật

– Người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng. Đây là một thành công lớn của nhà văn.

– Bóng dáng của thị hiện ra tuy không lộng lẫy, cũng không hề hào nhoáng nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình. Phải chăng nhân vật thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho  cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của cái chết….

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận, đánh giá, nhìn nhận chung về nhân vật

– Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

Số 10: Dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Kim Lân

– Giới thiệu tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề của tác phẩm “Vợ nhặt”

– Giới thiệu nhân vật người vợ nhặt, nghèo đói, bất hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt

II. Thân bài

a) phân tích thân phận và cảnh ngộ của người Vợ nhặt

– Vợ nhặt được giới thiệu là một người không tên tuổi, không quê quán họ hàng, xuất hiện giữa chợ tỉnh.Quần áo rách như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.

– Là người phụ nữ không họ tên, Thị là hình ảnh tiêu biểu cho những người dân đói khổ khi đó.

– Không có việc làm cụ thể, cuộc sống bấp bênh, cái đói đã hành hạ và đẩy chị đến bờ vực của cái chết. Chỉ vài ba câu nói bâng quơ của Tràng mà Thị theo Tràng về làm vợ. Cái đói đã biến Thị trở thành kẻ trơ tráo liều lĩnh cùng đường.

b) Phân tích tâm trạng của người vợ nhặt

* Trên con đường trở về nhà với chồng

– Chị về nhà chồng trong tình cảnh thật thảm hại, theo không Tràng vì Tràng cho ăn đó là hành động thật liều lĩnh. Cái đói quay quắt đã dồn đẩy chị, làm cho chị đánh mất cả sĩ diện và lòng tự trọng.

– Trên con đường trở về nhà chồng, người phụ nữ này không tự tin vì thân phận của mình, đồng thời có cả sự tủi phận, ngại ngùng, lo âu. Thị cảm thấy khó chịu trước lời chêu chọc của những người dân xóm ngụ cư: “người đàn bà có vẻ khó chịu lắm, chị nhíu đôi lông mày lại, sắp lại tà áo, chân nọ bước díu vào chân kia”, tâm trạng ấy thể hiện người con gái này suy tư về con đường ở trước mắt, đồng thời không dấu được niềm khao khát hạnh phúc.

– Thị thay đổi hẳn, vẻ đanh đá, cong cớn đã biến mất  (đó chỉ là vẻ bề ngoài để chống chọi với đời) con người thật của Thị hoàn toàn khác.

* Về đến nhà

– Thị mang một tâm trạng ngại ngùng của một nàng dâu mới, buồn thủi cho gia cảnh nhà chồng “Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn xung quanh cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài…”

– Thị buồn và thất vọng, lo lắng khi thấy gia cảnh nghèo khó của Tràng, vì khi theo Tràng chị muốn trốn chạy cái đói nhưng cái đói không chừa một ai.

* Sáng hôm sau

– Chỉ qua một đêm về làm dâu, ở người con gái này đã có sự thay đổi rất nhanh, Thị đã trở thành người đàn bà nhanh nhẹn, tự tin, Thị chủ động dọn dẹp quét tước nhà cử. Hơn thế nữa, sự có mặt của người đàn bà trong ngôi nhà này chính là mối gắn kết tình cảm trong gia đình. Với khả năng của mình, Thị đã đem lại hạnh phúc cho gia đình này. Ở Thị còn có thái độ lễ phép với mẹ chồng.

– Thị nhanh chóng hòa nhập vào không khí gia đình. Thị cảm nhận được tình thương của mẹ chồng, dù nghèo nhưng hiểu và thương Thị

– Trong bữa ăn ngày đói, khi nhận bát cháo cám “hai con mắt Thị tối lại” “Thị điềm nhiên và vào miệng” vì không nỡ làm mất đi niềm vui tội nghiệp của người mẹ già khốn khổ.

– Thị là người đã dấy lên niềm tin mới về cách mạng, tạo niềm tin hi vọng cho chồng khi kể chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không còn đóng thuế nữa và Việt Minh đi phá kho thóc Nhật chia cho người đói.

* Thị là nhân vật đã thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm

c) Giá trị nghệ thuật

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo

– Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc

– Nhân vật được khắc họa sinh động, đối thoại hấp dẫn, thể hiện tâm lí nhân vật

– Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi

III. Kết bài

– Bằng bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lí nhân vật một cách cụ thể. Kim Lân đã cho người đọc thấy được hình ảnh của người nông dân nghèo nhưng luôn giàu tình yêu thương. Bóng dáng Thị hiện ra tuy không lộng lẫy, không hào nhoáng nhưng gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình. Nhân vật ThỊ đã mang đến một làn gió mới cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu dàn ý phân tích nhân vật Thị trong Vợ Nhặt chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.