Top 10 dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc chi tiết nhất

Top 10 dàn ý Việt Bắc chi tiết nhất
Top 10 dàn ý Việt Bắc chi tiết nhất
4.7/5 - (14 votes)

Tổng hợp các bài mẫu dàn ý Việt Bắc của Tố Hữu một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 dàn ý Việt Bắc chi tiết nhất

Số 1: Dàn ý Việt Bắc số

I. Mở bài

– Dẫn dắt.

– Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc

II. Thân bài

a) (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi

* 4 câu thơ đầu: lời hỏi của người ở lại.

– Cách xưng hô mình – ta:

+ Gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó.

+ Là cách gọi quen thuộc trong ca dao dân ca.

=> Tạo không khí trữ tình cảm xúc.

– “Mười lăm năm”: tính từ thời kháng Nhật (khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi những người kháng chiến trở về Thủ đô (tháng 10 – 1954)

– Câu hỏi tu từ:  Kỉ niệm thời gian gắn bó lâu dài, keo sơn, bền chặt.

– Điệp từ “nhớ”: nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, thường trực, da diết.

– Hình ảnh: cây – núi, sông – nguồn gợi mối qua hệ khăng khít, thủy chung, ân tình giữa kháng chiến và Việt Bắc.

=> Người ở lại thiết tha, luyến tiếc, khơi gợi trong lòng người ra đi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình

* 4 câu tiếp: lời đáp của người ra đi.

– Từ láy: tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn

=> sự day dứt, lưu luyến, bối rối trong tâm trạng và hành động của người ra đi.

– Hình ảnh hoán dụ: “áo chàm” => gợi hình ảnh bình dị, thân thương của những người dân Việt Bắc.

– Hành động: cầm tay => sự luyến tiếc và nghĩa tình keo sơn gắn bó giữa cách mạng và Việt Bắc, gợi nhớ những cuộc chia tay trong văn học trung đại (nhưng đây là cuộc chia tay trong niềm vui chiến thắng).

=> Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.

* 12 câu tiếp “Mình đi… cây đa”: Tác giả gợi những kỉ niệm về Việt Bắc trong những năm kháng chiến.

– Hình ảnh: suối lũ, mây mù, miếng cơm chấm muối => Đây là những hình ảnh rất thực gợi được sự gian khổ của cuộc kháng chiến, vừa cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân Pháp.

– Chi tiết “Trám bùi….để già” => diễn tả cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng. Tác giả mượn cái thừa để nói cái thiếu.

– “Hắt hiu…lòng son” => phép đối, đảo ngữ gợi nhớ đến mái tranh nghèo. Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thuỷ chung với cách mạng.

– 6 câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại => câu hỏi đau đáu, khơi gợi, nhắc nhớ mọi người hãy luôn nhớ về Việt Bắc.

– Địa danh: mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào => gắn liền với Việt Bắc, là hình ảnh tiêu biểu của thủ đô kháng chiến

– Phép điệp: mình đi…, mình về…, nhớ… => lời nhắn gọi tha thiết, nhắc nhớ những kỉ niệm về một thời ở Việt Bắc.

–  “Mình đi, mình có nhớ mình”  => ý thơ đa nghĩa một cách thú vị. Cả kẻ ở, người đi đều gói gọn trong chữ “mình” tha thiết. Mình là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.

=> Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình, thơ mộng, rất đối hào hùng trong nỗi nhớ của người ra đi.

b) (70 câu sau): Lời của người ra đi

* 4 câu đầu “Ta với… bấy nhiêu…”: Khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt.

– Đại từ mình – ta: được sử dụng linh hoạt và tạo sự hòa quyện, gắn bó máu thịt;

– Giọng điệu: tha thiết như một lời thề thủy chung son sắt.

– Từ láy: mặn mà, đinh ninh => Khẳng định nghĩa tình đậm đà, bền chặt, trước sau như một của cách mạng đối với Việt Bắc.

– So sánh: bao nhiêu … bấy nhiêu => gợi tình cảm bao la, chan chứa giữa cách mạng và Việt Bắc.

* 28 câu tiếp “Nhớ gì… thuỷ chung…”:  nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và cuộc sống con người ở Việt Bắc.

– 18 câu tiếp “Nhớ gì… suối xa…”: Nỗi nhớ về cuộc sống ở Việt Bắc

+ Biện pháp so sánh: “nhớ… người yêu” => So sánh nỗi nhớ Việt Bắc với nỗi nhớ người yêu, sắc thái cao nhất của nỗi nhớ.

+ Phép tiểu đối:

> “Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương” => Nỗi nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian.

> “Bát cơm sẻ nửa / chăn sui đắp cùng” => Hình ảnh cảm động cho thấy sự san sẻ khó khăn gian khổ, chia sớt ngọt bùi, đắng cay giữa người dân Việt Bắc và những người cách mạng.

+ Phép điệp: nhớ, nhớ từng…, nhớ sao…=> Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu sắc.

+ Hình ảnh: người thương đi về, người mẹ nắng cháy lưng,… => Những hình ảnh thân thương, cảm động về con người Việt Bắc.

+ Những kỉ niệm: đắng cay ngọt bùi, bát cơm sẻ nửa, những giờ liên hoan,…

=> Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân gắn bó như trong một gia đình.

=> Con người và cuộc sống Việt Bắc: khổ cực, lam lũ mà thủy chung, son sắt.

=> Thiên nhiên, núi rừng, cuộc sống và con người ở Việt Bắc luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi tình cảm chân thành, tha thiết của người cán bộ kháng chiến.

– 10 câu sau “Ta về… thuỷ chung”: Nỗi nhớ về bức tranh tứ bình của Việt Bắc.

+ 2 câu đầu: nỗi nhớ chung và cảm xúc chủ đạo cho cả khổ thơ;

+ 8 câu sau: bức tranh tứ bình của Việt Bắc:

> Mùa đông:

Hình ảnh: hoa chuối đỏ tươi + người lao động trên đèo cao => bình dị, khoẻ khoắn;

Màu sắc: xanh + đỏ + “nắng ánh” => màu sắc ấm áp.

> Mùa xuân:

Hình ảnh: mơ nở trắng rừng + người đan nón => đẹp, nên thơ.

Màu sắc: trắng + trắng => tinh khiết, thanh nhã.

Âm thanh: hiệp vần “ơ” (mơ – nở), “ưng” (rừng – từng) cảm nhận tinh tế, âm thanh của rừng mơ đồng loạt nở hoa.

> Mùa hạ:

Hình ảnh: rừng phách đổ vàng + em gái hái măng

Màu sắc: vàng

Âm thanh: tiếng ve

=> Vẻ đẹp đặc trưng rộn rã, rực rỡ, đặc trưng của mùa hè.

> Mùa thu:

Hình ảnh: ánh trăng

Âm thanh: tiếng hát ân tình thuỷ chung

=> Vẻ đẹp thanh bình, hiền hoà.

– Nghệ thuật:

+ Phép điệp: ta về, ta nhớ, nhớ,…

+ Đại từ xưng hô: mình – ta…

+ Nhịp điệu đều đặn, cân xứng, nhịp nhàng…

+ Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, lời thơ giàu nhạc điệu,…

=> Mỗi mùa mỗi cảnh, đều mang vẻ đẹp riêng trong vẻ đẹp chung: đó là sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, giữa người và cảnh, cảnh và người cùng làm cho nhau thêm đẹp, làm cho bức tranh thêm sinh động.

=> Thiên nhiên cảnh vật quen thuộc, bình dị, gần gũi nhưng rất thơ mộng, trữ tình và nỗi nhớ sâu sắc của người cán bộ cách mạng về Việt Bắc.

* 22 câu tiếp “Nhớ khi… núi Hồng”: Nhớ cuộc kháng chiến anh hùng ở Việt Bắc.

– 10 câu đầu “Nhớ khi… Nhị Hà…”: Thiên nhiên cùng con người sát cánh đánh giặc.

+ Phép điệp: nhớ… => gắn với những kỉ niệm trong những ngày Việt Bắc kề vai sát cánh cùng với CM trong chiến đấu.

+ Biện pháp nhân hóa: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”,… biến thiên nhiên thành một lực lượng kháng chiến, thể hiện tình đoàn kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc đối với Cách mạng, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Rừng mang tính chất của con người VN quả cảm và biết phân biệt địch – ta,…Tác giả nhìn thiên nhiên xuất phát từ lòng yêu nước gắn với yêu Cách mạng.

+ Câu hỏi tu từ: hỏi để khẳng định nỗi nhớ thường trực, sâu sắc về những địa danh gắn liền với Việt Bắc.

+ Từ chỉ địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng,… => thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc.

– 12 câu sau “Những đường… núi Hồng”: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong những ngày ra quân sôi động làm nên chiến thắng.

+  8 câu đầu: khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc:

> Các động từ mạnh: rầm rập, rung, bật => tạo thành những chuyển rung dữ dội, thể hiện sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến.

> Các từ láy: điệp điệp, trùng trùng => khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nổi.

> Biện pháp cường điệu: Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay => sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể.

> Nhịp điệu: dồn dập, mạnh mẽ như những bước hành quân của quân dân Việt Bắc, thể hiện khí thế ra trận của cả một dân tộc trong trận chiến quyết định với kẻ thù.

+ 4 câu sau: khí thế chiến thắng ở các chiến trường khác:

> Phép điệp: “vui”, “vui + lên/về…”

> Liệt kê: các địa danh (…)

> Giọng điệu thơ: hồ hởi, vui tươi

=> Niềm vui to lớn, rộng khắp của cuộc kháng chiến.

=> Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến, trở thành điểm đến của tất cả các cánh quân, của ý chí Việt Nam để tạo nên một cuộc đụng đầu lịch sử, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

* 16 câu cuối: Nỗi nhớ Việt Bắc, nhớ cuộc kháng chiến, nhớ quê hương cách mạng của người VN.

– Câu hỏi tu từ: khơi gợi tình cảm thiêng liêng về Việt Bắc.

– Các hình ảnh: ngọn cờ đỏ thắm, sao vàng rực rỡ, cụ Hồ sáng soi, Trung ương, Chính phủ, mái đình, cây đa,…=> những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả. Đó là những hình ảnh biểu tượng của cách mạng, là tương lai của dân tộc.

– Phép điệp: Ở đâu… Nhìn lên…, Ở đâu… Trông về…=> nhấn mạnh: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng, là cội nguồn của sự sống.

– Biện pháp đối lập: u ám >< sáng soi => đề cao vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bác chính là chỗ dựa tinh thần tươi sáng nhất cho cách mạng và nhân dân Việt Nam.

– Cách xưng hô mình – ta…

III. Kết bài

Cảm nhận chung về bài thơ.

Xem thêm:

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 2: Dàn ý bài Việt Bắc

I. Mở bài

  • Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.
  • Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.

II. Thân bài

  1. Ý nghĩa nhan đề

Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.

  1. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)

– Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:

  • Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.
  • Cách xưng hô “mình – ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.
  • Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.

– Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:

  • Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.
  • Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.
  • Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, …
  • Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.
  1. Lời của người ra đi

– Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.

– Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”, … thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

– Nhớ đến con người Việt Bắc:

  • Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.
  • Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.
  • Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.

– Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, …

– Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền … núi Hồng”

– Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ… tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.

  1. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc CM (16 câu thơ cuối)

Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.

Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.

III. Kết bài

Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…

Khái quát giá trị nội dung: bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.

Xem thêm:

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 3: Dàn ý phân tích Việt Bắc

I. Mở bài 

  • Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên Huế.
  • Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, có truyền thống nho học và văn chương.
  • Là người giác ngộ cách mạng sớm. Trong hai cuộc kháng chiến cho đến năm 1986, ông liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
  • Tố Hữu đến với thơ và đến với cách mạng gần như cùng một lúc, do đó con đường thơ của Tố Hữu song hành với con đường cách mạng.
  • Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị (chính trị, xã hội, lịch sử.. đều trở thành nguồn cảm hứng trong thơ Tố Hữu).

*Lí do thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình, chính trị:

  • Con đường thơ Tố Hữu song hành với con đường cách mạng.
  • Với Tố Hữu, làm thơ cũng là cách thức phục vụ cách mạng.
  • Tố Hữu không chỉ là một nhà cách mạng, Tố Hữu còn là một nhà thơ có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm lại được nuôi dưỡng trong một gia đình nho gia có truyền thống nho học và văn chương, lớn lên ở xứ Huế có truyền thống văn hóa, văn học.

II. Thân bài:

Tìm hiểu chung:

Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:

+) Bài thơ “Việt Bắc” được rút ra từ tập “Việt Bắc”.

+) Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc:

  • “Việt Bắc” là tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.
  • Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954. Đây là thời điểm các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trờ về thủ đô Hà Nội, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng Điện Biên phủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc.
  • Nhân sự kiện có ý nghĩa lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng, thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương cách mạng.

Vị trí:

  • Trích trong tập thơ “Việt Bắc”.
  • Việt Bắc là thành công xuất sắc của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thời kì thơ ca kháng chiến chống Pháp. Tên của bài thơ được đặt tên cho cả tập thơ.
  • Bài thơ không chỉ là tình cảm riêng của Tố Hữu mà đó là suy nghĩ, tình cảm của những người kháng chiến đối với Việt Bắc, với đất nước, với cách mạng và với Bác Hồ.

Cảm hứng chủ đạo:

Đoạn trích là nỗi nhớ thiết tha của: “kẻ ở – người đi”. Nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, nhớ con người Việt Bắc ấm áp, nghĩa tình; nhớ Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến.

Nỗi nhớ ấy đã bộc lộ tình cảm ân nghĩa, thủy chung với quê hương cách mạng.

Cảm nhận chung:

  • Đoạn trích tái hiện không khí chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn. Đó là không khí của ân tình, của hồi tưởng, của ước vọng và của tin tưởng.
  • Kết cấu: theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao giao duyên.
  • Giọng điệu: Ngọt ngào, êm ái, giọng tâm tình của đôi lứa.

Tâm trạng của kẻ ở – người đi:

  • Bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn. Đó là tâm trạng không nỡ xa rời của những con người đã từng sống, từng gắn bó, từng chia sẻ trong suốt 15 năm.
  • Người ở lại: lên tiếng trước. Chữ “nhớ” được nhắc đi nhắc lại, vừa là lời hỏi, vừa là lời nhắn nhủ, vừa là nhịp cầu dãi bày tình cảm.
  • Những câu hỏi đã khẳng định nỗi lòng của người Việt Bắc. Việt Bắc hỏi người ra đi: có nhớ người ở lại. Nhớ 15 năm từng gắn bó ân tình. Nhớ sông núi, nhớ nguồn.
  • 4 chữ nhớ được láy đi láy lại gợi nỗi lòng thường trực, ám ảnh trong lòng người đọc. Sau mỗi chữ “nhớ” là một kỉ niệm ấm nồng được lặp lại.

+) Người ra đi hiểu được nỗi lòng của người ở lại cho nên có tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn tha thiết:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

  • Ba tính từ trạng thái đi liền trong 4 câu thơ thể hiện rất rõ tâm trạng, nỗi lòng của người ra đi.
  • Tâm trạng của người ra đi thể hiện ở câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Đó là sự lưu luyến, bịn rịn không nỡ xa rời. Người ra đi cầm tay mà không biết nói gì nhưng thực chất đã nói lên rất nhiều điều trong thương nhớ. Đó là sự im lặng chứa đầy cảm xúc.
  • Tâm trạng của kẻ ở – người đi đã khơi nguồn cho toàn bộ nỗi nhớ trong bài thơ Việt Bắc. Đó là tâm trạng chan chứa ân tình của những con người đã gắn bó trong suốt 15 năm.

Hình ảnh Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:

Nhớ con người và thiên nhiên Việt Bắc:

  • Nhớ con người Việt Bắc: Trong nỗi nhớ của người ra đi, người Việt Bắc là những con người cần cù, chịu thương, chịu khó, những con người sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, cùng chung tay gánh vác nghĩa tình cách mạng. Là những con người tài hoa và hơn hết những người Việt Bắc là những người ân tình, thủy chung.
  • Nhớ thiên nhiên Việt Bắc: Vẻ đẹp của 4 mùa: Mùa nào cũng đẹp, cũng đáng yêu, đáng nhớ.

Hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc được nhà thơ tái hiện sinh động, sâu sắc trong đoạn thơ:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

*10 câu thơ có thể coi là bức tranh tứ bình đẹp và quý về thiên nhiên, con người Việt Bắc:

Hai câu đầu: Mang ý nghĩa định hướng, cảm xúc bao trùm, khơi nguồn toàn bộ đoạn thơ. Đó là lời của người ra đi. Người ra đi khẳng định tình cảm chắc chắn của mình: Ta về ta vẫn nhớ, nhớ nhất là hoa và người Việt Bắc.

+) Hoa: tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc.

+) Nhớ người: Nhớ người Việt Bắc chịu khó, cần cù, ân tình thủy chung.

8 câu thơ tiếp theo: gợi vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ khôn nguôi của kẻ ở, người đi.

+) Mở đầu bức tranh tứ bình là bức tranh mùa đông Việt Bắc: thực tế trong bức tranh này, tác giả không nói rõ tên mùa, nhưng đặt trong cấu trúc của toàn bộ bức tranh thì đó là mùa đông Việt Bắc. Bức tranh mùa đông với màu xanh bạt ngàn trầm tĩnh của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối đã xua đi cảm giác lạnh lẽo và u ám.

+) Xuân sang -> ngập tràn sắc trắng của hoa mơ. Đó là vẻ đẹp đặc trưng của Việt Bắc vào mùa xuân. Màu trắng của hoa mơ khiến không gian trở nên thơ mộng, lãng mạn và huyền ảo.

~ Động từ “nở” đem đến cho ta cảm nhận dường như cảnh vật đang vận động, đang chuyển động

+) Bức tranh mùa hè: Có lẽ đây là bức tranh đặc sắc nhất của núi rừng Việt Bắc. Mùa hè Việt Bắc như đọng cả trong tiếng ve và trong màu vàng của rừng phách.

~ Động từ “đổ”: được tác giả sử dụng rất tinh tế, chỉ sự biến đổi mau lẹ, triệt để của màu sắc.

~ Hai chữ “đổ vàng” ngắn gọn, giản dị nhưng rất biểu cảm và đặc biệt nó đã mở ra 3 cuộc chuyển đổi: Thứ nhất, đó là sự chuyển đổi về không gian: chỉ trong thoáng chốc, cả khu rừng nhuốm sắc vàng của rừng phách. Thứ hai, đó là sự chuyển đổi về thời gian, sắc vàng của rừng phách đưa nhịp cầu thời gian từ xuân sang hè. Thứ ba, là cuộc chuyển đổi trong cảm giác (từ thính giác sang thị giác).

+) Nếu 3 bức tranh đông, xuân, hè được tác giả miêu tả vào ban ngày thì bức tranh mùa thu được tác giả miêu tả vào thời điểm ban đêm với ánh trăng thanh huyền ảo. Thời điểm này tạo ra một không gian thi vị, lãng mạn phù hợp với những cuộc hát giao duyên.

~ Rừng thu: mở ra chiều rộng mênh mang của đất, trăng thu gợi không gian thăm thẳm của trời khiến cho không gian trở nên bát ngát hơn, thi vị hơn, huyền ảo hơn.

+) Điểm đặc sắc trong cấu trúc của bức tranh tứ bình thì cứ câu lục tả cảnh thì câu bát tả người. Cảnh và người hòa quyện khiến cho bức tranh trở nên đẹp hơn, ấm áp hơn và mang đậm sắc thái cổ điển phương Đông.

Trong những câu thơ gợi tả vẻ đẹp con người Việt Bắc có 3 chữ “nhớ” được lặp lại, đứng ở vị trí đầu câu thơ. Đó là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng nặng lòng khi hướng tới những con người cụ thể. Thiên nhiên Việt Bắc là phông nền để nhà thơ tô đậm vẻ đẹp con người. Trước hết đó là những con người vững trãi, tự tin, làm chủ núi rừng:

“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

+) Đó là vẻ đẹp của những con người khéo lé, tài hoa, cần mẫn:

“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

+) Vẻ đẹp của những con người chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh:

“Nhớ cô em gái hái măng một mình”

+) Đặc biệt, vẻ đẹp của sự “ân tình thủy chung” của người Việt Bắc đã làm thành nỗi nhớ sâu nặng với người ra đi:

“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

4 chữ “ân tình thủy chung” đã chạm đúng vào gốc rễ của đạo lí dân tộc.

TIỂU KẾT: Đoạn thơ đã góp phần làm nên thành công của bài thơ Việt Bắc bởi nội dung chính trị đã được trữ tình hóa một cách đằm thắm. Tố Hữu viết về sự kiện chính trị, viết về tình cảm thủy chung cách mạng bằng giọng thơ nhỏ nhẹ của tâm tình, giọng của đôi lứa yêu thương.

Nhớ Việt Bắc trong kháng chiến:

Đoạn thơ:

“Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miềm

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.

Tái hiện không khí hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời nói lên niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Giọng điệu đoạn thơ khỏe khoắn, mạnh mẽ, hào hùng và mang âm điệu sử thi.

+) Đại từ sở hữu “của ta” vang lên 1 cách giõng dạc thể hiện niềm tự hào của những con người được làm chủ đất nước, đồng thời khẳng định Việt Bắc là chiến khu tự do.

+) Không khí sôi động của những ngày chiến dịch được tác giả tái hiện sinh động qua những từ ngữ, hình ảnh: rầm rập, đất rung, quân đi điệp điệp trùng trùng.

+) Hai chữ “rầm rập” vừa gợi âm thanh, vừa tạo hình ảnh.

+) Những động từ mạnh được tác giả sử dụng liên tiếp: rung, nát đá, bay à gợi cho ta cảm nhận khí thế hào hùng của cả nước ra trận.

+) Biện pháp nghệ thuật so sánh, tượng trưng được tác giả sử dụng triệt để giúp ta cảm nhận hình ảnh những đoàn quân đan ngày đêm tiến về mặt trận.

+) Ở trong đoạn trích này, ánh sáng là 1 điểm nhấn đặc biệt, ánh sáng của ánh sao đầu súng là 1 niềm vui, 1 niềm tin. Còn ánh sáng của “dân công… lửa bay” thực sự là một ngày hội.

Ánh sáng ấy đã xua tan sương mù của những ngày đen tối.

  • “Nghìn đêm” và “thăm thẳm” là những từ cùng một trường nghĩa chỉ độ dài thời gian và độ dài tâm lí. Chỉ một cuộc ra quân mà bình minh của thời đại đã hé mở. Tất cả là nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết và tình quân dân.
  • ~ Điệp từ “Vui” được lặp lại nhiều lần với những danh từ chỉ địa danh thể hiện chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

III. Kết bài

Đoạn thơ là bức tranh hào hùng về khí thế và sức mạnh vô song của cả nước ra trận. Đoạn thơ giàu chất sử thi, anh hùng ca tái hiện một thời đáng nhớ, đáng tự hào.Với đoạn thơ này, Việt Bắc không chỉ là bản tình ca ca ngợi cách mạng, mà là bản hùng ca ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến.

Xem thêm:

Số 4: Dàn ý bài thơ Việt Bắc

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu (tiểu sử, con đường cách mạng, phong cách thơ..)

– Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc (hoàn cảnh ra đời, khái quát nội dung và nghệ thuật)

II. Thân bài

a) Lời nhắn nhủ của người ra đi và kẻ ở lại

* Tám câu đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn

– Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến

– Từ ngữ:

+ Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm

+ Từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi tả tâm trạng vấn vương, lưu luyến

+ Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên

+ 15 năm ấy: khoảng thời gian gắn bó với những tình cảm mặn nồng, thiết tha

– Hình ảnh:

+ “núi”, “sông”, “nguồn” những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.

+ “cầm tay nhau” diễn tả sự bịn rịn

+ áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân VB Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi – kẻ ở dâng trào không nói nên lời.

⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi

* Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi

– Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình…

– Nghệ thuật:

+ Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm

+ ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai

+ điệp từ “mình”

+ Cách ngắt nhịp /4, 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.

⇒ Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung

b) Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ

* Nhớ cảnh và người Việt Bắc

– Nỗi nhớ đưuọc so sánh với nỗi nhớ người yêu

– Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:

+ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

+ Buổi chiều khói bếp hòa quyện với sương núi

+ Cảnh bản làng ẩn hiện trong sương

+ Cảnh rừng nứa, bờ tre…

+ Thiên nhiên Việt Bắc qua 4 mùa với những hình ảnh độc đáo, đặc sắc

– Nhớ về con người Việt Bắc:

+ Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng

+ Nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc: lớp học i tờ, những giờ liên hoan

+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.

⇒ Với kết cấu đan xen, cứ một câu tả cảnh, một câu tả người đã làm nổi bật vẻ đẹp hài hoà, sự đan cài quấn quýt giữa thiên nhiên và con người. Đây là vẻ đẹp đậm màu sắc phương đông

* Nhớ Việt Bắc đánh giặc và Việt Bắc anh hùng

– Nhớ hình ảnh cả núi rừng Việt Bắc đánh giặc: “Rừng….”

– Nhớ hình ảnh đoàn quân kháng chiến: “Quân đi…”

– Nhớ những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới

⇒ Nhịp thơ mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân. Hình ảnh kì vĩ… tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng

* Nhớ Việt Bắc niềm tin

– Nhớ cuộc họp cao cấp với nhiều chi tiết, hình ảnh tươi sáng.

– Nhớ hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ

⇒ Việt Bắc là cội nguồn là quê hương cách mạng

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

+ Nội dung: bài thơ khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…

+ Nghệ thuật: đạm chất dân tộc, trong việc sử dụng hình thức đối đáp với cặp đại từ nhân xưng mình – ta, ngôn ngữu, hình ảnh thơ giản dị, nhịp thơ uyển chuyển, sử dụng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát…

– Cảm nhận của bản thân: bài thơ cho chúng ta thấy nghĩa tình của người dân Việt trong những năm tháng khó khăn, gian khổ của cuộc chiến tranh, giành độc lập, tự do cho dân tộc

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 5: Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc

I. Mở bài

–  Dàn ý phân tích bài thơ việt bắc – Giới thiệu về tác giả: Tố Hữu là một trong những nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ lớn của đất nước, thơ ông trưởng thành trong cách mạng. Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam nhưng vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Về sau, ông trở thành nhà lãnh đạo tư tưởng, văn nghệ của Đảng và nhà nước, đồng thời cũng trở thành  nhà thơ lớn của dân tộc.

– Giới thiệu tác phẩm Việt Bắc – Ông để lại cho thế hệ sau nhiều bài thơ có giá trị, một trong những tác phẩm ấy phải kể đến Việt Bắc. Tác phẩm được viết khi cơ quan đầu não của Đảng trở về Hà Nội. Bài thơ viết khi chia tay đồng bào Việt Bắc với tình cảm lưu luyến, gắn bó với con người mảnh đất này.

II. Thân bài

Luận điểm 1: Giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác và bố cục bài thơ

– Hoàn cảnh sáng tác: Việt Bắc được sáng tác trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Đó là khi hiệp định Giơ ne vơ Đông dương được kí kết, hòa bình lập lại, miền bắc được giải phóng. Đất nước bắt đầu bước sang một trong mới, một giai đoạn mới của cách mạng và cơ quan trung ương của Đảng – chính phủ phải rời chiến khu việt bắc về Hà Nội. Trước cảnh chia tay lưu luyến, cảm xúc dạt dào ấy Tố Hữu đã viết lên bài thơ Việt Bắc.

– Bố cục bài thơ: Bài thơ được viết với các phân đoạn là cảnh đầu chia tay lưu luyến giữa cán bộ và con người Việt Bắc, các khổ còn lại là lời người ra đi nhắc lại những kỉ niệm gắn bó cùng Việt Bắc.

Luận điểm 2: Lời người ở lại

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

– Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

– 20 câu thơ đầu là lời người ở lại dành cho người về xuôi

– Tác giả sử dụng điệp trúc mình – ta cho thấy sự gắn bó, thân thiết như một gia đình khiến cuộc chia li càng trở nên quyến luyến. Cách xưng hô này làm ta nhớ đến điệu hát Giao duyên khiến cho câu thơ trở nên mềm mại, sâu lắng. Bởi vậy, nói thơ của Tố Hữu vừa có yếu tố chính trị vừa có yếu tố lãng mạn quả không sai.

– Ngay câu thơ đầu tiên, tác giả đặt câu hỏi tu từ để càng khẳng định nỗi nhớ ngườ đi xa và buổi chia tay bịn rịn: “Mình về mình có nhớ ta? Toàn bộ bốn câu thơ đầu tiên đều là lời ướm hỏi, khơi gợi những kỉ niệm về mười năm năm mặn nồng, về thiên nhiên việt bắc nghĩa tình.

– 4 câu thơ tiếp theo là nỗi lòng lưu luyến của cả người đi và người ở qua từ ngữ “da diết” “bâng khuâng” “bồn chồn” . Tác giả không nói trực tiếp đâu là người về xuôi, đâu là người ở lại mà sử dụng hình ảnh “áo chàm” để giúp người đọc nhận biết và nghe gần gũi thân thương. Áo chàm chính là đồng bào Việt Bắc, cầm tay người về xuôi mà lưu luyến khôn nguôi.

– Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… Sự lưu luyến, kỉ niệm, nỗi nhớ nhiều đến nỗi không thể nói lên lời. Buổi chia ly ấy không đủ thời gian để diễn tả. Chỉ ánh mắt nhìn nhau bịn rịn mà đã thấy nhớ nhung khôn xiết.

– 12 câu thơ tiếp theo đều là nói đến nỗi nhớ, những kỉ niệm đã qua ngọt ngào, cay đắng, nghĩa tình

+ Đó là nỗi nhớ về thiên nhiên núi rừng việt bắc. Đó là mưa nguồn, là suối lũ, là mây mù, là trám bùi, là măng mai… Tất cả như quyện thành nỗi nhớ da diết, ngay cả thiên nhiên cũng nhớ, cũng lưu luyến.

+ Nỗi nhớ về những con người, ân tình trong gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn đậm đà lòng son, chia ngọt sẻ bùi, cùng trải qua bao gian khó mới biết chân tình là đây.

+ Nhớ đến quãng thời gian kháng chiến , hoạt động cách mạng, kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái… đều là những quãng thời gian tuy vất vả mà đáng nhớ, đều là những địa danh nổi tiếng trong kháng chiến bộ đội và dân ta cùng trải qa.

Luận điểm 3: Lời người ra đi

Dàn ý phân tích bài thơ việt bắc – Người ra đi ở đây chính là các chiến sĩ cách mạng trở về xuôi để tiếp tục công việc. Không chỉ người ở lại bịn rịn, lưu luyến, nhớ đến những kỉ niệm đã cùng nhau trải qua, mà các đông chí cách mạng cũng thế, nỗi nhớ cũng da diết, kỉ niệm cũng hiện về như mới qua đây thôi.

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

– 4 câu thơ trên khẳng định nỗi nhớ với người ở lại không hề thua kém. Đồng bào Việt Bắc nhớ chiến sĩ cách mạng thế nào thì các đồng chí cách mạng cũng nhớ đồng bào bấy nhiêu. Đối đáp lại với đồng bào Việt Bắc với cách xưng hô Ta – mình cho thấy tình cảm sâu đậm, gắn bó, coi nhau như tình thân, bịn rịn, da diết và sử dụng đối xứng: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu… cho thấy tấm lòng thương nhớ không hề thua kém.

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

–  Nỗi nhớ người đi còn ở một bậc cao hơn đó là được ví như nỗi nhớ người yêu. Đây là thứ tình cảm sâu nặng, nỗi nhớ da diết cồn cào. 6  câu thơ trên còn nói đến hình ảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc đẹp và gần gũi vô cùng, đó là trăng, nắng chiều, là bản khói cùng sương, là người thương, rừng nứa bờ tre… Tất cả đều trở nên thân thương quá đỗi.

– Thiên nhiên còn hiện lên trong mắt người chiến sĩ như một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

+ Bằng bút pháp nghệ thuật tả cảnh, tố hữu đã vẽ lên một bức tranh 4 mùa hoàn hảo với đủ màu săc hài hòa, quyện vào nhau. Các gam màu vừa chói chang vừa dịu dàng bổ trợ cho nhau tạo nên bức tranh sơn mài 4 mùa tuyệt đẹp.

– Nhớ đến con người Việt Bắc

+ Những con người cùng trải qua gian khó, vất vả nhưng luôn chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau vượt qua mọi hoạn nạn gian nan:

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

+ Nhớ hình ảnh người mẹ đẹp giản dị, địu con trên rẫy bẻ từng bắp ngô hay hình ảnh cô em gái hái măng. Những hình ảnh lao động bình dị ấy đã in sâu trong trí nhớ người ra đi.

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

….

Nhớ cô em gái hái măng một mình

+ Bên cạnh đó tác giả cũng nhớ đến cảnh sinh hoạt của quân và dân ta, đó là những lớp học I tờ, giờ liên hoan, ca vang núi đèo

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

>> Nỗi nhớ rất cụ thể, rất rõ ràng, tác giả nhớ về thiên nhiên, về con người, về cuộc sống, sinh hoạt nơi đây chi tiết từng việc một. Có thể cho thấy tác giả rất yêu thương mảnh đất này nên kỉ niệm gắn bó không thể nào quên.

– Kỉ niệm đánh giặc

+ Hình ảnh giặc đến, giặc lùng cho thấy chiến tranh vô cùng khốc liệt,nhưng quân và dân ta vẫn không hề run sợ, trước kẻ thù ta vẫn hùng dũng bước đi, sẵn sàng xông pha ra trận chiến, bởi vì ta có lí tưởng cách mạng soi đường:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

+ Thiên nhiên cũng cùng quân và dân ta đánh giặc, cho thấy sự đồng lòng, đoàn kết từ trong ra ngoài. Tác giả nhân hóa thiên nhiên để khẳng định tân thần đoàn kết của dân tộc tạo nên một sức mạnh khổng lồ khiến giặc không thể ngờ tới. “  Núi giăng thành luỹ sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù/ Mênh mông bốn mặt sương mù/ Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”

+ Bô độ và dân quân của ta luôn trong khí thế hừng hực, hào hùng:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

>> Tố hữu sử những câu thơ rất mạnh như rầm rập, điệp điệp, trùng trùng, nát đá, lửa bay… cho thấy một sức mạnh phi thường không có gì cản nổi. Một ý chí sắt đá khiến kẻ thù run sợ.

– Nhớ đến chiến công thắng trận

+ Ngoài những gian khó, những vất vả, hi sinh thì chiến công thắng trận không thể nào quên,đó là niềm vui khôn tả, là hạnh phúc, trái ngọt mà quân và dân ta gặt hái được:

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Tin vui từ miền núi đến miền xuôi, cả nước cùng vui theo tin thắng trận.

Luận điểm 4: Niềm tự hào , niềm tin gửi gắm Việt Bắc cách mạng ở 16 câu thơ cuối

+ Đó là hình ảnh của nơi nguồn cuội cách mạng – Việt Bắc, nơi ấy có Bác Hồ, trung ương Đảng, nơi ấy đã làm nên lịch sử với ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng:

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

+ Hình ảnh Bác dưới miêu tả của Tố hữu vừa giản dị, vừa sáng suốt, bình dị đẹp tươi lạ thường.

+ Khổ thơ cuối cũng nói về niềm tin vào sức mạnh của Đảng, khả năng lãnh đạo của Dảng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc:

Lòng ta ơn Đảng đời đời

Ngược xuôi, đôi mặt một lời song song.

Ngàn năm xưa, nước non Hồng

Còn đây, ơn Đảng nối dòng dài lâu

Ngàn năm non nước mai sau

Đời đời ơn Đảng càng sâu càng nồng.

Cầm tay nhau hát vui chung

Hôm sau mình nhé, hát cùng Thủ đô.

 III. Kết bài

– Tóm tắt lại nội dung bài thơ: Bài thơ là bản tình ca về cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, là nỗi nhớ da diết của kẻ ở, người đi. Là những kỉ niệm thân thiết, cuộc sống đời thường và hành trình kháng chiến tuy gian khó nhưng đượm nghĩa tình.

– Nghệ thuật bài thơ: Tả giả sử dụng thuật đối đáp, kể chuyện, tả cảnh, giọng thơ trữ tình nhẹ nhàng, lời thơ đối đạm trao duyên nghĩa tình.

Số 6: Dàn ý Việt Bắc

I. Mở bài

Giới thiệu sơ lược về sự nghiệp văn chương của nhà thơ Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc

Tố Hữu được biết đến là lá cờ đầu trong thơ ca cách mạng Việt Nam.

Các tác phẩm thơ Tố Hữu có người đã ví nó như một thước phim quay chậm những trang sử vẻ vang của dân tộc.

“Việt Bắc” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu.

II. Thân bài

– Khái quát chung

  • “Việt Bắc” được sáng tác vào năm 1954 khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc thắng lợi.
  • Bài thơ đã tái hiện lại cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa những người cán bộ với nhân dân Việt Bắc.
  • Trong bài thơ tác giả sử dụng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc kết hợp lối hát đối đáp như ca dao dân ca để tái hiện cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa những người chiến sĩ cách mạng và nhân dân Việt Bắc.

– Phân tích chi tiết

+ Mở đầu là lời của người ở:

  •  Câu mở lời đầu tiên giống lời chia tay của những cặp tình nhân đầy ý nhị mà sâu sắc => mượn sắc màu tình yêu để thể hiện tình cách mạng.
  • “mình” mở đầu câu thơ, “ta” kết thúc câu thơ → sự xa cách, nhớ nhung.
  • Chữ “nhớ” được nhắc lại ba lần → dòng cảm xúc lưu luyến, nhớ nhung, tình nghĩa của toàn bài thơ.

+ Tình cảm của người ra đi: được thể hiện qua những kỷ niệm về núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng những kỷ niệm kháng chiến.

=> Người đi muốn nhắn ngủ với người ở lại rằng dù cuộc sống mới có sung túc, đủ đầy thì tình cảm với những người dân nơi đây vẫn luôn còn mãi.

– Đánh giá chung

  • “Việt Bắc” là một điển hình của thơ ca cách mạng bởi nó là sự kết hợp của chất trữ tình và chính trị.
  • Tính dân tộc qua việc sử dụng thể thơ truyền thống cùng lối hát đối đáp quen thuộc, giản dị, gần gũi.
  •  Khơi gợi được những tình cảm cao đẹp nhất của truyền thống dân tộc là tấm lòng thủy chung son sắc.

III. Kết bài

Khẳng định giá trị của bài thơ

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 7: Dàn ý bài Việt Bắc

I. Mở bài

“Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”

(Tố Hữu)

– Chặng đường kháng chiến chống Pháp đầy gian lao đã kết thúc với thắng lợi vẻ vang. Tháng 10 năm 1945, trung ương Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc dời về thủ đô Hà Nội. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến với đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

– Bài thơ là khúc hát giao duyên, là lời nhắn gửi tâm tình giữa người về xuôi và người ở lại, lời giãi bày tình cảm thắm thiết và cả nỗi nhớ trùng điệp của người ra đi. Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm thể hiện phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu.

II. Thân bài

  1. Khung cảnh chia tay

* Lời của người ở lại:

– Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại hỏi người ra đi có còn nhớ “ta”, hỏi nhớ “núi, nguồn” là nhớ mảnh đất đã từng chung sống, gắn bó mười lăm năm nghĩa tình. Câu hỏi tu từ mượn cớ nhưng thực ra là nhắc nhở, nhắn nhủ người về xuôi đừng quên mảnh đất tình người.

=> Sự tình chung, tình cảm đạo lí. Hiệu quả của nghệ thuật câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc người nói, người ở lại kín đáo bộc lộ nỗi nhớ và tình yêu dành cho người về xuôi không phai mờ, trân trọng.

* Lời của người ra đi:

– Khung cảnh chia tay: Ở một bến sông, có tiếng hát làm nền. Nhân vật người đi kẻ ở bịn rịn, ban tay nắm chặt không rời, xúc động không nói nên lời.

– Từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” lột tả tâm trạng xốn xang, xao xuyến vì tình cảm bị níu kéo lại. Diễn tả nỗi lòng thương mến của người ở lại dành cho con người, Việt Bắc.

– “Áo chàm” hình ảnh ẩn dụ Việt Bắc. Tượng trưng cho tâm hồn chất phác, chân thành, sâu nặng của người Việt Bắc.

– Nhớ lại những tháng ngày gian khổ ở chiến khu:

  • “Mưa nguồn suối lũ”: đất trời vần vũ, chìm trong mưa gió bão bùng, sự khắc nghiệt của mùa mưa Việt Bắc khiến cuộc sống trong rừng thêm khó khăn.
  • “Những mây cùng mù”: biện pháp chêm xen nhấn mạnh bầu trời u ám nặng nề, gian khổ đè nặng, ẩn dụ những ngày đầu khó khăn của kháng chiến
  • “Miếng cơm chấm muối”: vừa tả thực vừa ước lệch chỉ những thiếu thốn mọi mặt ở chiến khu.
  • Khi gian khổ có nhau đến khi vui sướng người đi kẻ ở, giờ phút chia tay lòng người ở lại bỗng xôn xao vì tiếc nuối nhớ nhung. Biện pháp hoán dụ “rừng núi” chỉ người Việt Bắc, nỗi nhớ thêm kín đáo, đại từ “ai” phong cách dân gian mộc mạc
  • Người Việt Bắc nhắc đến kỉ niệm lịch sử khó quên, tự hào về mảnh đất anh hùng.

=> Hình thức đối thoại, đoạn thơ diễn tả tình cảm người Việt Bắc dành cho cán bộ chiến sĩ thắm thiết, mặn nồng.

  1. Nỗi nhớ của người ra đi

– “Ta với mình, mình với ta… Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”: Khẳng định tấm lòng thủy chung, một lòng mặn mà của người đi kẻ ở.

– Nỗi nhớ của người ra đi được so sánh với nỗi nhớ người yêu: Tình quân dân bỗng trở nên thắm thiết như tình yêu lứa đôi.

– Người ra đi luyến tiếc để nỗi nhớ vào thiên nhiên: nhớ về trăng vào những buổi chiều tà, nắng hiu hắt chiều sương, rừng nứa bờ tre, các địa danh quen thuộc như Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…

– Nhớ về con người Việt Bắc: cùng nhau chia sẻ ngọt bùi qua cơn đói rét, kỉ niệm ấm áp bên bộ đội và đồng bào cùng các điệu hát, hình ảnh mộc mạc của “cô em gái” lao động…

=> Tình cảm người chiến sĩ dành cho con người và quê hương Việt Bắc cũng là tình cảm nhà thơ dành cho nhân dân, đất nước, tình yêu cuộc sống kháng chiến

  1. Bức tranh tứ bình

– Hai câu thơ đầu tiên:

  • “Hoa và người”: nỗi nhớ hướng đến đối tượng cụ thể
  • Đại từ nhân xưng “mình – ta” thể hiện tình yêu thương gắn bó sâu nặng của người đi kẻ ở
  • Điệp từ “ta về” đầu câu bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng luyến lưu, vấn vương trong buổi chia tay, khơi gợi về quá khứ.

– Bức tranh tứ bình:

  • Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên có nét chấm phá sắc đỏ thắm tươi của hoa chuối, sự tương phản màu sắc gợi vẻ rực rỡ. Không gian bỗng trong sáng, ấm áp nhờ sắc đỏ, khiến nỗi nhớ thêm rạo rực lòng người.
  • Bức tranh màu xuân: Thiên nhiên Việt Bắc khoác trên mình gam màu xanh lá của núi rừng điểm tô dưới sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Động từ “nở” cùng tính từ “trắng” gợi những đóa hoa đang khoe sắc, độ xuân thì. Trong cảnh xuân con người miệt mài lao động, tạo bức tranh hài hòa.
  • Bức tranh mùa hè: Việt Bắc mang sắc vàng tươi xinh của rừng phách. Phong cảnh mùa hạ hiện ra cổ điển, hữu tình ngời sáng, lung linh.
  • Bức tranh mùa thu: Cảnh thu với vẻ đẹp của đêm trăng. Một nét huyền ảo, hiền hòa, mộng mơ. Vẻ đẹp mang theo bao ước mơ tươi sáng ở tương lai. Đoạn thơ khép lại bằng “khúc hát ân tình thủy chung”. Đó là tiếng hát của người ở lại, cũng là của người ra đi. Khúc hát của sự hy vọng thiết tha, tình quân dân đậm sâu..

=> Bức tranh thiên nhiên đẹp, con người đẹp, trong đó là tấm lòng đẹp theo cùng nỗi nhớ đẹp. Thể hiện tình quân dân, tình đất nước cao đẹp của nhà thơ.

  1. Khung cảnh ra trận

– Bút pháp sử thi tác giả khắc họa đoàn quân sục sôi khí thế trên những nẻo đường ra trận.

  • Điệp từ “đêm đêm” tả thời gian dài, từ láy “rầm rập” âm thanh phối hợp cùng nhịp thơ 2/2 gợi tả bước chân hành quân đều nhịp, chắc khỏe.
  • Biện pháp nói quá “đất rung” chứng tỏ sức mạnh đoàn quân phi thường.
  • Chân dung đoàn quân tiêu biểu cho dân tộc anh hùng.

– Đường hành quân gian lao, nguy hiểm nhưng chiến sĩ vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, mây trời, niềm vui ngắm cảnh: cho thấy lòng yêu đời, lạc quan, tin vào tương lai.

  • Hoán dụ “mũ nan”: người chiến sĩ ra chiến trường mang theo mối tình quân dân để tiếp thêm động lực chiến đấu
  • Hình ảnh súng và sao cụ thể mà giàu tính biểu tượng. đầu súng gợi cảnh chiến tranh, sao vẽ ra khung cảnh thanh bình, tương lai tươi sáng hay ánh sao còn ẩn dụ cho đôi mắt người yêu.

– Hình ảnh đoàn dân công

  • Ánh đuốc sáng gợi không khí lao động hăng say, phá đá mở đường. Ánh sáng đó toát lên sức mạnh, khí thế và gieo lên niềm tin tươi sáng.
  • Hình ảnh “bước chân nát đá” tô đậm sức mạnh vĩ đại của đoàn dân công.
  • Đoàn dân công có vẻ đẹp của anh hùng ra trận, sức mạnh của chiến tranh nhân dân.

– Đoàn quân ra trận gởi về bao chiến công vang dội, làm chấn động địa cầu:

  • Liệt kê các địa danh để thấy chiến thắng dồn dập, tưng bừng
  • Điệp từ “vui” diễn tả niềm hồ hởi, phấn khích vô biên trong chiến thắng

=> Đoạn thơ tái hiện chân dung Việt Bắc trong những ngày ra trận, qua đó ca ngợi Việt Bắc anh hùng, đất nước anh hùng.

III. Kết bài

Việt Bắc là bài thơ xuất sắc ghi đậm dấu ấn của Tố Hữu. Tác phẩm không chỉ hài hào giữa cổ điển và hiện đại, cảnh và người, tình và lý mà còn là chất thơ dân gian, sử thi anh hùng ca đặc biệt chỉ có ở Tố Hữu.

Số 8: Dàn ý phân tích Việt Bắc

I. Mở bài

– Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm:

+ Tố Hữu được coi là cây đại thụ của làng thơ ca Việt Nam hiện đại, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.

+ Bài thơ “Việt Bắc” là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến, là tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, của dân tộc Việt Nam.

II. Thân bài

Nêu cảm nhận về nội dung bài thơ Việt Bắc

* Khái quát về bài thơ

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10 năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, những người kháng chiến rời căn cứ Việt Bắc trở về miền xuôi.

– Giá trị nội dung: Bài thơ ôn lại một thời kì kháng chiến gian khổ và hào hùng, thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những con người kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, đối với quê hương Cách mạng.

– Ý nghĩa nhan đề:

+ Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

+ Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.

Cảm nhận về bài thơ

Luận điểm 1: Tâm trạng của người ở lại (Lời đối đáp thứ nhất)

– Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay:

+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

+ Cách xưng hô “mình – ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.

+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.

=> Cảm xúc đặc biệt sâu sắc trong tâm hồn, nỗi bâng khuâng, xao xuyến của cả người đi và người ở.

– Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:

+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.

+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.

+ Nhớ đến quãng thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, …

+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.

=> Nỗi nhớ thể hiện qua hình ảnh những sự kiện nổi bật, quan trọng thể hiện sự gắn bó của những người chiến sĩ cách mạng.

Luận điểm 2: Tâm trạng của người ra đi (Lời đối đáp thứ hai)

– Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữa người đi, kẻ ở.

– Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,… thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

– Nhớ đến con người Việt Bắc:

+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.

+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp học i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.

+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.

– Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”,…

– Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền… núi Hồng”

=> Nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ… tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.

Luận điểm 3: Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm vào Việt Bắc Cách mạng.

– Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.

– Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.

– Khẳng định vai trò, vị trí của Việt Bắc trong kháng chiến và lời thề thủy chung, son sắt:

+ Việt Bắc trước hết là quê hương cách mạng, là đầu não, là cái nôi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

+ Việt Bắc còn là nơi khích lệ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, nơi tiếp thêm cho quân và dân ta niềm tin, niềm hi vọng về ngày chiến thắng.

+ Lời thề thủy chung son sắt.

* Đặc sắc nghệ thuật

– Sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát, lối đối đáp

– Sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta)

– Ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc.

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Số 9: Dàn ý bài thơ Việt Bắc

I. Mở bài

– Việt Bắc, khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách mạng.

– Nỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc là một nội dung nổi bật của bài thơ, được thể hiện hết sức xuất sắc trong đoạn thơ trên.

II. Thân bài

– Hai dòng đầu của đoạn thơ vừa giới thiệu chủ đề của đoạn, vừa có tính chất như một sự đưa đẩy để nối các phần của bài thơ lại với nhau. Người ra đi đã nói rõ:

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Trong nỗi nhớ của người đi, cảnh vật lẫn con người Việt Bắc hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất.

– Trong tám dòng thơ tiếp theo, tác giả tạo dựng một bộ tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân – Hạ – Thu – Đông. Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ cổ điển. Bút pháp miêu tả nhất quán: câu lục để nói cảnh, còn câu bát dành để “vẽ” người.

– Bức tranh thứ ba nói về mùa hè. Gam màu vàng được sử dụng đắt địa. Đó là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá. Do cách diễn đạt tài tình của rừng phách, ta có cảm tưởng tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và ngược lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve.

Hình ảnh “cô gái hái măng một mình” xuất hiện đã cân bằng lại nét tả đầy kích thích ở trên. Nó có khả năng khơi dậy trong ta những xúc cảm ngọt ngào.

– Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm đềm. Trên nền bối cảnh ấy, “tiếng hát ân tình thủy chung” ai đó cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc?

III. Kết bài

– Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng một ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng sâu sắc còn lại là nghĩa tình đối với “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.

Số 10: Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc

I. Mở bài

– “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”. (Tố Hữu). Chặng đường kháng chiến chống Pháp đầy gian lao kết thức với sự thắng lợi vẻ vang, vào thời gian 10.1945, trung ưong Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc dời về thủ đô Hà Nội. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến với đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

– Bài thơ là khúc hát giao duyên, là lời nhắn gửi tâm tình giữa người về xuôi và người ở lại, lời giải bày tình cảm thắm thiết và cả nỗi nhớ trùng điệp của người ra đi. Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm thơ thể hiện tài năng đỉnh cao, phong cách của Tố Hữu…

II. Thân bài

  1. Hai mươi câu thơ đầu: Kỉ niệm kháng chiến qua đó bộc lộ tình quân dân thắm thiết

– Lời nhắn nhủ của người Việt Bắc:

+ Bốn dòng thơ đầu có hai câu hỏi tu từ, người ở lại hỏi người ra đi có còn nhớ “ta” là người nơi đây, hỏi nhớ “núi, nguồn” là nhớ mảnh đất đã từng chung sống, gắn bó 15 năm nghĩa tình. Câu hỏi mượn cớ nhưng thực ra là nhắc nhở, nhắn nhủ người về xuôi đừng quên mảnh đất tình người.

→ Sự tình chung, tình cảm đạo lí. Hiệu quả của nghệ thuật câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc người nói, người ở lại kín đáo bộc lộ nỗi nhớ và tình yêu dành cho người về xuôi không phai mờ, trân trọng.

+ Lời giải bày của nhà thơ, tự nhắc nhở mình

– Tâm sự của người về xuôi trong buổi chia tay

+ Bốn câu tiếp gợi ra khung cảnh chia tay. “Bên cồn gợi địa điểm chia tay ở bến sông nào đó, tiếng hát làm nền, nhân vật người ddi kẻ ở bịn rịn, ban tay nắm chặt không rời, xúc động không nói nên lời. Tất cả tạo nên bầu không khí ngập tràn tình cảm, bin rịn, quyến luyến tình quân dân.

+ Từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” lột tả tâm trạng xốn xang, xao xuyến vì tình cảm bị níu kéo lại. Diễn tả nỗi lòng thương mến của người ở lại dành cho con người, Việt Bắc.

+ “Áo chàm” hình ảnh ẩn dụ Việt Bắc. Tượng trưng cho tâm hồn chất phác, chân thành, sâu nặng của người Việt Bắc.

– Trong lúc chia tay, khơi gợi lại những tháng ngày gian khổ ở chiến khu

+ “Mưa nguồn suối lũ”: đất trời vần vũ, chìm trong mưa gió bão bùng, sự khắc nghiệt của mùa mưa Việt Bắc khiến cuộc sống trong rừng thêm khó khăn.

+ “Những mây cùng mù” biện pháp chêm xen nhấn mạnh bầu trời u ám nặng nề, gian khổ đè nặng, ẩn dụ những ngày đầu khó khăn của kháng chiến

+ “Miếng cơm chấm muối”: vừa tả thực vừa ước lệc chỉ những thiếu thốn mọi mặt ở chiến khu.

+ Khi gian khổ có nhau đến khi vui sướng người đi kẻ ở, giờ phút chia tay lòng người ở lại bỗng xôn ao vì tiếc nuối nhớ nhung. Biện pháp hoán dụ “rừng núi” chỉ người Việt Bắc, nỗi nhớ thêm kín đáo, đại từ “ai” phong cách dân gian mộc mạc

+ Người Việt Bắc nhắc đến kỉ niệm lịch sử khó quên, tự hào về mảnh đất anh hùng..

⇒ Hình thức đối thoại, đoạn thơ diễn tả tình cảm người Việt Bắc dành cho cán bộ chiến sĩ thắm thiết, mặn nồng.

  1. Những tâm sự của người ra đi

– “Ta với mình, mình với ta” là một sự khẳng định tấm lòng thủy chung, một lòng mặn mà của người đi kẻ ở.

– Người ra đi luyến tiếc để nỗi nhớ vào thiên nhiên, nhớ về trăng vào những buổi chiều tà, nắng hiu hắt chiều sương, rừng nứa bờ tre… nhớ về thời gian bốn mùa cùng bên nhau

– Nhớ về con người Việt Bắc: dù có gian khó, gập ghềnh nhưng không chùn bước, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi qua cơn đói rét. Nhớ về những kỉ niệm ấm áp bên bộ đội và đồng bào cùng các điệu hát, “lớp học I tờ”… hình ảnh mộc mạc của “cô em gái” lao động

– Nhớ hình ảnh đoàn kết, hào hùng xông pha đánh giặc

– Nhớ những chiến công lẫy lừng, niềm vui thắng trận

⇒ Tình cảm người chiến sĩ dành cho con người và quê hương Việt Bắc cũng là tình cảm nhà thơ dành cho nhân dân, đất nước, tình yêu cuộc sống kháng chiến

  1. Bức tranh tứ bình qua cái nhìn đầy ưu ái của Tố Hữu

– Lời tâm sự của người đi tha thiết, sâu lắng.

+ “Hoa và người”: nỗi nhớ hướng đến đối tượng cụ thể

+ Đại từ nhân xưng “mình-ta” thể hiện tình yêu thương gắn bó sâu nặng của người đi kẻ ở

+ Điệp từ “ta về” đầu câu bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng luyến lưu, vấn vương trong buổi chia tay, khơi gợi về quá khứ.

– Trong nỗi nhớ, bức tranh hiện ra có vẻ đẹp gắn bó giữa cảnh với người

+ Cảnh thiên nhiên gói lại trong 4 mùa, thành bộ tranh tứ bình ghi lại bơỉ bút pháp chấm phá, hồn thơ cổ điển

+ Vẻ đẹp mùa đông: thiên nhiên có nét chấm phá sắc đỏ thắm tươi của hoa chuối, sự tương phản màu sắc gợi vẻ rực rỡ. Không gian bỗng trong sáng, ấm áp nhờ sắc đỏ, khiến nỗi nhớ thêm rạo rực lòng người.

+ Đất trời vào xuân, thiên nhiên Việt Bắc khoác trên mình gam màu xanh lá của núi rừng điểm tô dưới sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Động từ “nở” cùng tính từ “trắng” gợi những đóa hoa đang khoe sắc, độ xuân thì. Trong cảnh xuân con người miệt mài lao động, tạo bức tranh hài hòa

+ Sang hè, Việt Bắc mang sắc vàng tươi xinh của rừng phách. Phong cảnh mùa hạ hiện ra cổ điển, hữu tình ngời sáng, lung linh

+ Sau cùng là cảnh thu với vẻ đẹp của đêm trăng. Một nét huyền ảo, hiền hòa, mộng mơ. Vẻ đẹp mang theo bao ước mơ tươi sáng ở tương lai

– Đoạn thơ khép lại bằng “khúc hát ân tình thủy chung”. Đó là tiếng hát của người ở lại, cũng là của người ra đi. Khúc hát của sự hy vọng thiết tha, tình quân dân đậm sâu.

⇒ Đoạn thơ mở ra thế giới của cái đẹp: bức tranh thiên nhiên đẹp, con người đẹp, trong đó là tấm lòng đẹp theo cùng nỗi nhớ đẹp. Thể hiện tình quân dân, tình đất nước cao đẹp của nhà thơ.

  1. Còn lại: Việt Bắc rộng lớn trong tháng ngày ra trận hào hùng.

– Bút pháp sử thi tác giả khắc họa đoàn quân sục sôi khí thế trên những nẻo đường ra trận.

+ Điệp từ “đêm đêm” tả thời gian dài, từ láy “rầm rập” âm thanh phối hợp cùng nhịp thơ 2/2 gợi tả bước chân hành quân đều nhịp, chắc khỏe.

+ Biện pháp nói quá “đất rung” chứng tỏ sức mạnh đoàn quân phi thường.

+ Chân dung đoàn quân tiêu biểu cho dân tộc anh hùng.

– Đường hành quân gian lao, nguy hiểm nhưng chiến sĩ vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, mây trời, niềm vui ngắm cảnh: cho thấy lòng yêu đời, lạc quan, tin vào tương lai.

+ Hoán dụ “mũ nan”: người chiến sĩ ra chiến trường mang theo mối tình quân dân để tiếp thêm động lực chiến đấu

+ Hình ảnh súng và sao cụ thể mà giàu tính biểu tượng. đầu súng gợi cảnh chiến tranh, sao vẽ ra khung cảnh thanh bình, tương lai tươi sáng hay ánh sao còn ẩn dụ cho đôi mắt người yêu.

– Hình ảnh đoàn dân công

+ Ánh đuốc sáng gợi không khí lao động hăng say, phá đá mở đường. Anhs sáng đó toát lên sức mạnh, khí thế và gieo lên niềm tin tươi sáng.

+ Hình ảnh “bước chân nát đá” tô đậm sức mạnh vĩ đại của đoàn dân công.

+ Đoàn dân công có vẻ đẹp của anh hùng ra trận, sức mạnh của chiến tranh nhân dân

– Đoàn quân ra trận gởi về bao chiến công vang dội, làm chấn động địa cầu.

+ Liệt kê các địa danh để thấy chiến thắng dồn dập, tưng bừng

+ Điệp từ “vui” diễn tả niềm hồ hởi, phấn khích vô biên trong chiến thắng

⇒ Đoạn thơ tái hiện chân dung Việt Bắc trong những ngày ra trận, qua đó ca ngợi Việt Bắc anh hùng, đất nước anh hùng.

III. Kết bài

Việt Bắc là bài thơ xuất sắc ghi đậm dấu ấn của Tố Hữu. Nó không chỉ hài hào giữa cổ điển và hiện đại, cảnh và người , tình và lí mà còn là chất thơ dân gian, sử thi anh hùng ca đặc biệt chỉ có ở Tố Hữu

Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 dàn ý Việt Bắc chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chia sẻ
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.