Top 10 mẫu dàn ý bài Vợ nhặt chi tiết nhất

220
Top 10 mẫu dàn ý Vợ nhặt chi tiết nhất
Top 10 mẫu dàn ý Vợ nhặt chi tiết nhất
4.8/5 - (13 votes)

Tổng hợp các bài mẫu Dàn ý Vợ nhặt của tác giả Kim Lân một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu dàn ý bài Vợ nhặt chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Xem thêm:

Top 10 mẫu dàn ý Vợ nhặt chi tiết nhất

Số 1: Dàn ý Vợ nhặt chi tiết

I. Mở bài

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn chuyên nghiệp. Ông tập trung viết về cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân lao động. “Vợ nhặt” rút từ tập “Con chó xấu xí”, là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân, miêu tả tình trạng thê thảm của họ trong nạn đói năm 1945, nhưng cũng ngợi ca bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ.

II. Thân bài

  1. Ý nghĩa nhan đề

– Trước hết, từ “vợ” là một danh từ thiêng liêng, dùng để chỉ người phụ nữ trong mối quan hệ được pháp luật công nhận với “chồng”. Theo phong tục, vợ chồng chỉ được công nhận khi có sự chứng kiến của họ hàng, làng xóm. Còn “nhặt” là hành động cầm vật bị đánh rơi lên.

– Kim Lân đã sáng tạo ra một nhan đề độc đáo. Vì người ta chỉ nói “nhặt” được một món đồ nào đó. chứ không ai nhặt được một con người về làm vợ bao giờ cả. Nhưng qua đó, nhà văn đã thể hiện được cảnh ngộ thê thảm của con người lúc bấy giờ.

– Nhan đề “Vợ nhặt” trước hết khái quát được tình huống của truyện. Đồng thời đó cũng lời kết án đanh thép của Kim Lân đối với chế độ thực dân đã đẩy người nông dân vào tình cảnh nghèo đói, người “chết như ngả rạ”.

– Nhan đề “Vợ nhặt” có tính khái quát cao, hoàn cảnh của Tràng chỉ là một trong số đó. Đồng thời, qua nhan đề nhà văn cũng thể hiện sự đồng cảm xót xa cho cảnh ngộ của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

  1. Tình huống truyện

– Tràng – một người dân ngụ cư xấu xí bỗng dưng lại có vợ mà lại là nhặt được, theo về không.

– Tình huống độc đáo, bất ngờ: với Tràng (hoàn cảnh của Tràng khó mà lấy được vợ nhưng nghiễm nhiên có vợ theo không về, tự ngờ ngờ mình đã có vợ ư), với những người xung quanh (thắc mắc bàn tán), với bà cụ Tứ.

– Tình huống éo le: Hoàn cảnh gia đình và xã hội (khung cảnh nạn đói) không cho phép Tràng lấy vợ, cả hai vợ chồng đều là những người cùng cực, khó có thể trở thành chỗ dựa cho nhau.

  1. Nhân vật Tràng

a) Hoàn cảnh gia đình

– Xuất thân: Dân xóm ngụ cư, cha mất sớm, sống với mẹ già trong một căn nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh…

– Ngoại hình: “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về…

b) Hành động và tâm trạng

* Khi gặp gỡ người vợ nhặt

– Lần gặp 1: Lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.

– Lần gặp 2:

  • Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.
  • Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.
  • Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.

* Trên đường về

– Vẻ mặt “có cái gì hớn hở khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”… Đó là tâm trạng hạnh phúc, hãnh diện.

– Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.

c) Khi về đến nhà

– Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.

– Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay. Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Đây là biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.

– Khi bà cụ Tứ về: Thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lý do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

* Sáng hôm sau khi tỉnh dậy

– Tràng nhận thấy sự thay đổi kỳ lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo…). Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.

– Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.

=> Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

  1. Nhân vật người vợ nhặt

a) Lai lịch

– Không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.

– Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt”: thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.

b) Chân dung

– Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

– Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

– Lần thứ hai: Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”. Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ … cùng về”, thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống.

=> Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy.

c) Phẩm chất

– Có khát vọng sống mãnh liệt:

Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.

Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

– Thị là người ý tứ và nết na:

  • Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
  • Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.
  • Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không làm bà buồn.

=> Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

– Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

– Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

  1. Nhân vật bà cụ Tứ

– Giới thiệu nhân vật: dáng đi lọm khọm, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người già.

– Bà ngạc nhiên trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch, ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà lạ.

– Bà hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, “mắt bà nhòa đi”: thương cho con trai phải lấy vợ nhặt, mà trong cảnh đói khát mới lấy được vợ, thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con trai bà.

– Bà đối xử tốt với nàng dâu mới: “Con ngồi đây … đỡ mỏi chân”, nói về tương lai với niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn, …

– Nhận xét: bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, nhân hậu.

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần gũi.

– Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, phản ánh chân thực tình cảnh người nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của họ.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 2: Dàn ý Vợ nhặt

I. Mở bài

–     Giới thiệu đôi nét về tác giả Kim Lân (Năm sinh? Đặc trưng sáng tác?…).

–     Giới thiệu đôi nét về tác phẩm Vợ nhặt.

–     Đề cập vấn đề sẽ nghị luận (dựa theo đề bài: phân tích về nhân vật thị).

II. Thân bài

–     Khái quát:

+ Tác phẩm Vợ nhặt: In trong tập thơ nào? Hoàn cảnh sáng tác? Nội dung chính? Ý nghĩa? …

+ Bức tranh nạn đói 1945 trong truyện: con người, không gian, …

+ Tình huống truyện

–     Giới thiệu nhân vật Thị:

+ Lai lịch, tình cảnh: tha hương cầu thực, không tên tuổi, nghèo đói, cuộc sống bấp bênh.

+ Vẻ ngoài, cử chỉ, điệu bộ: sưng sỉa, thô lỗ, …

–     Phẩm chất đáng quý của nhân vật thị:

+ Một người có nghị lực, khát vọng sống mãnh liệt.

+ Trước lúc gặp Tràng, ai kêu làm gì thị làm nấy miễn có ăn.

+ Theo Tràng làm vợ nhặt chỉ để có ăn.

+ Sau biết điều kiện gia đình chồng nghèo khó chứ không được như cách Tràng khao thị ăn bánh đúc, vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

=>  Đói nghèo tha hóa Thị. Đứng trước sống chết thì sĩ diện không còn là vấn đề.

+ Một người phụ nữ có ý tứ, biết chừng mực, đảm đang.

+ Cách thị đi theo Tràng trên đường về làng. Biết ngượng khi bị lũ con nít trong làng chọc ghẹo.

+ Vào nhà vẫn “lẳng lặng”, nén tò mò chỉ “đảo mắt” nhìn quanh căn nhà, chỉ ngồi ở mép giường.

+ Rụt rè, chủ động chào mẹ chồng.

+ Sáng hôm sau, dậy sớm chăm lo cửa nhà, lễ phép với mẹ chồng.

+ Ăn cháo cám vẫn giữ vẻ điềm nhiên để gia đình không phải mất vui, khó xử.

=>  Khao khát mái ấm gia đình. Bản chất thị rất đẹp chỉ do nhất thời trong hoàn cảnh khốn khổ mới trở nên đanh đá.

+ Thông minh, có hiểu biết về cách mạng, đặt niềm tin vào tương lai:

+ Kể chuyện Việt Minh ở Bắc Giang, Thái Nguyên cho Tràng.

–     Nhận xét chung:

+ Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo.

+ Nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện, cách dẫn cách kể chuyện, cách miêu tả nhân vật, ngôn ngữ sử dụng trong truyện.

III. Kết bài

–     Khẳng định giá trị của tác phẩm, tài năng của tác giả – Kim Lân.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 3: Dàn ý bài Vợ nhặt

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Kim Lân và những đóng góp của ông cho văn học Việt Nam.
  • Giới thiệu truyện ngắn Vợ nhặt

II. Thân bài

a) Bối cảnh truyện ngắn:

Diễn ra vào giữa nạn đói năm 1944-1945, khiến hơn hai triệu đồng bào ta ở miền Bắc phải chịu cảnh chết đói.

Ở xóm ngụ cư:

  • Cảnh người dân từ khắp nơi bồng bế, dìu dắt, thất thểu đi trên đường làng, ai nấy đều “xanh xám như bóng ma”, người đói “ngổn ngang khắp lều chợ”.
  • “người chết như ngả rạ”, “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Bao trùm lên toàn bộ không gian ấy là tiếng quạ kêu thảm thiết từng hồi, như một loại kèn quái dị đưa ma những kẻ xấu số, chết không có chỗ chôn.

b) Nhân vật Tràng:

  • Là một người dân ngụ cư, xấu xí, và nghèo đói, tính tình vô tư không lo nghĩ, chính vì thế Tràng không có nổi một tấm vợ. Ngày ngày anh làm nghề kéo xe bò thuê để kiếm miếng ăn.
  • Tuy nhiên cuộc đời khốn khó và bế tắc của Tràng bỗng có một bước ngoặt lơn khi anh “nhặt” được một cô vợ giữa buổi đói kém. Một cô vợ theo không anh chỉ sau hai lần gặp gỡ và bốn bát bánh đúc.
  • Ban đầu anh cũng không có cái gọi là tình yêu trai gái gì với thị, chỉ đơn giản rằng anh đồng cảm, thương xót cho người đàn bà khốn khổ đã đói đến mức vật vờ, sắp chết nên đãi thị bốn bát bánh đúc => Lòng lương thiện, là tình người khi sống với nhau ở trên đời của Tràng.
  • Khi đã thành vợ, thành chồng, Tràng cảm thấy mình có nghĩa vụ phải săn sóc và quan tâm đến cái người đàn bà đang đi bên cạnh mình. Tràng bỗng lột xác trở thành một người đàn ông tinh tế:
  • Thấy vợ rách nát tàn tạ quá, lại không có đồ đạc gì ngoài cái nón rách, anh dẫn thị vào chợ huyện mua lấy một cái thúng con và vài đồ lặt vặt.
  • Mua hai hào dầu về thắp đèn, cho cửa sáng sủa để đón thị về làm dâu.
  • Tràng bỗng nhiên trưởng thành hơn trong nhận thức, thứ tình cảm với thị không chỉ còn nằm ở lòng thương hại, mà giờ đây đã trở thành tình thân, tình yêu, thứ tình cảm ấy khiến con người ta trưởng thành, nhân hậu và tinh tế hơn hẳn.
  • “trong một lúc Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt”. Tình yêu, hạnh phúc lứa đôi đã xóa mờ đi tất cả những khó khăn chất chồng, sự đe dọa của đói kém, mở ra trong lòng nhân vật những cảm xúc, những hy vọng mới mẻ, niềm tin mãnh liệt về một cuộc sống khấm khá hơn.
  • Sau đêm tân hôn, Tràng đã nhận thức được trách nhiệm của bản thân với cuộc sống, với gia đình
  • Biểu hiện rõ nét nhất về niềm hy vọng vào một cuộc sống tương lai tốt đẹp đang đón chờ của nhân vật.
  • Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” chính là giải pháp, là niềm tin, niềm hy vọng mới của Tràng, mở ra cho anh một con đường sáng, đưa cả gia đình thoát khỏi cảnh bế tắc và tối tăm.

c) Nhân vật thị:

  • Không tên tuổi, quê quán, dân ngụ cư, cong cớn sưng sỉa vì miếng ăn, cuối cùng theo không anh Tràng cũng vì miếng ăn.
  • Khao khát được sống, cầu được sống, thị trân trọng mạng sống của mình, thế nên thị buộc phải cong cớn, sưng sỉa để được ăn và cuối cùng là về làm vợ Tràng.
  • Khi nhìn thấy cái căn chòi rách nát của Tràng thị đã không khỏi thất vọng, thở dài, thế nhưng thị chọn im lặng, quyết tâm cùng chồng vun vén, tạo dựng hạnh phúc cho ra đình.
  • Thị vẫn còn nhớ cái ân nghĩa của người chồng cho thị 4 bát bánh đúc, cứu thị khỏi chết đói, và thị cảm động bởi cái sự săn sóc của Tràng.
  • Thị càng trân quý hơn cái tình cảm của bà mẹ chồng dành cho mình, bà đã không chê thị là loại cocửa, đem quần áo rách ra phơi, gánh đầy hai ang nước, quét sân, trang hoàng nhà cửa, lột xác trở thành một người phụ nữ đảm đang tháo vát, biết chăm lo => Sự trân quý thứ tình thân vừa mới có được và thị muốn hết lòng vì nó.
  • Trước món “chè khoán”, đắng ngắt và khó khăn, thị đã giấu đi nỗi thất vọng và buồn tủi của mình cốt để bà cụ khỏi buồn, và không phá vỡ đi cái không khí gia đình đang đầm ấm, yên vui này.
  • Niềm hy vọng vào cuộc sống rất mãnh liệt, thị đã nhắc đến chuyện người ta đi phá kho thóc của nhật, và lòng thị cũng dần rộn lên những suy nghĩ về việc đi cướp thóc, cải thiện cuộc sống.

d) Bà cụ Tứ:

  • Nghèo khó cả đời buôn ba khốn khổ nuôi con khôn lớn, khi con lớn rồi thì bà lại cứ mãi day dứt về chuyện không thể cưới nổi vợ cho con.
  • Xót xa cho cái phận mình, phận con lấy vợ ngay giữa nạn đói, không cỗ bàn, cưới hỏi, giữa cái không khí thê thảm, tiêu điều của làng xóm, lo lắng một nỗi rằng không biết rồi đôi vợ chồng có thể dìu dắt nhau qua được cái nạn đói khủng khiếp này không. = > Tấm lòng thương con sâu sắc.
  • Nhanh chóng lạc quan và thông suốt bà thương con và thương cả người đàn bà đã theo con mình, phải vào bước đường cùng thì người ta mới chịu lấy con mình, vì thế bà lại càng thêm quý trọng mối nhân duyên này.
  • Xuất phát từ tấm lòng của người mẹ bao dung, nhân hậu bà liên tục cho các con những lời dặn dò, động viên tinh thần để các con chăm lo làm ăn, ổn định cuộc sống, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình.
  • Bà cụ đã xua đi cái không khí u ám, buồn rầu của nạn đói bằng cách liên tục kể các câu chuyện vui, gieo vào lòng con trai con dâu những niềm tin, niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng với các kế hoạch làm ăn, nuôi gà,… vạch ra một chặng đường tương lai đầy hứa hẹn khiến không khí gia đình trở nên sôi nổi, hạnh phúc.
  • Hình ảnh nồi chè khoán là tấm lòng của người mẹ, đang cố xua đi những cái đói, cái u ám của sự tử vong dần lan trên xóm ngụ cư.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị của tác phẩm
  • Nêu cảm nhận.

Số 4: Dàn ý phân tích Vợ nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân (những nét chính về tiểu sử, các tác phẩm chính, phong cách nghệ thuật…)

– Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật..)

II. Thân bài

a) Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện

* Ý nghĩa nhan đề

– Vợ: biểu tượng cho khát khao tổ ấm, hạnh phúc gia đính, mang ý nghĩa trọng đại và lớn lao

– Nhặt: hành động rẻ rúng, tầm thường

→ Vợ nhặt có nghĩa là nhặt được vợ, gợi sự rẻ rúng của thân phận con người và tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói năm 1945

* Tình huống truyện

– Tình huống: Tràng – một người dân ngụ cư xấu xí bỗng dưng lại có vợ mà lại là nhặt được, theo về không.

– Đây là một tình huống vừa éo le, vừa độc đáo, bất ngờ nhưng cũng hết sức hợp lí, thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm:

+ Giá trị hiện thực: bức tranh hiện thực về cuộc sống khốn khó, nghèo khổ của con người và thân phận rẻ rúng của con người tới mức có thể nhặt được vợ

+ Giá trị nhân đạo: lời kết tội đanh thép về tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật và tay sai. Đồng thời, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự đùm bọc lẫn nhau và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người trong cuộc sống khó khăn, vất vả và nghèo khổ

b) Nhân vật Tràng

* Ngoại hình

– Dáng người thô kệch, cái cười khềnh khệch

– Lưng Tràng như con gấu

– Quai hàm bạnh ra

– Dân ngụ cư

* Diễn biến tâm trạng của Tràng

– Chợn, nghĩ: lo sợ vì không biết bản thân mình có nuôi nổi không lại còn đèo bòng

– Tặc lưỡi, “chậc, kệ”: niềm khát khao hạnh phúc tổ ấm gia đình đã lớn hơn mọi nỗi lo lắng, sợ hãi

– Trên đường đưa vợ về nhà:

+ Vẻ mặt phớn phở, tủm tỉm cười nụ một mình,mắt sáng lên lấp lánh, cái mặt vênh lên tự đắc với mình

+ Mua dầu về thắp để khi thị về căn nhà của mình trở nên sáng sủa hơn.

– Lúc về đến nhà:

+ Ngượng ngịu, đứng tây ngây ra giữa nhà, lo lắng không biết bà cụ Tứ có chấp nhận người vợ củ mình hay không

+ Loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng rồi lại chạy vào sân rồi lại nhìn trộm vào trong nhà

+ Nhổ vu vơ một bãi nước bọt

+ Lúc bà cụ Tứ về: reo lên như một đứa trẻ, lật đật chạy ra đón, tươi cười, bảo mẹ ngồi rồi nói “Kìa, nhà tôi nó chào u”

→ Tâm trạn vui sướng đến tột cùng của Tràng

– Sáng hôm sau:

+ Êm ái, lửng lơ như trong mơ bước ra, hạnh phúc vô bờ bến, một niềm hạnh phúc không thể gọi thành tên

+ Nhìn cảnh nhà cửa gọn gàng, Tràng thấy cảm động, thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột, ngập tràn

⇒ Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Sự thay đổi đó xuất phát từ tình yêu thương. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

c) Nhân vật bà cụ Tứ

* Ngoại hình

– Dáng người lọng khọng

– Vừa đi vừa húng hắng ho, vừa lẩm bẩm tính toán

→ Nghèo khó, vất vả, cơ cực, lam lũ và đầy lo toan

* Diễn biến tâm trạng

– Ngạc nhiên, tỏ ý không hiểu: bà không tin vào sự thật rằng Tràng đã có vợ

– Bà hiểu và hiểu ra bao nhiêu cơ sự – bà tin là Tràng đã có vợ và người phụ nữ kia chính là con dâu của bà:

+ Ai oán, xót thương

+ Bà khóc vì thương con, vì lo cho con, vì bà không làm tròn bổn phận của người mẹ

+ Vui vẻ đón nhận nàng dâu mới với tất cả tình yêu thương, sự đùm bọc, chở che

– Sáng hôm sau:

+ Tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủm beo u ám của bà tươi tắn hẳn lên

→ Sự vui mừng, phấn khởi, hạnh phúc

+ Trong bữa cơm sớm, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau

→ Thắp sáng nên sự lạc quan, yêu đời và niềm tin vào tương lai tươi sáng

⇒ Bà cụ Tứ không chỉ là người mẹ nhân hậu, yêu thương con àm còn là một người giàu lòng yêu thương, sự giúp đỡ người khác dẫu trong hoàn cảnh khó khăn

d) Nhân vật “người vợ nhặt”

* Ngoại hình

– Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt

– Áo quần rách như tổ đỉa

– Cái ngực gầy lép nhô lên

→ Một ngoại hình không mấy dễ nhìn. Thị là hiện thân của sự nghèo đói, khốn khổ

* Hành động và diễn biến tâm trạng

– Khi gặp Tràng:

+ Hành động: ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mặt, cười tít, sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc, ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng

+ Lời nói: chua ngoa, đanh đá

→ Những hành động và lười nói này của thị bắt nguồn từ cái đói, đói đến mức khiến người ta mất đi cả lòng tự trọng, sĩ diện và sự e thẹn, dịu dàng vốn có của người phụ nữ

– Trên đường theo Tràng về nhà: rón rén, e thẹn, ngượng nghịu, chân nọ bước díu vào chân kia. Tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp khi bước chân về “làm dâu ngà người”.

– Khi về đến nhà:

+ Đảo mắt nhìn xung quanh, nén một tiếng thở dài, nhếch mép, cười nhạt nhẽo

+ Ngồi mớm ở mép giường, tay vẫn ôm khư khư cái thúng con

→ Thị mang tâm trạng chông chênh, lo âu khi mới bước chân về làm dâu

– Sáng hôm sau: một người đàn bà hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn

→ Sự thay đổi xuất phát từ tình thương

⇒ Ngoại hình, hành động, lời nói của thị là nạn nhân của cái đói, cái khổ. Song cái đói, cái khổ không làm mất đi ở thị vẻ đẹp tâm hồn của một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, luôn khát kháo yêu thương, hạnh phúc và tràn đầy niềm tin vào tương lai

III. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo) và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 5: Lập dàn ý Vợ nhặt

I. Mở bài

– Kim Lân (1920- 2007), là một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân Việt Nam trước cách mạng

– Kim Lân có rất nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó Vợ Nhặt  là truyện ngắn xuất sắc nhất in trong tập “Con chó xấu xí” (1962).

II. Thân bài

  1. Tình huống truyện

– Truyện ngắn Vợ nhặt miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân Việt Nam tong nạn đói khủng khiếp năm 1945.

– Trong bối cảnh của nạn đói, Tràng, một người xấu trai, ngèo khổ, sống ở xóm ngụ cư, tính ngốc ngếch, vì nghèo mà không lấy được vợ. Nhưng trong cảnh nghèo đói năm 1945 anh ta dễ dàng “nhặt” được vợ.

  1. Nhân vật Tràng

–  Là một gã trai nghèo, xấu xí, lại là dân ngụ cư. Anh âm thầm sống cùng mẹ già trong nếp nhà xiêu vẹo bên mảnh vườn rúm ró những đám cỏ dại. Anh thật thân thiện dễ mến nên được lũ trẻ con coi như người bạn. Đó cũng là chàng trai lao động khỏe khoắn yêu đời giữa cuộc sống đói nghèo lam lũ. Giữa ngày đói câu hò của anh như xua tan mệt mỏi, mang cảm giác vui vui. Anh cũng thật hào phóng khi mời cô gái món quà quê.

– Trong cảnh nghèo đói, anh Tràng nhặt được vợ. Một tình huống tưởng chừng như một trò đùa nhưng nó lại là sự thật. Lúc đầu Tràng thây lo sợ, nhưng sau đó thì thấy phởn phơ, vui mừng, Tràng trở thành một con người hào phóng, quên đi hết những cay cực tăm tối trên đời.

– Trong hoàn cảnh nghèo đói, khó khăn nhưng Tràng luôn khát khao về một cuộc sống hạnh phúc.

  1. Nhân vật Thị

– Một người không tên tuổi chỉ được gọi là Thị, không quê quán, không họ hàng, xuất hiện giữa chợ tỉnh, phận gái giữa đường bèo bọt dẻ dúng chẳng có giá trị gì, giữa lúc đói khát đa đẩy Thị đến bờ vực của cái chết. Cái đói còn biến Thị trở thành kẻ liều lĩnh cùng đường, trong cái đói còn biến Thị trở thành kẻ liều lĩnh cùng đường, trước miếng ăn, hai con mắt của Thị sáng lên, ngồi cắm đầu ăn một chọc bốn bát bánh đúc, thế rồi sẵn sàng theo không người ta chỉ bằng mấy câu nói tầm phào.

– Lúc đầu Thị hiện lên là một người cong cớn, sưng sỉa, vô duyên. Sau đó, khi về làm vợ chàng Thị lại khép nép, hiền hậu, ngoan ngoãn, thu vén cho gia đình.

– Là một nhân vật có sự thay đổi tính cách, cũng khao khát hạnh phúc gia đình

  1. Nhân vật bà cụ Tứ

– Được giới thiệu là một người mẹ nghèo khổ, sống cùng với một người con trai chịu nhều thiệt thòi. Cảnh ngộ của mẹ con bà thật đáng thương nhất là trong cảnh đói năm 1945. Cái đói đã kéo đến xóm ngụ cư và đến tận trong nhà bà.

– Trước sự xuất hiện của một người đàn bà xa lạ ngay trong căn nhà vắng vẻ của mình lúc đầu bà ngạc nhiên, băn khoăn, sau đó vừa vui, vừa sợ không biết liệu các con có lo nổi cho nhau hay không. Bà đã thương và thương người đàn bà xa lạ kia, phải đến bước như thế này thì người ta mới lấy con mình.

– Nhân vạt bà cụ Tứ là một người gieo mầm sự sống, là người nhem nhóm và nuôi dưỡng hi vọng, người mẹ già ấy lại là điểm kết tụ ánh sáng cho cả câu truyện.

  1. Giá trị hiện thực

– Là tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

– Cái đói dồn đuổi con người, bóp méo cả nhân cách

– Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp

– Tác phẩm có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thực dân, phát xít.

  1. Giá trị nhân đạo

– Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật.

+ Tràng rất trân trọng người “vợ nhặt” của mình.

+ Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người “vợ nhặt”

+  Tình yêu thương con của bà cụ Tứ.

– Con người luôn hướng đến sự sống và luôn hi vọng, tin tưởng ở tương lai:

+ Tràng lấy vợ là để duy trì sự sống.

+ Bà cụ Tứ, một người già lại luôn miệng nói về ngày mai với những dự định thiết thực tạo niềm tin cho dâu con vào một cuộc sống tốt đẹp.

+ Đoạn kết tác phẩm với hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người phá kho thóc Nhật.

III. Kết bài

+ Qua tác phẩm Vợ nhặt, cho thấy tài năng của tác giả qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.

+ Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm

Số 6: Dàn ý phân tích tác phẩm Vợ nhặt

I. Mở bài

  • Giới thiệu nhà văn Kim Lân
  • Giới thiệu chung về tác phẩm Vợ nhặt

II. Thân bài

  1. Phân tích tình huống truyện

-Hoàn cảnh: Nạn đói năm 1945, người chết như ngả rạ, người sống là những cái bóng vật vờ,…

-Tình huống truyện: Anh Tràng nhặt được vợ ngay trong nạn đói khủng khiếp.

-Ý nghĩa tình huống truyện:

  • Tình huống độc đáo, éo le
  • Góp phần thể hiện tư tưởng tác phẩm.
  • Là một yếu tố làm nên sự chặt chẽ trong kết cấu tác phẩm.
  • Thể hiện tình người trong gian khó và khát khao hạnh phúc của con người.
  1. Phân tích hệ thống nhân vật trong tác phẩm

a) Nhân vật Tràng

-Ngoại hình: xấu xí,

-Tính tình: cục mịch, ngờ ngệch

-Hoàn cảnh: dân ngụ cư, nghèo khổ.

-Những phẩm chất tốt đẹp trong Tràng:

  • Hiền lành, vui vẻ: Thường xuyên trêu đùa lũ trẻ con xóm ngụ cư.
  • Chăm chỉ, chịu khó làm ăn: đẩy xe bò thuê kiếm sống
  • Giàu tình cảm: sẵn sàng cưu mang người khác lúc khó khăn.
  • Nhiều chuyển biến nhận thức khi có vợ: thấy bản thân trưởng thành và có trách nhiệm hơn.
  • Lạc quan, tin tưởng vào tương lai.

b) Nhân vật thị

-Ngoại hình: gầy guộc, quần áo rách như tổ đỉa.

-Hoàn cảnh: đói khổ

-Tính tình: chua chát, chỏng lỏn

-Những phẩm chất tốt đẹp:

  • Có khát khao sống mãnh liệt.
  • Lễ phép, chu đáo, đảm đang khi cùng bà cụ Tứ dọn dẹp lại căn nhà, khu vườn vào sáng hôm sau.
  • Có trách nhiệm, biết sống vì gia đình.

c) Nhân vật bà cụ Tứ

  • Yêu thương, lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con.
  • Người mẹ mẫu mực, giàu lòng bao dung và đức hi sinh.
  • Lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống.

3.Giá trị nghệ thuật của tác phẩm

  • Xây dựng tình huống truyện đặc sắc .
  • Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm sâu sắc .
  • Ngôn từ giản dị mà giàu sức biểu đạt.

4.Giá trị nhân đạo của tác phẩm

  • Tiếng nói thiết tha, thương cảm với nỗi khổ của những người nông dân nghèo trong xã hội giữa nạn đói những năm 1945.
  • Trân trọng những khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người.
  • Mở ra một con đường để nhân dân vượt qua tăm tối, vươn tới những điều tốt đẹp, đó là con đường đấu tranh cách mạng.

III. Kết bài

Khái quát lại vấn đề phân tích.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 7: Dàn ý Vợ nhặt chi tiết

I. Mở bài

Giới thiệu nhà văn Kim Lân và Vợ nhặt. (Kim Lân là nhà văn vô cùng thành công khi viết về đề tài người nông dân nghèo. Một trong những tác phẩm nổi bật của ông chính là truyện ngắn Vợ nhặt).

II. Thân bài

a) Nhân vật anh Tràng

  • Lai lịch, ngoại hình

Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già.

Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.

Ngoại hình xấu xí, thô kệch, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch.

  • Tính cách

Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy.

Tràng là người đàn ông nhân hậu, phóng khoáng: ban đầu không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn. Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua 2 hào dầu thắp sáng trong đêm đầu có vợ.

Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm: Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ đến cảnh những người nghèo đói ầm ầm keo nhau đi trên đê Sốp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm.

  • Tổng kết

Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám.

Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng là anh phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động bằng ngòi bút sắc sảo.

Qua nhận vật Tràng, nhà văn phản ánh mặt đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo với vẻ đẹp tâm hồn của họ.

b) Nhân vật cô thị

  • Hoàn cảnh, ngoại hình:

Một người đàn bà không tên, không tuổi, không quê quán, gốc gác, không gia đình.

Không có một nhan sắc xinh đẹp, và cái đói khổ nó lại càng làm cho cái nhan sắc xấu xí ấy thêm phần thảm hại: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người ngợm “gầy xọp”, “trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, “cái ngực gầy lép nhô lên” và “hai con mắt trũng hoáy”.

  • Tính cách thị khi mới gặp Tràng:

– Cách nói năng, hành động đanh đá chua ngoa:

Cong cớn, sưng sỉa, chỏng lỏn vì miếng ăn.

Khi nghe thấy anh Tràng đãi ăn “hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên”, điệu dáng đon đả, đổi hẳn thái độ.

Cúi đầu ăn một chặp 4 bát bánh đúc không thèm chuyện trò gì, ăn xong thì lấy đôi đũa quệt ngang miệng, thở “hà”. → Vô duyên, hành động táo bạo và bất chấp vì miếng ăn.

→ Mọi hành động của Thị đều chỉ vì muốn được sống, khao khát được hạnh phúc, được có một mái ấm, một tấm chồng để nương tựa những lúc khó khăn như này dẫn đến hành động theo không Tràng về làm vợ.

→ Một hiện thực đau xót của xã hội lúc bấy giờ: giá trị con người dường như đã xuống đến mức âm, thậm chí còn không bằng cọng rơm cọng rác, để đến nỗi những người làng trông thấy Tràng dẫn vợ về họ còn cho đó là “của nợ”.

  • Sau khi trở thành vợ Tràng:

– Trên đường trở về nhà với Tràng:

Thị bỗng trở nên “e thẹn, rón rén”, đầu cúi xuống, cái nón tà nghiêng nghiêng che nửa đi khuôn mặt đang ngại ngùng, đúng với dáng vẻ của một cô dâu khi bước về nhà chồng.

Gặp phải cảnh trêu chọc của đám trẻ con, ánh nhìn ái ngại của những người làng, thị thấy khó chịu, tủi cho phận mình là một người vợ theo không.

– Khi đến nhà Tràng khung cảnh xác xơ, tiêu điều của một căn nhà tạm, khiến thị thất vọng, nhưng thị không hề phàn nàn với Tràng.

  • Khi ra mắt mẹ chồng, thị đã rất phải phép mà chào bà cụ Tứ, dáng điệu khép nép, ngại ngùng, thị đã lột xác trở thành một nàng dâu hiền lành, e ấp, khác hẳn với dáng bộ của người đàn bà đanh đá, chua ngoa ở chợ tỉnh.
  • Sau đêm tân hôn, thị trở thành một người phụ nữ của gia đình, đảm đang tháo vát, gánh lấy cái trách nhiệm thu xếp nhà cửa, đem đống quần áo rách ra sân hong, gánh nước, quét sân, gom rác đem vứt, rồi dọn cơm,…
  • Khi đối diện với nồi cháo cám “đôi mắt thị tối lại” nhưng vẫn “điềm nhiên và vào miệng” → Cách cư xử tinh tế, bộc lộ sự thấu hiểu và cảm thông.
  • Kể việc ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế mà đi phá kho thóc của Nhật. → Bộc lộ những suy nghĩ và hướng nhìn mới của thị, người đàn bà bà này không cam chịu cuộc đời đói kém và tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn.

c) Nhân vật bà cụ Tứ

  • Sự ngạc nhiên của cụ khi a Tràng dắt vợ về

Khi làm về, thấy một người phụ nữ ngồi trong nhà mà còn thưa u. Bà cụ ngạc nhiên vì con mình xấu xí, nghèo mà vẫn có vợ trong thời khó khăn.

Bà cụ vẫn không tin vào những gì con trai mình nói “Kìa nhà tôi nó chào u”… “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”

Bà vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra

  • Tâm trạng vừa mừng vừa tủi của bà cụ

Khi biết rằng con bà “ nhặt” được vợ: bà vui vì con đã an bề gia thất, buồn phận làm mẹ mà không cưới nổi vợ cho con và bà nghĩ đến chồng, đến con gái lại càng trở nên buồn hơn.

Cái tủi, cái buồn của người mẹ bị dồn vào cảnh nghèo cùng quẫn: Bà không biết lấy gì để cúng tổ tiên, để trình làng con đã có vợ. Bà khóc vì thương con không biết làm sao vượt qua nổi khó khăn này.

  • Nỗi lo của bà cụ Tứ

Bà lo cho con trai, con dâu, cái gia đình nhỏ của mình không biết phải qua những ngày khó khăn này như thế nào. → Khuyên con, khuyên dâu thương nhau, cố gắng vươn lên.

→ Nỗi lo, nỗi thương của người mẹ từng trải, hiểu đời.

  • Niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống của cụ Tứ

Bà suy nghĩ vui trong những điều tốt đẹp tương lai “Rồi ra may mà ông giời cho khá…”

Vui trong công việc sửa sang vườn tược, nhà cửa.

Vui trong bữa cơm đạm bạc đầu tiên có con dâu.

Bà vẫn luôn tạo một không khí ấm cúng cho bữa ăn để con dâu đỡ tủi.

→ Người mẹ nghèo từng trải đời, hết mực yêu thương con, luôn lạc quan trong hoàn cảnh khó khăn.

→ Là đại diện cho người mẹ Việt Nam cần mẫn, mộc mạc, giản dị, giàu tình yêu thương và đức hi sinh

d) Tình huống truyện

  • Bối cảnh xây dựng tình huống truyện: Nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết. Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một không khí ảm đạm, thê lương. Những người sống luôn bị cái chết đe dọa.
  • Ngoại hình và gia cảnh của Tràng khiến anh khó lấy vợ: xấu xí, thô kệch, ăn nói cọc cằn, thô lỗ. Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già. →Tràng lấy vợ là lấy cho mình thêm một tai họa.

– Tràng lấy vợ theo kiểu “nhặt” được: vài câu nói đùa, 4 bát bánh đúc là nên duyên vợ chồng mà không cần tìm hiểu, yêu đương và cưới hỏi. Việc Tràng lấy vợ là một tình huống bất ngờ khiến cả xóm ngụ cư và bà cụ Tứ hết sức ngạc nhiên. Bản thân Tràng có vợ rồi vẫn còn ” ngờ ngợ”.

→ Tình huống truyện bất ngờ nhưng rất hợp lí vì nếu không phải năm đói khủng khiếp thì người ta không thèm lấy một người như Tràng.

  • Giá trị hiện thực: tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

+ Cái đói dồn đuổi con người: người chết như ngả rạ…

+ Cái đói bóp méo cả nhân cách: theo không người ta về làm vợ.

+ Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp.

→ Vợ nhặt có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân, phát xít.

  • Giá trị nhân đạo:
  • Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật: anh Tràng đối với cô thị, bà cụ Tứ với người con dâu và giữa 3 người họ với nhau.
  • Tràng rất trân trọng người “vợ nhặt” của mình.
  • Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người “vợ nhặt”: không còn đanh đá, chỏng lỏn mà thay vào đó là cô vợ đảm đang, biết lo toan, vun vén việc nhà.
  • Tình yêu thương con của bà cụ Tứ: Bà luôn miệng nói về ngày mai với những dự định thiết thực tạo niềm tin cho dâu con vào một cuộc sống tốt đẹp.

→ Dù cho cuộc sống có nghèo khổ, khắc nghiệt thế nào thì ở họ vẫn tràn ngập tình yêu thương và hi vọng về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng hơn. Cái đói có thể làm họ nghèo nàn, xơ xác về thể chất nhưng tình cảm và tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương dành cho nhau thì không cái đói nào có thể làm lu mờ.

III. Kết bài

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm vô cùng thành công của Kim Lân. Với những giá trị, ý nghĩa, thông điệp sâu sắc của mình, tác phẩm đã gây nhiều dấu ấn quan trọng trong lòng bạn đọc.

Số 8: Dàn ý Vợ nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

II. Thân bài

a) Bối cảnh truyện ngắn:

–  Câu chuyện diễn ra trong nạn đói kinh hoàng những năm 1944-1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu đồng bào chỉ trong vài tháng ngắn ngủi.

– Không gian ảm đạm, tiêu điều của làng quê :

+ Người dân từ khắp nơi bồng bế, dìu dắt nhau đi tản cư.

+ Cả không gian làng quê bị bao trùm bởi sự chết chóc.

+ Con người tuyệt vọng và bất lực “khó ai có thể tin mình sống nổi.

b) Tình huống truyện:

– Câu chuyện bắt đầu từ sự kiện Tràng bất ngờ lấy được vợ giữa lúc nạn đói dữ dội nhất.

– Đám cưới của Tràng mang đến một luồng gió mới cho cuộc sống của người dân xóm Ngụ Cư.

=> Hôn nhân của Tràng và thị là biểu hiện của sự sống bất diệt, niềm khao khát hạnh phúc muôn đời của con người, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khốn cùng nào con người vẫn khao khát được yêu thương, có mái ấm, chốn dừng chân.

c) Nhân vật Tràng:

* Hoàn cảnh:

– Là dân ngụ cư, sống trong căn nhà tồi tàn, rách nát cùng người mẹ già.

– Làm công việc kéo xe thuê với đồng lương rẻ mạt, công việc bấp bênh không ổn định.

– Ngoại hình xấu xí “hai mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, thân hình to lớn vập vạp”, thêm cái tật “vừa đi vừa lảm nhảm những điều mà mình nghĩ”.

=> Tràng phải chịu cảnh ế vợ.

* Vẻ đẹp tâm hồn:

– Chăm chỉ, luôn nỗ lực lao động kiếm sống, tâm tính yêu đời, sự lạc quan trong cuộc sống khi vừa đẩy xe vừa có sức nói những câu bông đùa.

– Tấm lòng nhân hậu, thương cảm cho người đồng cảnh ngộ.

– Sống tình nghĩa, luôn khát khao hạnh phúc.

– Từ khi có vợ Tràng bắt đầu ý thức được trách nhiệm, bổn phận của người đàn ông trong gia đình.

– Khao khát đổi đời, nghĩ đến chuyện Việt Minh cướp phá kho thóc Nhật, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới cứ quanh quẩn trong óc Tràng.

=> Dấu ấn cho sự chuyển biến trong nhận thức của Tràng, là đại diện cho sự giác ngộ cách mạng của người nông dân trong nạn đói năm 1945.

d) Nhân vật thị:

– Dáng vẻ cong cớn, sưng sỉa, đầy đanh đá khi mắng nhiếc Tràng chỉ vì miếng ăn “Điêu! Người thế mà điêu!”.

– Thị là một trong những hình ảnh điển hình cho người nông dân đang chết mòn dưới cái đói kinh hoàng, không tên không tuổi, không lai lịch rõ ràng.

– Ngoại hình tàn tạ, thê thảm“áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “gầy xọp”, “trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”.

– Chấp nhận theo không Tràng chỉ vì một câu nói đùa, vì miếng ăn

=> Điều đó bộc lộ khao khát được sống mãnh liệt của thị, đồng thời cũng là ước mong có được một mái ấm, một người đàn ông đủ sức chở che, cho thị được dựa vào những lúc khó khăn tuyệt vọng nhất.

– Vẻ đẹp nữ tính:

+ Trên đường về nhà chồng, bắt gặp những ánh mắt tò mò, dò xét thị đã không giấu nổi sự ngượng ngùng, bẽn lẽn, kéo chiếc nón rách che đi gương mặt xấu hổ của mình.

+ Khi về đến nhà Tràng, nhìn cảnh tượng rách nát, sơ sài của căn “nhà”, dù thất vọng nhưng thị cố nén không bộc lộ ra bên ngoài.

+ Lễ phép chào mẹ chồng, rồi yên lặng lắng nghe những lời dặn dò vun vén của bà cụ Tứ.

+ Cùng bà mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bữa cơm ngày đói.

e) Bà cụ Tứ:

– Tấm lòng yêu thương con sâu sắc:

+ Thương con vì lập gia đình giữa thời đói khát, lo lắng cho cuộc sống tương lai của các con..

+ Chấp nhận cuộc hôn nhân chóng vánh của anh con trai “ừ thôi, các con đã phải duyên phải kiếp với nhau thì u cũng bằng lòng”.

+ An ủi, động viên các con “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?”.

– Vẻ đẹp của một tâm hồn nhân hậu, bao dung, biết đồng cảm cho số phận con người.

+ Thấu hiểu, đồng cảm cho hoàn cảnh của người con dâu mới.

+ Tìm cách thân thiết, gần gũi để xóa đi những sự e thẹn, rụt rè của thị.

– Lạc quan, tin tưởng vào một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai.

III. Kết bài

Nêu cảm nhận chung.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Số 9: Dàn ý bài Vợ nhặt

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân và những đặc điểm chính trong quá trình sáng tác của ông

– Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt (xuất xứ, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…)

II. Thân bài

 a, Nhan đề và tình huống truyện

– Nhan đề:

+ Cách kết hợp từ độc đáo, mới lạ

+ Góp phần thể hiện tình huống truyện, gợi lên thân phận rẻ rúng của con người trong nạn đói năm 1945.

– Tình huống truyện:

+ Tràng – người dân xóm ngụ cư nhặt được vợ trong nạn đói năm 1945

+ Ý nghĩa: góp phần không nhỏ vào việc thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm – sự rẻ rúng, bèo bọt của thân phận con người ngay trong nạn đói.

b, Nhân vật Tràng

– Ngoại hình xấu xí: “dáng người thô kệch, cái cười khềnh khệch”, “lưng Tràng như con gấu”, “quai hàm bạnh ra”

– Diễn biến tâm trạng của Tràng:

+ Chỉ vài ba câu hò vui ấy vậy mà thị theo Tràng về nhà thật, điều đó đã làm tâm trạng của Tràng có nhiều thay đổi

+ Lúc đầu, Tràng lo sợ, hắn “chợn nghĩ” nhưng rồi tình yêu thương, khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn tất cả, Tràng lại “tặc lưỡi: chậc kệ”

+ Trên đường đưa vợ về nhà: niềm hạnh phúc, vui sướng ấy của Tràng như càng nhân lên gấp bội: “vẻ mặt có cái gì đó phớn phở”, “hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười nụ một mình”, “mắt sáng lên lấp lánh”, “cái mặt vênh lên tự đặc với mình”

+ Khi về đến nhà: ngượng nghịu, “đứng tây ngây ra giữa nhà”

+ Sáng ngày hôm sau. Tràng thấy “êm ái lửng lơ như người trong cõi mơ đi ra”, “cảm động, thấy yêu thương, gắn bó và thấy mình phải có trách nhiệm với cái gia đình này”

c, Nhân vật thị

– Ngoại hình: “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “áo quần rách như tổ đỉa”, “cái nóm cà tàng che nửa khuôn mặt”, “cái ngực gầy tẹp lép nhô lên”

– Hành động: “chao chát”, “chỏng lỏn” nhưng xét đến cùng đấy là chứng tích của cái đói: “ăn thật nhá…”, “sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc”, “ăn xong cầm dọc đũa quệt ngang miệng “Hà! Ngon!”.

– Tâm trạng:

+ Trên đường đưa vợ về nhà: ngượng nghịu, “chân nọ bước díu vào chân kia”

+ Khi về đến nhà: “nén tiếng thở dài, nhếch mép cười nhạt nhẽo”, “ngồi mớm ở mép giường”,…

+ Sáng hôm sau: “dậy sớm quét dọn nhà cửa, sân vườn, phơi quần áo, “trong bữa sáng: nói nhỏ nhẹ, đúng mực, lễ phép”,…

=> Như vậy, thị chính là sự hiện thân cho cái đói, cái nghèo khổ trong những ngày khủng khiếp của nạn đói những năm 1945.

d, Nhân vật bà cụ Tứ

– Ngoại hình gợi nét cơ cực, lam lũ: “dáng người lọng khọng”, “vừa đi vừa húng hắng ho vừa lẩm bẩm tính toán”.

– Tâm trạng:

+ Khi vừa về đến nhà: tỏ ý không hiểu

+ Bà vỡ lẽ, bà nhận ra bao điều Bà lão cúi đầu nín lặng, “bà hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương” và rồi lòng người mẹ ấy cảm thấy thương con và thương cho chính mình, bà khóc và mở lòng đón nàng dâu mới

+ Sáng hôm sau: bà dậy sớm cùng nàng dâu mới chăm bẵm vườn tược, chăm lo cho ngôi nhà của mình, “gương mặt bủm beo, u ám ngày thường rạng rỡ hẳn lên”, trong bữa ăn sáng cả gia đình cùng nhau nói toàn những chuyện vui, chuyện sung sướng về sau

III. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo) và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Số 10: Dàn ý phân tích Vợ nhặt

I. Mở bài

Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

II. Thân bài

a) Hoàn cảnh và tình huống truyện:

  • Khởi nguồn từ một cuộc hôn nhân kỳ lạ, không mai mối của anh Tràng, anh tình cờ “nhặt” được vợ trong một lần đi đẩy xe bò thuê.
  • Cái sự kiện kỳ lạ đó diễn ra ngay giữa nạn đói kinh hoàng: Người chết đói la liệt đầy đường, không khí ảm đạm, chết chóc tang thương bao trùm khắp làng quê. Kẻ sống thì “xanh xám như bóng ma”, người thoi thóp “nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, còn “người chết như ngả rạ”.

b) Nhân vật Tràng:

-Hoàn cảnh:

  • Gia cảnh nghèo khó, xấu xí, tính tình vô tư, là dân ngụ cư, sống bằng nghề kéo xe bò thuê, trong nhà còn có thêm một mẹ già, cuộc sống vô cùng bấp bênh vất vả.
  • Chăm chỉ lao động kiếm sống, chấp nhận làm công việc kéo xe vất vả để kiếm tiền nuôi bản thân và chăm sóc người mẹ già yếu trong nhà.
  • Nhân hậu, biết thấu hiểu và thông cảm cho những số phận cùng cảnh ngộ, mà tiêu biểu nhất là thị, sẵn sàng bỏ tiền ra đãi thị ăn no một bữa tận 4 chén bánh đúc.
  • Xót xa, thương cảm cho người đàn bà tội nghiệp, cái lòng nhân hậu đã khiến anh muốn được che chở, chăm sóc, cầu hôn bằng câu: “Này nói đùa chứ có về cùng tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về”.

-Sau khi có vợ Tràng dường như trưởng thành hơn:

  • Biết săn sóc, để ý đến cảm nhận của người vợ mới cưới.
  • Trân trọng và mong chờ vào cuộc hôn nhân, một cuộc sống mới hứa hẹn sẽ cho Tràng cảm giác hạnh phúc, một mái ấm gia đình trọn vẹn, tràn ngập yêu thương.
  • Sau đêm tân hôn, Tràng nhận thức được những trách nhiệm và vị trí của bản thân trong gia đình “Hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.
  • Tràng nghĩ về việc phá kho thóc Nhật, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, cũng bộc lộ những suy nghĩ mới, lối đi mới trong tương lai của Tràng.

c) Nhân vật thị:

-Trước khi theo Tràng về:

  • Xuất hiện không gây được mấy thiện cảm, bởi cái sự cong cớn, sưng sỉa, bất chấp liêm sỉ vì miếng ăn.
  • Thị đã đi đến bước đường cùng, đang bước dần đến nghĩa địa, thị khao khát sống đến mãnh liệt, bằng mọi giá phải sống.
  • Nhờ sự đanh đá, chỏng lỏn mà thị được ăn, được sống, thậm chí có cả một người chồng, một mối nhân duyên có phần kỳ lạ giữa cái nạn đói khủng khiếp.

-Khi về nhà Tràng:

  • Chứng kiến cái “nhà” thực chất chỉ là một căn lều rách nát của Tràng, mắt thị tối lại, nhưng chẳng hề tỏ ra sự thất vọng, ảo não trong lòng.
  • Thị trở nên khép nép, lễ phép khi gặp bà cụ Tứ. Trước sự dặn dò, thương xót của bà cụ Tứ, thị dịu dàng, yên lặng lắng nghe.
  • Sau đêm tân hôn cảnh thị dậy sớm chuẩn bị cơm nước, quét dọn nhà cửa, vườn tược đã mang đến hình ảnh đẹp của một người phụ nữ biết vun vén cho gia đình.

d) Bà cụ Tứ:

-Hoàn cảnh:

  • Nghèo khổ, có cuộc đời nhiều đắng cay vất vả.
  • Luôn sống trong cảnh dằn vặt với nỗi khổ tâm tự trách vì bản thân nghèo quá không thể lo nổi cho người con trai một tấm vợ tử tế.

-Tấm lòng yêu thương con sâu sắc:

  • Lo lắng cho tương lai của các con “liệu rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói này không”.
  • Nhanh chóng sốc lại tinh thần, giấu nhẹm đi những lo lắng trong lòng để tác thành cho mối duyên của các con.
  • Hết lòng an ủi, động viên Tràng và thị với những lời nói đầy hy vọng “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?”.
  • Tấm lòng nhân hậu, bao dung biết thương cảm cho những số kiếp người bất hạnh, mà tiêu biểu nhất là thị, người con dâu mới cưới:
  • Nghĩ rằng “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”.
  • Giục thị ngồi xuống cho đỡ mỏi chân, rồi tỉ tê, tâm sự chuyện hoàn cảnh gia đình, về chuyện không thể làm dăm ba mâm cỗ cưới khiến thị thiệt thòi, mong rằng thị có thể hiểu và cảm thông.
  • Vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn.

III. Kết bài

Nêu cảm nhận chung.

Bài Vợ nhặt của Kim Lân
Bài Vợ nhặt của Kim Lân

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu dàn ý Vợ nhặt chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.