Top 10 mẫu dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông chi tiết nhất

338
Top 10 mẫu dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông chi tiết nhất
Top 10 mẫu dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông chi tiết nhất
4.8/5 - (18 votes)

Tổng hợp các bài mẫu dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường một cách đầy đủ và chi tiết nhất sẽ giúp các bạn học sinh chuẩn bị kiến thức thật tốt cho mình trước các kì thi sắp tới. Hôm nay Top 10 Tìm Kiếm sẽ tổng hợp Top 10 mẫu dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông chi tiết nhất. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Top 10 mẫu dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông

Số 1: Dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường: là nhà văn của xứ Huế, ông có sức liên tưởng tưởng tưng dồi dào, lối hành văn mê đắm, ông chuyên viết về bút kí.

– Tác phẩm là tùy bút tiêu biểu cho phong cách văn chương của tác giả: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.

– Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng con sông Hương.

II. Thân bài

1. Dòng sông thiên nhiên

a) Ở thượng nguồn:

– Là “bản trường ca của rừng già” “rầm rộ dưới bóng cây đại ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác”; lúc lại dịu dàng say đắm dưới dặm dài chói lọi hoa đỗ quyên …”

– “cô gái Di – gan”: phóng khoáng, man dại, tâm hồn tự do, trong sáng, bản tính gan dạ, có sức mạnh bản năng

– Sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ“người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở” .

b) Sông Hương từ thượng nguồn đến Huế:

– Sông Hương “như một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng …” được đánh thức bởi tiếng gọi của tình yêu, bắt đầu hành trình gian truân, “tìm kiếm có ý thức” đến với Huế, lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động “vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”.

+ ông Hương có nhịp chảy chậm rãi, “mềm như tấm lụa” (liên hệ hình ảnh sông Đà như “áng tóc trữ tình”),

+ Từ ngã ba Tuần đến chân đồi Thiên Mụ: mang dáng vẻ trầm mặc khi chảy qua những lăng tẩm, đổi dòng chuyển hướng liên tục.

+ Từ chân đồi Thiên Mụ đến lúc gặp Huế: “vui hẳn lên”, “kéo một nét thẳng” vì tìm đúng đường về

+ Giáp mặt Huế, sông Hương không gặp Huế ngay mà “uốn một cánh cung …tình yêu” như một người con gái bẽn lẽn, ngại ngùng.

c) Trong lòng Huế

– Tác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.

– Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã: “ánh lửa thuyền chài … xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.

– Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.

d) Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.

– Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.

2. Dòng sông lịch sử

– Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, …

– Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, …

– Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám, …

3. Dòng sông văn hóa

– Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.

– Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân.

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận về hình tượng dòng sông Hương

– Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.

– Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Xem thêm:

Số 2: Dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

Sinh năm 1937, lớn lên, học tập và công tác nhiều năm ở Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường rất yêu Huế, hiểu Huế. Sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của một trí thức yêu nước, vốn hiểu biết sâu rộng là căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa cho sự thành công mĩ mãn của những trang viết trong bài tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đến với tác phẩm được sáng tác năm 1981 này – in trong tập sách cùng  tên – ta sẽ có được nhiều ấn tượng thẩm mĩ thú vị vì được đọc những áng văn, câu chữ được lựa chọn, cân nhắc kĩ càng, được thưởng ngoạn những hình ảnh sáng tạo đẹp đẽ, được bồi đắp những ý vị cuộc đời giàu triết lí, được mở rộng lòng mà yêu thêm quê hương bởi cảm xúc phong phú, bất ngờ, mới mẻ của một hồn văn trí tuệ, trữ tình.

II. Thân Bài

Ý nghĩa nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?”:

– Đây là câu hỏi tu từ, thể hiện sự ngỡ ngàng, xúc động của tác giả về dòng sông huyền thoại. Có huyền thoại cho rằng cái mùi thơm tinh tế của rừng già nơi đầu nguồn tích tụ, lan tỏa, tạo nên dư vị, mùi hương riêng của con sông. Cũng có huyền thoại theo lời kể của người làng Thành Trung (Quảng Điền): vì quá yêu quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm ngàn loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi.

– Sông Hương là một dòng sông trong vắt, thơ mộng, chảy ngang thành phố Huế, là biểu tượng của lịch sử, văn hóa và tâm hồn của người Huế. Những vẻ đẹp khác nhau của dòng sông Hương qua cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Bằng một tình yêu thiết tha với Huế, một vốn sống văn hóa phong phú, và một vốn ngôn từ giàu có, đậm chất thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ca ngợi vẻ đẹp của Huế, tập trung ở vẻ đẹp của dòng sông Hương từ các góc nhìn thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, đời thường.

  1. Vẻ đẹp của sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên:

a) Sông Hương ở thượng nguồn (Sông Hương nhìn từ nguồn cội):

Trong mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn, sông Hương có vẻ đẹp như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu trầm bổng:

+ Khi thì“rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” vô cùng hùng tráng.

+ Khi thì“mãnh liệt qua những ghềnh thác” quá đỗi ào ạt.

+ Khi thì “cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn” dữ dội khôn cùng.

+ Khi thì “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” nên thơ, mê đắm.

+ Khi thì“dịu dàng và trí tuệ” như “người mẹ phù sa” từng trải, mang cốt cách văn hóa, làm nên sức sống của một vùng đất đế đô.

Sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại” như “một cô gái Di-gan” với“một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” đầy nữ tính, vừa dịu dàng,  hoang sơ, vừa mãnh liệt, huyền bí. Đây là vẻ đẹp mang tính bản năng của một tâm hồn sâu thẳm mà chính dòng sông cũng không muốn bộc lộ.

Nhận xét: Ở đây, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã hé mở một phát hiện mới về vẻ đẹp của sông Hương. Người ta hay nghe tới sông Hương gắn với Huế “dịu dàng pha lẫn trầm tư”, êm đềm, trong trẻo, nay lại biết thêm phần dữ dội, mê hoặc, khó cưỡng củ a dòng sông qua sự khám phá tinh tế của nhà văn.

b) Sông Hương ở đồng bằng (Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế):

Với Nguyễn Tuân, Sông Đà là “một người tình chưa quen biết” bởi “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”(Tản Đà). Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, kinh thành Huế là “người tình mong đợi” của sông Hương. Hành trình về cố đô của sông Hương được nhà văn hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” một người tình trong mộng của người con gái. Quả là một tưởng tượng bay bổng, diệu kì.

Hành trình về xuôi “tìm người tình mong đợi” của sông Hương:

+ “Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”, sông Hương là “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng ”. Hình ảnh này gợi nhớ truyện cổ tích “Công chúa ngủ trong rừng”, mang vẻ đẹp tình tứ, lãng mạn.

+ Khi ra khỏi vùng núi, cũng như nàng tiên được đánh thức, sông Hương bỗng bừng lên,“chuyển dòng… liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, vẽ một hình cung thật tròn, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế, đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trân để sắc nước trở nên xanh thẳm, trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột”. Bằng nhiều động từ được sử dụng với mật độ dày đặc trong phép nhân hóa ở một đoạn văn ngắn, nhà văn đã tạo ấn tượng sâu đậm cho người đọc về cái thế đi tìm người tình trong mộng của sông Hương – một cái thế vô cùng linh hoạt, rạo rực sức trẻ và đầy khao khát của tuổi thanh xuân.

+ Qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo, sông Hương có vẻ đẹp dịu dàng “mềm như tấm lụa”.

+ Qua những dãy đồi tây nam thành phố, sông Hương ánh lên vẻ đẹp đầy biến ảo như phản quang nhiều màu sắc trên nền trời“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.

+ Qua lăng tẩm đền đài giữa những rừng thông u tịch, sông Hương mang vẻ đẹp “trầm mặc”, như triết lí, như cổ thi” trong âm hưởng “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga”. Tác giả tả mặt nước phẳng lặng và không gian bờ bãi u tịnh bằng liên tưởng tới triết học, thơ cổ. Cách so sánh độc đáo, giàu sức gợi này đã làm nổi bật vẻ thâm nghiêm. Bao nhiêu thăng trầm lịch sử, bao nhiêu dời đổi của các triều đại đã tạo thành trầm tích văn hóa, lặn vào vẻ đẹp ngàn năm không suy xuyển của dòng nước. Từ đó, ta thấy thấp thoáng một cái “tôi” giàu suy tư.

* Nhận xét:

– Sông Hương chảy qua nhiều địa danh với nhiều dáng vẻ khác nhau, khơi gợi bao tầng sâu văn hiến.

– Sông Hương vừa mạnh mẽ, vừa dịu dàng.

– Tác giả sử dụng bút pháp kể và tả, liệt kê theo hướng thơ hóa bằng sự cảm thụ tài hoa, tinh tế.

c) Sông Hương khi chảy vào thành phố:

+ Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long, sông Hương có vẻ đẹp rạng rỡ, “vui tươi hẳn lên” với tâm trạng của một người đi xa đã “tìm đúng đường về”, đang nao nức bồi hồi giữa bờ bãi thân thuộc của quê hương, đang nhìn thấy “chiếc cầu trắng của thành phố… như những vành trăng non”. So sánh như thế thì thật tuyệt vời. Có màu sắc chiếc cầu, có ánh sáng bầu trời, có nét dịu dàng duyên dáng của cô gái Huế. Có một cái gì bừng sáng nhưng không chói gắt ở chân trời xa, thể hiện một niềm vui mà không ồn ào.

+ Giáp mặt với thành phố ở cồn Giã Viên, sông Hương có vẻ đẹp hiền thục, “uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến… làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng“vâng” không nói ra của tình yêu”. Đây là một so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn trừu tượng, e ấp, ngập ngừng, ý vị thiêng liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm mại nơi cánh cung của dòng sông, thể hiện cái nhìn tình tứ, mê say, thống nhất, đem lại cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ độc đáo.

+ Khi qua thành phố, sông Hương mang vẻ đẹp mực thước, thâm trầm với “điệu chảy lặng lờ”, “trôi đi chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”, như một “điệu slow tình cảm” êm đềm, chậm mềm,lặng lẽ , như không vướng víu chút nào cái xô bồ của bụi bặm cuộc đời, như sự nuối tiếc của con người vì mọi thứ một đi không trở lại, như nỗi lòng nhiều vấn vương với Huế vì sắp phải chia xa. Chảy giữa lòng chốn phồn hoa đô hội mà sông Hương vẫn cứ nguyên sơ, vẫn bất di bất dịch như điệu chảy thời gian. Sông Hương mang cảm nghiệm thời gian của nhà văn. Bởi vậy mà nhà văn đã so sánh sông Hương “giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đanuýp của Bu-đa-pét”, tất cả đều là biểu tượng văn hóa của mỗi quốc gia. Mọi quốc gia đều có chủ quyền và bình đẳng trong thế đứng của mình. Ý thức này vốn có từ xa xưa trong lịch sử văn học, như Nguyễn Trãi đã từng đặt các triều đại Việt Nam sánh ngang với các triều đại Trung Hoa trong “Bình Ngô đại cáo” (1428). Tuy nhiên, văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng. Khi đến Lê-ningrat, đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân…băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Bantích”, nhà văn đã nhớ lại con sông Hương của mình, và “chợt thấy quí điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố”. Cái quí đó biểu hiện sự gắn bó máu thịt với quê hương đất nước, là niềm tự hào bền vững về Văn hóa Việt với bản sắc rất Việt: “không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng; không say mê cái huyền ảo, kì vĩ; chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, vừa khéo, vừa xinh, vừa khoảng, hợp tình, hợp lí” (Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Giáo sư Trần Đình Hượu, 1928-1995).

d) Sông Hương luyến lưu khi rời khỏi kinh thành:

+ Rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc, sông Hương có vẻ đẹp luyến lưu: “ôm lấy Cồn Hến… mơ màng trong sương khói”, rồi “ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ”. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói , phải “đột ngột đổi dòng…để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh…để nói một lời thề trước khi về biển cả…”.

+ Vẻ đẹp luyến lưu của sông Hương đã được tác giả cảm nhận: nó“rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người”. Từ đó mà nhân cách hóa, gọi đấy là “nỗi vương vấn… chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Sông Hương trong khúc ngoặt chia tay kinh thành Huế cũng giống như Thúy Kiều trong đêm tình tự gửi lời nguyện thề cùng Kim Trọng, cũng giống như người Châu Hóa mãi mãi thủy chung với xóm làng.

Như vậy, ta nhận ra có ba so sánh bắc cầu: từ dòng chảy khác lạ của dòng sông mà liên tưởng tới mối tình kín đáo, e ấp, trước sau như nhất của Kim Kiều, rồi từ đó mà liên tưởng đến tình yêu quê hương xứ sở của người dân xứ Huế. Mượn tình cảm riêng để khái quát mối tình chung, làm cho tình yêu đất, yêu nước không chung chung, to tát, mà mềm mại, ý vị, tinh tế, đằm thắm, thiêng liêng, sâu sắc. Đây là nét đặc sắc khá chung của nhiều cây bút tài hoa: Chế Lan Viên trong “Tiếng hát con tàu”(1960) thì “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”; Tố Hữu trong “Việt Bắc”(1954) thì “Nhớ gì như nhớ người yêu”; Nguyễn Đình Thi trong “Nhớ” thì “Anh yêu em như anh yêu đất nước – Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”.

*Tiểu kết:

– Nhà văn đã khám phá và cảm nhận sâu sắc những nét đặc trưng riêng về vẻ đẹp thiên nhiên của dòng sông.

– Sông Hương hiện lên như một “người gái đẹp”, một“cô gái Di-gan” mãnh liệt, mê đắm nhưng không kém phần dịu dàng, tình tứ, ý nhị.

  1. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa:

a) Tác giả nói:“Có một dòng thi ca về sông Hương”. Dòng sông đó luôn đổi màu thơ, “ không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của người nghệ sĩ”.

+ Từ màu xanh biếc thường ngày, bỗng thay màu thành “dòng sông trắng – lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà trong “Chơi xuân”.

+  Từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng như “kiếm dựng trời xanh”(Trường giang như kiếm lập thanh thiên) trong khí phách của văn võ toàn tài Cao Bá Quát.

+ Từ nỗi quan hoài vạn cổ “trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn”trong thơ Bà Huyện Thanh quan, nó đột ngột khởi thành sức mạnh phục sinh “ – Răng không cô gái trên sông – Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài – Thơm như hương nhụy hoa nhài – Sạch như nước suối ban mai giữa rừng- Ngày mai gió mới ngàn phương – Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân – Ngày mai trong giá trắng ngần – Cô thôi kiếp sống đầy thân giang hồ” với cảm quan lãng mạn cách mạng trong bài thơ “Tiếng hát sông Hương”(1938) khi đối thoại với những “kiếp phôi pha” của tác giả “Từ ấy”(1938).

+ Từ Quảng Nam ra, nhìn điệu chảy lặng lờ, nửa muốn đi muốn ở của dòng sông, Thu Bồn đã cảm được dòng sông đang chảy vào chính lòng mình: “Con sông dùng dằng con sông không chảy, sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” (Thu Bồn).

+ Từ Hà Nội vào, có nhà thơ đã hỏi trời, hỏi đất: “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?”.

Câu hỏi dường như không thể có một lời đáp cụ thể. Câu hỏi ẩn chứa niềm xúc động, tự hào sâu sắc về dòng sông quê hương, gợi mở cho người đọc những hướng trả lời khác nhau bằng trải nghiệm văn hóa của bản thân. Tên riêng của một dòng sông có thể do một cá nhân nào đó đặt ra. Qua năm tháng, danh xưng của tác giả bị mai một, nó trở thành tài sản chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cái tên đích thực của dòng sông phải là danh từ gắn với biểu tượng văn hóa, tinh thần, chiều sâu lịch sử của một dân tộc. Ở khía cạnh này, chính những người dân bình thường – những người sáng tạo ra văn hóa, văn học, lịch sử là những người đã đặt tên cho dòng sông.

b) Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế:

Trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước,“Sông Hương đã trở thành người tài nữ

đánh đàn lúc đêm khuya”. Với cảm nhận rất người này, nhà văn đã liên tưởng:

– “Toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông

này”. Sông Hương gắn với lịch sử âm nhạc lâu đời của Huế, là cái nôi hình thành nền âm nhạc truyền thống, được UNESCO công nhận là văn hóa phi vật thể của thế giới.

– “Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Nguyễn Du và truyện Kiều là linh hồn, là niềm tự hào của nền quốc văn Việt Nam. Tái hiện Nguyễn Du và Kiều, tác giả đã làm cho dòng sông thổn thức với cha ông, gắn bó với các giá trị văn hóa, văn học cổ điển của dân tộc, đang chảy từ quá khứ, mang bao phù sa, trầm tích văn hóa hiện diện trong ngày hôm nay.

  1. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử:

– Nhà văn điểm lại dấu ấn dòng sông trong lịch sử dân tộc:

+ Thế kỉ XV,trong “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, sông Hương được ghi là “Linh giang”, dòng sông bảo vệ biên cương thời Đại Việt.

+ Thế kỉ XVIII, sông Hương là dòng sông “vẻ vang soi bóng kinh thành Phú

Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ”.

+ Thế kỉ XIX, sông Hương là dòng sông “sống hết lịch sử bi tráng với máu của những cuộc khởi nghĩa… đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”.

+ Sông Hương “cổ vũ nồng nhiệt” cuộc nổi dậy mùa xuân Mậu Thân, năm 1968.

Đồng thời, sông Hương cũng đã đón nhận những lời chia buồn sâu sắc của thế giới về sự tàn phá mà bom đạn chiến tranh đã chụp lên những di sản văn hóa của Huế.

– Từ những điểm xuyết về dòng sông lịch sử, tác giả đi đến một khái quát giàu triết lí: Sông Hương “là dòng sông ngân vang của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Sử thi là chiến công, là cái hùng, thường đi với màu đỏ. Nhưng ở đây, sông Hương là “sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”- sử thi mà trữ tình, hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng, tươi mát . Đó là nét độc đáo của Huế. Nếu như ở đoạn một và hai, sông Hương được cảm nhận chủ yếu trên bề rộng của không gian địa lí với những liên tưởng độc đáo thì ở đoạn này, sông Hương được bố cục theo chiều sâu của lịch sử. Nó ghi dấu những chiến công vùng lên quật khởi. Nó lặng khóc cho những hi sinh âm thầm. Nó giống như một tấm gương soi vào lịch sử, biểu tượng cho lịch sử. Nó như biết bao chiến sĩ vô danh vô cùng thiện chiến nhưng không hề hiếu chiến trên mảnh đất Việt Nam hình chữ S này. Khi bình yên, những chiến sĩ vô danh ấy lại trở về với cuộc sống bình thường, làm một cô gái dịu dàng của đất nước, đa tình mà kín đáo, tình tứ mà thủy chung như những cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều lục với “màu tím ẩn hiện”,“màu của sương khói”, của “tấm voan huyền ảo” trên sông Hương.

III. Kết bài

“Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” là một dòng sông trữ tình đậm màu triết lí rất phóng túng, tự do và cũng rất lặng mềm, dịu ngọt khởi nguồn từ cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường tài hoa, uyên bác, giàu tình cảm và trí tưởng tưởng lãng mạn, say mê cái đẹp của cảnh và người xứ Huế mộng thơ. Dòng sông ấy đã hòa chung với dòng sông Hương, chan hòa trong vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa, lịch sử của vùng đất thần kinh, bồi đắp phù sa trên những bến bờ cảm xúc để nuôi dưỡng những tình yêu không bao giờ nói hết trong tâm hồn của mỗi một chúng ta:

Quê tôi đó Huế đô ôi trầm lặng

Cung miếu này thanh vắng lắm người ơi

Hương giang nay đã bao đời

Lửng lơ sâu kín những lời yêu thương.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Xem thêm:

Số 3: Ai đã đặt tên cho dòng sông dàn ý

I. Mở bài

Tác giả: là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.

Trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, tác phẩm thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.

II. Thân bài

Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đẹp cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy.

  1. Hình tượng sông Hương

a) Dòng sông thiên nhiên

  • Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”
  • Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.
  • Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.
  • Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.

Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.

b) Dòng sông lịch sử

  • Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, …
  • Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, …
  • Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám cũng có những chiến công vang dội, …

c) Dòng sông văn hóa

  • Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.
  • Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân

Nhận xét: Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu,anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thương. Là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.

  1. Hình tượng cái tôi tác giả
  • Quan sát dòng sông trên nhiều góc độ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.
  • Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.
  • Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.

III. Kết bài

  • Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.
  • Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước. Nhà văn có lối hành văn mê đắm, súc tích.

Số 4: Dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:

+ Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.

+ Ai đã đặt tên cho dòng sông trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, nội dung chính thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.

II. Thân bài

* Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đem cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy.

– Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã dẫn dắt người đọc đến với cội nguồn tên gọi của dòng Hương thơ mộng.

– Bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã lí giải tên dòng sông bằng một huyền thoại mĩ lệ của người dân làng Thành Chung.

– Lấy tên nhan đề cho bài bút kí dưới hình thức của một câu hỏi nhằm mục đích dẫn dắt, gợi mở người đọc về nguồn gốc tên gọi của dòng sông, nói lên những khát vọng, niềm tự hào của con người khi muốn mang cái đẹp, tiếng thơm để gây dựng, vun đắp cho văn hóa, lịch sử của xứ Huế.

– Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông” cũng thể hiện được niềm biết ơn đối với những con người đã khai phá vùng đất này, bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của đất nước.

* Hình tượng sông Hương

– Dòng sông thiên nhiên

+ Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di-gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”.

+ Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.

+ Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.

+ Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.

=> Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.

– Dòng sông lịch sử

+ Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX,…

+ Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”,…

+ Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng Tám cũng có nhưng chiến công vang dội,…

– Dòng sông văn hóa

+ Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.

+ Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân.

=> Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu, anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thường, là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.

* Hình tượng cái tôi tác giả

– Quan sát dòng sông trên nhiều góc độ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.

– Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.

– Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.

* Đặc sắc nghệ thuật

– Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.

– Liên tưởng độc đáo

– Sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã.

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung tác phẩm.

– Cảm nhận của em.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Số 5: Dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (nhà văn chuyên viết về bút kí), tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (một bài bút kí xuất sắc)

– Dẫn dắt và đi vào phân phân tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

II. Thân bài

– Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ: viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên.

– Vị trí đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông” trong SGK, là phần thứ nhất trong toàn bộ bút kí cùng tên.

Ý nghĩa nhan đề: khẳng định vẻ đẹp biến ảo của con sông cũng đẹp như chính cái tên của nó. Đây cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn nhằm đi vào miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông Hương gắn với xứ Huế thơ mộng – cổ kính. Nhan đề còn thể hiện tất cả lòng yêu mến, trân trọng đến nỗi ngỡ ngàng bật lên câu hỏi như một giây phút cảm xúc vỡ òa, thăng hoa tạo nên những dòng bút kí say đắm, hào hoa.

Vẻ đẹp sông Hương nhìn từ góc độ cảnh quan thiên nhiên: gắn với thủy trình sông Hương

❖ Ở nơi khởi nguồn

Sông Hương tựa như bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng.

Sông Hương nơi thượng nguồn như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại o Ra khỏi rừng sông Hương nhanh chóng biến đổi hình hài, mang vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ.

❖ Ở ngoại vi thành phố Huế o Tại cánh đồng Châu Hóa, sông Hương như người gái đẹp nằm ngủ mơ màng.

Sau khi ra khỏi vùng núi: sông Hương chuyển dòng liên tục trông thật mềm mại, duyên dáng.

Vẻ đẹp trầm mặc khi qua lăng tẩm, mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông và bừng tươi tắn, trẻ trung khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ.

❖ Đến giữa thành phố Huế: Vui tươi hẳn lên mà không ồn ào, bừng sáng mà không chói chang. Sông Hương tỏa thành nhiều nhánh như những cánh tay ôm ấp phố thị. Sông hương trở nên lững lờ đầy tâm trạng.

❖ Trước khi từ biệt Huế: Sông Hương như một người tình dịu dàng và chung thủy

* Sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử, thơ ca, âm nhạc và bản sắc văn hóa Huế.

Bản hùng ca ghi dấu những thế kỉ vinh quang, mang sức mạnh quật cường của dân tộc.

Từ góc độ thơ ca: Sông Hương đầy biến ảo, gợi thi hứng, cảm xúc cho biết bao nghệ sĩ

Từ góc độ âm nhạc: Sông Hương trở thành người tài nữ đánh đàn

* Từ góc độ bản sắc văn hóa Huế: mang đậm bản sắc văn hóa Huế, mang những dáng hình rất đặc trưng Huế.

– Nghệ thuật

+ Văn phong tao nhã, tinh tế, tài hoa

+ Ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm, câu văn giàu nhạc điệu

+ Các biện pháp tu từ được sử dụng một cách hiệu quả: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ

III. Kết bài

– Khẳng định tài năng của tác giả và vẻ đẹp của bút kí

– Mở rộng vấn đề (bằng liên tưởng của bản thân)

Số 6: Ai đã đặt tên cho dòng sông dàn ý

I. Mở Bài

*  Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Hoàng Phủ Ngọc Tường  (1937) là nhà văn xứ Huế, có phong cách nghệ thuật độc đáo với sở trường là tùy bút, bút kí.

– Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên thể hiện cái “tôi” uyên bác trữ tình và vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế.

II. Thân Bài

– Nhan đề bài kí:

+ Nhan đề độc đáo, mới lạ bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ.

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp trữ tình của sông Hương – dòng sông lịch sử, cho thấy khát vọng về cái đẹp và xây dựng cái đẹp của con người xứ Huế.

a) Hình ảnh sông Hương

– Dưới góc độ địa lí:

+ Sông Hương ở thượng nguồn:

  •  Nhìn từ thượng nguồn, sông Hương có mối quan hệ mật thiết với dãy Trường Sơn.
  • Sông Hương rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn.
  • Sông Hương mang dáng vẻ trữ tình hiện đại.
  • Sông Hương hiện ra như một cô gái Di-gan phóng khoáng, man dại.
  • Nghệ thuật: Động từ, tính từ gây ấn tượng mạnh, so sánh, nhân hóa táo bạo.

+ Sông Hương trước khi vào kinh thành Huế:

  • Trở thành người tình dịu dàng và chung thủy của cố đô.
  • Toàn bộ thủy trình của dòng sông như một cuộc kiếm tìm có ý thức.
  • Sông Hương là người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng châu hóa đầy hoang dại.

-> Khi ra khỏi vùng núi, sông Hương như một nàng thiếu nữ được đánh thức bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân để chuyển dòng liên tục.

Nghệ thuật: Biện pháp kể, tả kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa làm nổi bật sông Hương ở sự phối cảnh kì thú vừa hài hòa nên thơ, trữ tình.

+ Sông Hương chảy vào thành phố Huế:

  • Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long.
  • Dòng sông kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, tự uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng sang đến Cồn Hến, dòng sông mềm mại hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.
  • Sông Hương duy nhất thuộc về một thành phố, là niềm tự hào của xứ Huế.
  • Nhìn bằng con mắt hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những nét cổ kính của cố đô.
  • Qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương như một điệu “slow” dành riêng cho xứ Huế.

-> Sông Hương được cảm nhận ở nhiều phương diện khác nhau, sông Hương được nhìn nhận, đối sánh trong các ngành nghệ thuật, vẻ đẹp ấy được hội tụ dưới cái nhìn tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường .

– Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc:

+ Sông Hương mang vẻ đẹp hùng ca, ghi dấu những vinh quang từ thuở còn là một dòng sông biên thùy, xa xôi.

+ Sông Hương trở thành chứng nhân lịch sử.

– Sông Hương qua góc nhìn văn hóa và thơ ca:

+ Sông Hương từ góc độ văn hóa:

Trong cách nhìn với âm nhạc: Gắn sông Hương với một nền âm nhạc cổ điển Huế.

+ Từ góc nhìn văn hóa: Người nghệ sĩ đã tưởng tượng về đại thi hào Nguyễn Du và về Kiều.

+ Sông Hương từ góc độ thơ ca:

  • Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó.
  • Sông Hương oan hoài trong nỗi sầu vạn cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan, sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu.

-> Nghệ thuật so sánh, liên tưởng độc đáo tạo nên một dấu ấn riêng về phong cách nghệ thuật giàu chất thơ.

b) Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

–   Cái “tôi” tài hoa, uyên bác.

–  Cái “tôi” nặng lòng với quê hương xứ sở.

–  Cái “tôi” đa phong cách, mang dấu ấn riêng biệt, giàu chất thơ.

c) Nghệ thuật

–  Văn phong tao nhã, tinh tế, tài hoa, lắng vào chiều sâu nội tâm.

–  So sánh, nhân hóa táo bạo.

– Được vận dụng nhiều kiến thức về địa lí, văn hóa, lịch sử  do vậy sông Hương được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau.

– Ngôn từ chọn lọc, uyên bác.

d) Đánh giá

– Thể hiện tấm lòng yêu thiết tha sông Hương, cố đô Huế của nhà văn.

– Qua tác phẩm, cho thấy vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí của tác giả.

– Khẳng định được thành công của tác giả ở thể bút kí, thể hiện cái “tôi” riêng biệt, trữ tình.

– Để lại bài học về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước cho mỗi chúng ta.

III. Kết Bài

Nêu cảm nghĩ cá nhân: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tìm tòi và thể nghiệm mới mẻ của Hoàng Phủ Ngọc Tường  đối với thể loại bút kí. Qua đó, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế và khẳng định được tài năng uyên bác của mình.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Số 7: Dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm bút kí kiệt xuất của Hoàng Phủ Ngọc Tường

-Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sác thiên nhiên của song Hương

II. Thân bài

* Từ thượng nguồn:

– Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ:

+ Sông Hương là bản tình ca của rừng già; Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm….

+ Sông Hương như một cô gái Di-gan phóng khoáng man dại.

+ Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản tính gan dạ, 1 tâm hồn tự do, phóng khoáng.

=> Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại.

– Khi ra khỏi rừng già:

+ Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…

+ Mang sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở.

=> Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông.

Tiểu kết:

Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú, gợi cảm, đầy sức hấp dẫn.

* Về châu thổ:

– Sông Hương trên đường tìm đến Huế:

+ Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức.

+ Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo, đa dạng trong nhiều thời gian và không gian khác nhau (dẫn chứng…). Vẻ đẹp của Huế như trở thành vẻ đẹp của sông Hương.

=> Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường như 1 cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu của nó.

– Sông Hương gặp gỡ Huế:

+ Uốn 1 cánh cung rất nhẹ… > Vẻ e lệ, ngượng ngùng khi gặp người trong mong đợi, sự thuận tình mà không nói ra.

+ Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng. Sông Hương và Huế hoà lẫn vào nhau.+ Sông Hương giảm hẳn lưu tốc, xuôi đi thực chậm (điệu slow)… thực yên tĩnh như niềm say mê, như khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây.

+ Liên tưởng với những dòng sông khác > Niềm tự hào của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông quê hương.

=> Được nhìn từ góc độ tâm trạng, nên cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương như cuộc hội ngộ của tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc.

– Sông Hương tạm biệt Huế để ra đi:

+ Rời khỏi kinh thành, sông Hương ôm lấy đảo Cồn Huế, lưu luyến ra đi…

+ Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố yêu dấu một lần cuối.

=> Quyến luyến, ngập ngừng, bịn rịn không nỡ rời xa.

Tiểu kết:

– Cách tiếp cận đối tượng bằng nhiều ngành nghệ thuật như hội họa, âm nhạc; nghệ thuật nhân hóa, so sánh đầy mới lạ, bất ngờ làm cho sông Hương, xứ Huế trở nên có linh hồn, có sự sống. Đó là cuộc trở về, gặp gỡ của cô gái si tình – sông Hương – đang say đắm trong tình yêu.

– Nhà văn: Tâm hồn đa cảm, lãng mạn; cách viết tài hoa.

Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông:

– Dòng sông âm nhạc:

+ Là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.

+ Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế.

+ Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều.

– Dòng sông thi ca:

+ Là vẻ đẹp mơ màng Dòng sông trắng lá cây xanh trong thơ Tản Đà.

+ Vẻ đẹp hùng tráng như kiếm dựng trời xanh của Cao Bá Quát.

+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan.

+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu

=> Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các nghệ sĩ.

– Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế.

+ Màn sương khói trên sông Hương là màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng.

+ Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: rất dịu dàng và rất trầm tư…

Tiểu kết:

Với kiến thức uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lí giải vẻ đẹp văn hóa phong phú của sông Hương, vẻ đẹp gắn liền với xứ Huế, với con người Huế.

* Sông Hương với lịch sử hào hùng:

– Là 1 dòng sông anh hùng:

  • Từ xa xưa: là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước
  • Thời trung đại:bảo vệ biên giới phiá nam của tổ quốc
  • Thời chống Pháp: sống hết lịch sử bi tráng với các cuộc khởi nghĩa
  • Đi vào thời đại cách mạng tháng 8 với những chiến công rung chuyển.
  • Thời chống Mĩ:

– Sông Hương cùng với thành phố Huế cũng chịu nhiều đau thương mất mát.

Tiểu kết:

– Vừa là bản tình ca dịu dàng, Sông Hương cũng là một bản hùng ca gắn liền với lịch sử oanh liệt của dân tộc.

III. Kết bài

– Bài kí lột tả được vẻ đẹp đa dạng, phong phú của sông Hương, cũng là của xứ Huế, con người Huế.

-Tình yêu thiết tha, say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi đây.

– Phong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử ; giàu chất trữ tình lãng mạn.

Số 8: Dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (những nét chính về con người, cuộc đời, các sáng tác chủ yếu, đặc điểm sáng tác,…)

– Giới thiệu về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…)

II. Thân bài 

b, Thủy trình của sông Hương

– Sông Hương khi ở vùng thượng nguồn:

+ Sông Hương – một “bản trường ca rầm rộ của rừng già” – vẻ đẹp vừa hùng vĩ, mãnh liệt vừa dịu dàng

+ Sông Hương còn là “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại” với tâm hồn tự do, của bản lĩnh gan dạ.

+ Sông Hương – “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Sông Hương chính là người mẹ, là cái nôi sinh thành ra những vẻ đẹp văn hóa đáng quý từ ngàn đời này của xứ Huế thân thương

– Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế

+ Sông Hương với vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính, như “người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” – một người con gái ý thức được vẻ đẹp của mình và rất tình tứ, gợi cảm

* Sử dụng hàng loạt các động từ liên tiếp “chuyển dòng một cách liên tục”, “uốn mình”,…

* Liệt kê hàng loạt các địa danh mà sông Hương chảy qua

+ Sông Hương còn mang vẻ đẹp u tịch, trầm mặc, vẻ đẹp của cổ thi, của những triết lí.

– Sông Hương ở trong lòng thành phố Huế

+ Sông Hương – “một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”: nghệ thuật so sánh làm bất nổi sự khác biệt của sông Hương so với sông Nê-va, sông Xen đó chính là các dòng sông trên thế giới chảy với một lưu tốc rất mạnh thì sông Hương lại chảy nhẹ nhàng, lững lờ, “cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh”.

+ Sông Hương giống như “một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”

+ Sông Hương còn là một người tình rất đỗi thủy chúng và dịu dàng của xứ Huế mộng mơ.

=> Như vậy, với tình yêu say đắm về xứ Huế, về quê hương đất nước và vốn hiểu biết sâu sắc, phong phú của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tái hiện lại một cách chân thực, chi tiết và hấp dẫn thủy trình của sông Hương từ lúc còn ở thượng nguồn đến trước khi ra biển.

b, Sông Hương – dòng sông của lịch sử, của cuộc đời và thi ca

– Sông Hương – dòng sông của lịch sử: sông Hương đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc – có cả những chiến công lẫy lừng và cả những hi sinh mất mát từ thuở dựng nước đến thời kì kháng chiến chống Mĩ.

– Sông Hương – dòng sông cuộc đời:  sông Hương như một người con gái đẹp, dịu dàng của đất nước

– Sông Hương – dòng sông của thi ca

+ Sông Hương là dòng sông đẹp, bởi thế, nó trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca.

+ “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của mỗi người nghệ sĩ”

III. Kết bài

Khái quát những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và nêu cảm nhận của bản thân.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Số 9: Ai đã đặt tên cho dòng sông dàn ý

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Giới thiệu về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích, khái quát nội dung và nghệ thuật)

II. Thân bài

  1. Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương

a) Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn

– Sông Hương như “một bản trường ca của rừng già”: “rầm rộ … màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, “rừng già đã hun đúc … tự do và trong sáng”

=> Từ ngữ tạo hình, gợi tả vẻ đẹp của sông Hương ở vùng thượng nguồn vừa hùng vĩ, man dại vừa trữ tình, say đắm lòng người

– Nhà văn đã khéo léo so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, nhân hóa sông Hương thành một thực thể sống động, có hồn

– Hình ảnh so sánh độc đáo “Sông Hương như người mẹ phú sa của một vùng văn hóa xứ sở”

b) Sông Hương ở ngoại vi thành phố

– Sông Hương trước khi chảy vào thành phố thì “nằm giữa cánh đầu châu hóa đầy hoa dại”

– Vẻ đẹp mơ màng của sông Hương được miêu tả rất rõ nét, có những đường cong mềm mại, quanh co uốn khúc quanh cố đô Huế

– Tác giả dành một tình yêu lớn cho dòng sông. Tình yêu ấy khiến ông mơ màng nhận ra bóng dáng của dòng sông giống như tấm lụa trên có thể người thiếu nữ

c) Vẻ đẹp của sông Hương ở trung tâm thành phố

– Nét đẹp của dòng sông khi chảy vào thành phố có nét khác biệt so với khu chảy ở ngoại ô

– Dòng sông trở nên vui tươi nhưng cũng rất êm dịu, như một điệu slow tình cảm của xứ Huế

– Dòng sông như người con gái tinh tế đánh đàn trong đêm khuya

  1. Cảm nhận vẻ đẹp lịch sử và thơ ca của sông Hương

a) Sông Hương – Dòng sông lịch sử

– Tên của dòng sông được ghi trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi

– Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của xứ Huế, của đất nước:

+ Là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời Đại Việt

+ Thế kỉ XVIII, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân với tên tuổi người anh hùng Nguyễn Huệ

+ Nó đọng lại đến bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thể kỉ XIX”

+ Nó đi vào thời đại của cuộc cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển

+ Nó chứng kiến cuộc tổng tiến công và nổi dậy màu xuân năm 1968

b) Vẻ đẹp của sông Hương dưới góc độ văn hóa

– Tác giả cho rằng đó là một dòng thi ca về sông hương, đó là một dòng sông không bao giờ lặp lại mình

– Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế

* Hình tượng cái tôi tác giả

– Quan sát dòng sông trên nhiều góc đọ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.

– Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.

– Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước

III. Kết bài

– Cảm nhận về văn bản: Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế nói riêng và đất nước nói chung.

Số 10: Dàn ý Ai đã đặt tên cho dòng sông

I. Mở bài

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”.

II. Thân bài

  1. Khái quát:

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.

– Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”.

  1. Phân tích:

a) Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:

– Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:

+ Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”

+ Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -> Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.

+ Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” .

-> Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”.

+ Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”.

+ Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -> Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.

– Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:

+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-> Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.

– Sông Hương và con người Huế:

+ Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.

+ Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:

– Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -> Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:

+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -> Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.

=> Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:

Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.

– Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:

+ Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…

+ Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -> Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.

– Sông Hương _ dòng sông thi ca:

+ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.

+ Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…

=> Bằng vốn kiến văn phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”

b) Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:

– Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.

– Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.

– Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

III. Kết bài

– Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.

Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tổng kết

Trên đây là tổng hợp đầy đủ Top 10 mẫu dàn ý bài Ai đã đặt tên cho dòng sông chi tiết nhất đến các bạn học sinh chuẩn bị cho các kì thi. Top 10 Tìm Kiếm hy vọng đã mang đến bài viết bổ ích, giúp cũng cố kiến thức cho các bạn học sinh lớp 12.

0/5 (0 Reviews)
Chúng tôi tạo ra Top10timkiem.vn nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin, liệt kê một cách chi tiết nhất về mọi lĩnh vực trong cuộc sống.